Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng

Ngân hàng
Rate this post

Dưới đây Thuctaptotnghiep chia sẻ cho các bạn về Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng chọn lọc từ các bài điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài báo cáo thực tập kế toán. Các bạn tham khảo các mẫu dưới đây để hoàn thành thật tốt bài làm của mình nha.

Lưu ý: Trong quá trình làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp, nếu các bạn gặp khó khăn về đề tài hay chưa có công ty thực tập các bạn có thể liên hệ với dịch vụ làm báo cáo thực tập trọn gói qua:

SĐT  / Zalo: https://zalo.me/0934536149


THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX PGD NƠ TRANG LONG

1.1.Những quy định chung trong hoạt động huy động vốn của Ngân hàng

1.1.1.Điều kiện khi khách hàng giao dịch Tiền gửi tiết kiệm tại PGBANK

  • Khách hàng là cá nhân:
  • Cá nhân Việt nam, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt nam (khi gửi tiết kiệm bằng VND)
  • Người cư trú là cá nhân Việt nam (khi gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ)
  • Là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự nước Việt nam.
  • Khách hàng tiền gửi là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự chỉ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm thông qua Người giám hộ.
  • Khách hàng là Doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp theo quy định của nước Việt nam.

1.1.2.Số tiền gửi

Số tiền gửi tối thiểu:

Khách hàng cá nhân: 500.000VND; 5USD hoặc ngoại tệ khác tương đương.

Khách hàng doanh nghiệp: 1.000.000VND hoặc 20USD hoặc ngoại tệ khác tương đương.

Không quy định số tiền gửi tối đa

1.1.3.Thủ tục thực hiện giao dịch

Khách hàng cá nhân: Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực.

Khách hàng doanh nghiệp: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, mẫu dấu doanh nghiệp, Quyết định bổ nhiệm.

1.1.3.Các quy định khác

Các quy định khác về kỳ hạn, lãi suất, hình thức lĩnh lãi, rút vốn trước hạn, ủy quyền, chuyện nhượng, đồng sở hữu,… tùy thuộc vào từng sản phẩm cụ thể do PGBANK quy định.

1.2.Các sản phẩm tiền gửi

1.2.1.Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân.
  • Kỳ hạn gửi: Không kỳ hạn.
  • Loại tiền gửi: VND, ngoại tệ PGBANK niêm yết.
  • Số tiền gửi tối thiểu: 500.000 VND; 50 USD, ngoại tệ khác có giá trị quy đổi tương đương.
  • Khi KH đến gửi tiền thì PGBANK phải mở Thẻ tiết kiệm để theo dõi nhưng không ghi lãi suất lên Thẻ tiết kiệm này.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của Sản phẩm do PGBANK công bố trong từng thời kỳ.
  • Cách thức trả lãi: Tiền lãi tự động nhập vào vốn hàng tháng hoặc vào ngày rút hết số dư tài khoản TGTK không kỳ hạn và thường tính lãi theo nhóm ngày gửi tiền.
  • Rút tiền: KH có thể rút một phần hoặc toàn bộ số. KH phải trả phí kiểm điếm theo quy định của PGBANK.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Linh hoạt trong việc sử dụng vốn.
  • Tài khoản có tính thanh khoản cao.

1.2.2.Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng cá nhân sử dụng với  mục đích tiết kiệm và được hưởng lãi suất.

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân.
  • Kỳ hạn gửi: Từ 01 tháng đến 36 tháng .
  • Loại tiền gửi: VND và ngoại tệ PGBANK niêm yết.
  • Số tiền gửi tối thiểu: 500.000 đồng, 50 USD hoặc ngoại tệ khác có giá trị quy đổi tương đương.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của Sản phẩm do PGBANK công bố trong từng thời kỳ. Ở những kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, khách hàng được hưởng một số chính sách cộng thêm lãi suất nếu thỏa điều kiện như: Chính sách khách hàng “Trung niên cao tuổi”, chính sách “khách hàng VIP”, chính sách “Tiện ích song hành”,…
  • Cách thức trả lãi: Tiền lãi tự động nhập vào vốn hàng tháng hoặc vào ngày rút hết số dư.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Thuận tiện trong giao dịch.
  • Thủ tục nhanh chóng, đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, giỏi nghiệp vụ, hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo.

4.2.3.Tiết kiệm Phú Quý

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân gửi VND.
  • Kỳ hạn gửi: Từ 6 tháng đến 12 tháng.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của sản phẩm do PGBANK công bố trong từng thời kỳ. Ngoài ra khách hàng còn được hưởng ưu đãi cộng thêm lãi suất nếu thỏa điều kiện các chính sách: Trung niên cao tuổi, Tiện ích song hành, khách hàng VIP.
  • Hình thức lĩnh lãi: hàng tháng hoặc cuối kỳ.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Khách hàng có thể đăng ký kỳ hạn kéo dài thêm 12 tháng vào bất kỳ thời điểm nào sau khi gửi và trước khi Thẻ tiết kiệm đến hạn với lãi suất bằng lãi suất tiền gửi thông thường do PGBANK công bố tại thời điểm đến hạn của Kỳ hạn ban đầu + Biên độ 0,3%/năm.
  • Khách hàng được rút vốn một phần hoặc toàn bộ trước hạn.
  • Khách hàng được thực hiện vay cầm cố sổ tiết kiệm.

4.2.4.Tiết kiệm Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân gửi VND.
  • Kỳ hạn gửi: 13, 15, 18, 24 và 36 tháng.
  • Số tiền gửi tối thiểu: 5.000.000 VND.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của sản phẩm do PGBANK công bố trong từng thời kỳ. Ngoài ra khách hàng còn được hưởng ưu đãi cộng thêm lãi suất nếu thỏa điều kiện các chính sách: Trung niên cao tuổi, Tiện ích song hành, khách hàng VIP.
  • Hình thức lĩnh lãi: lĩnh lãi cuối kỳ.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Khách hàng được rút vốn một phần hoặc toàn bộ trước hạn.
  • Khách hàng được thực hiện vay cầm cố sổ tiết kiệm.

Xem thêm: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng

Xem thêm: Kiến Nghị Giải Pháp huy động vốn tại ngân hàng

1.3.Thực trạng huy động vốn tại PGBANK – PGD Nơ Trang Long

1.3.1.Tình hình nguồn vốn huy động tại PGBANK – PGD Nơ Trang Long

Bảng 1.1. Quy mô nguồn vốn huy động giai đoạn 2015 – 2017

(Đơn vị tính: Triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 So sánh 2016/2015 So sánh 2017/2016
+/- % +/- %
Tổng nguồn VHĐ 3.129,74 4.002,08 4.454,02 872,34 27,87 451,94 11,29

Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động giai đoạn 2015 – 2017

Nhận xét:

Tổng nguồn vốn tăng qua các năm thấy năm 2016 tăng 27,87% so với năm 2015 tương đương tăng 873,34 triệu đồng, năm 2017 tăng 451,94 triệu đồng tương ứng tỷ lệ tăng 11,29% so với năm trước.

Nhìn vào biểu đồ ta thấy quy mô nguồn vốn của PGD Nơ Trang Long tương đối lớn với tốc độ tăng trưởng khá ổn định chứng tỏ công tác huy động vốn có hiệu quả. Điều này càng giúp cho PGD giữ vững vị thế và vai trò của mình đối với PGBANK. Cung ứng được những nguồn vốn cho sự phát triển và mở rộng hoạt động của PGD. Qua đó, cho thấy Ngân hàng đã có những chính sách để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế để đảm bảo hoạt động kinh doanh cho PGD, làm giảm sự phụ thuộc của mình vào Hội Sở về nguồn vốn kinh doanh.

1.3.2.Cơ cấu nguồn vốn huy động tại PGBANK – PGD Nơ Trang Long

Trong những năm gần đây, trước diễn biến phức tạp của thị trường vốn và sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM, PGD Nơ Trang Long luôn giữ vững nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu và xuyên suốt đó là công tác huy động vốn. PGD đã chủ động trong công tác tiếp thị, đổi mới phong cách giao dịch, chủ động tìm kiếm khách hàng. Không những vậy, PGBANK còn thực hiện những điều chỉnh lãi suất phù hợp với mặt bằng lãi suất, điều chỉnh nguồn vốn theo hướng ổn định lâu dài và giảm giá thành. Kết quả huy động vốn được thể hiện như sau:

  • Cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền

Bảng 1.2. Cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền giai đoạn 2015-2017

(Đơn vị tính: Triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
VND 1.905,07 60,87 3.810,38 95,21 4.313,72 96,85
Ngoại tệ và vàng 1.224,67 39,13 191,70 4,79 140,30 3,15
Tổng 3.129,74 100 4.002,08 100 4.454,02 100

 Qua giai đoạn 2015 – 2017 ta thấy lượng vốn huy động này chủ yếu từ VND. Theo đó, tỷ trọng vốn nội tệ chiếm trên 80% trong tổng vốn TGTK, nguồn vốn ngoại tệ chiếm một tỷ lệ trung bình chưa đến 30% trong cơ cấu.

Vốn TGTK bằng ngoại tệ và vàng: Năm 2016 số vốn huy động được bằng ngoại tệ  và vàng là 191,7 triệu đồng giảm mạnh so với năm 2015, tỷ trọng từ 39,13% giảm còn 4,79%, Năm 2017, số vốn huy động giảm còn 140,3 triệu đồng tương ứng tỷ trọng giảm xuống và rất nhỏ so với tổng nguồn vốn huy động được còn 3,15% trong tổng số vốn huy động được. Sự không tăng trưởng này cho thấy khả năng huy động vốn ngoại tệ và vàng của PGD Nơ Trang Long đã kém hơn so với năm 2015, đòi hỏi PGD Nơ Trang Long phải có sự điều chỉnh trong chính sách huy động vốn bằng ngoại tệ để thu hút được lượng vốn bằng ngoại tệ nhiều hơn..

Qua đó cho thấy huy động vốn bằng VND là một ưu thế lớn của PGD Nơ Trang Long. Trong cơ cấu nguồn vốn, vốn VND luôn có tỷ trọng lớn hơn vốn ngoại tệ và vàng.

  • Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn

Bảng 1.3.Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn 2015-2017

(Đơn vị tính: Triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
1 – 3 tháng 1.502,28 48% 2.041,06 51% 2.316,09 52%
4 – 6 tháng 938,92 30% 1.200,62 30% 1.291,67 29%
7 – 12 tháng 281,68 9% 360,19 9% 356,32 8%
Trên 12 tháng 406,87 13% 400,21 10% 489,94 11%
Tổng 3.129,74 100% 4.002,08 100% 4.454,02 100%

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán PGBANK – PGD Nơ Trang Long)

Giai đoạn 2015 – 2017, công tác huy động vốn của PGD Nơ Trang Long đã có hiệu quả hơn so với những năm trước thể hiện mức độ tín nhiệm ngày càng cao của khách hàng đối với Ngân hàng. Trong cơ cấu TGTK theo kỳ hạn của PGD thì TGTK có kỳ hạn chiếm trọng tỷ lệ 100% , trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là tiền gửi có kỳ hạn từ 1 – 3 tháng. Tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn 1 – 3 tháng tăng đều qua các năm và chiếm một tỷ trọng khoảng gần một nửa số lượng nguồn vốn huy động được. Do PGD nằm trong khu vực có nhiều cửa hàng và hộ kinh doanh nên phần lớn nhu cầu về tiền của họ biến đổi liên tục. Do đó những khách hàng này thường lựa chọn gửi tiết kiệm với kỳ hạn ngắn để thuận tiện cho nhu cầu vốn liên tục. Trong khi đó tiền gửi có kỳ hạn dài hơn như 4 – 6 tháng, 7 – 12 tháng và trên 12 tháng vẫn giữ mức tỷ lệ gần như là cố định qua các năm.

  • Cơ cấu nguồn vốn huy động theo sản phẩm

Bảng 1.4. Cơ cấu nguồn vốn huy động theo sản phẩm giai đoạn 2015-2017

(ĐVT:Triệu đồng)

Sản phẩm Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
Tiết kiệm thông thường 2.109,44 67,40 2.841,48 71 3.171,26 71,20
Tiết kiệm Phú Quý 613,43 19,60 760,40 19 792,82 17,80
Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng 406,87 13 400,21 10 489,94 11
Tổng 3.129,74 100 4.002,08 100 4.454,02 100

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán PGBANK – PGD Nơ Trang Long)

Từ biểu đồ ta thấy, nguồn vốn huy động theo sản phẩm của PGD Nơ Trang Long biến động không đồng đều qua các năm từ 2015 – 2017. Chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu là tiết kiệm thông thường. Năm 2015 tổng số huy động cho sản phẩm này là 2.109,44 triệu đồng chiếm 67,4% trong cơ cấu. Đến năm 2016 con số này tăng lên 2.841,48 triệu đồng do trong năm nay tổng lượng huy động của PGD cũng tăng đáng kể. Đến năm 2017 sản phẩm này tăng lượng huy động lên 3.171,26 triệu đồng. Bên cạnh đó, sản phẩm “Tiết kiệm Phú Quý” cũng có những biến động tương tự. Năm 2013 đạt 613,43 triệu đồng đến năm 2016 tăng lên 760,39 triệu đồng và năm 2017 tăng lên 792,82 triệu đồng. Trong khi đó tỷ trọng của sản phẩm này lại giảm qua các năm. Tương tự đối với sản phẩm “Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng” năm 2015 đạt 406,87 triệu đồng nhưng đến năm 2016 chỉ còn 400,21 triệu đồng và đến 2017 tăng lên 489,94 triệu đồng.

Như phân tích ở trên, do lãi suất được điều chỉnh giảm liên tục nên khách hàng sử dụng sản phẩm “Tiết kiệm Phú Quý” có hai nhu cầu lựa chọn sản phẩm. Đối với khách hàng có nhu cầu vốn linh động sẽ chọn gửi tiết kiệm với sản phẩm “Tiết kiệm thông thường”, còn đối với khách hàng ít có nhu cầu sử dụng vốn và lo ngại lãi suất tiếp tục giảm sẽ chọn sản phẩm “Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng”. Chính điều đó đã làm cho tỷ trọng của hai sản phẩm này có xu hướng tăng lên trong khi “Tiết kiệm Phú Quý” lại có xu hướng giảm xuống.

1.3.3.Đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn tại PGBANK – PGD Nơ Trang Long theo các chỉ tiêu

Bảng 1.5.Chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn tại PGD Nơ Trang Long

Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Tổng vốn huy động 3.129,74 4.002,08 4.454,02
VHĐ có kỳ hạn 3.129,74 4.002,08 4.454,02
Tổng chi phí 34.505,04 38.190,52 41.865,59
Chi phí huy động vốn 24.705,61 28.448,12 38.390,75
Chi phí HĐV /Tổng chi phí 71,6% 74,49% 91,7%

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán tại PGBANK – PGD Nơ Trang Long)

Theo bảng chỉ tiêu đánh giá hoạt động tại PGD Nơ Trang Long ta nhận thấy:

Tỷ số vốn huy động trên tổng nguồn vốn: tỷ lệ này là 100% qua các năm. Do PGD là đơn vị hoạt động phụ thuộc nên nguồn vốn chủ yếu là nguồn vốn huy động. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động của PGD ngày càng tăng, điều đó cho thấy PGD hoạt động ngày càng có hiệu quả.

Tỷ số vốn huy động có kỳ hạn trên tổng vốn huy động: Nhiệm vụ của PGD Nơ Trang Long là huy động vốn nhàn rỗi của người dân thông qua hình thức gửi tiết kiệm nên tỷ lệ này rất cao.

Tỷ số chi phí huy động vốn trên tổng chi phí: Chi phí hoạt động của PGD rất đa dạng từ chi phí phát sinh từ công tác huy động đến các chi phí phục vụ cho hoạt động của PGD. Tất cả được cộng dồn và được thể hiện trong bảng cân đối kế toán của PGD Nơ Trang Long. Tuy nhiên, chi phí của PGD chủ yếu là phần chi phí trã lãi cho tiền gửi tiết kiệm. Như bảng 2.5 ta thấy rằng tỷ số chi phí huy động vốn trên tổng chi phí của PGD Nơ Trang Long đang có xu hướng tăng.

Tính ổn định của nguồn vốn: Như phân tích ở trên, PGD đang có quy mô, tốc độ tăng trưởng cũng như cơ cấu nguồn vốn huy động đều tăng theo thời gian rất ổn định và đạt được theo quy mô mà kế hoạch đã đề ra. Nguồn vốn tăng đều qua các năm, đạt mục tiêu về nguồn vốn đặt ra và có độ gia tăng đều đặn là nguồn vốn tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên nguồn vốn có kỳ hạn ngắn còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn.

Khối lượng vốn huy động ngày càng tăng chứng tỏ quy mô vốn ngày càng lớn và PGD hoạt động ngày càng hiệu quả hơn. Điều đó sẽ tạo điều kiện cho PGD mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.

1.4.Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn tại Ngân Hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex – PGD Nơ Trang Long

1.4.1.Chiến lược kinh doanh

Mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh cụ thể. Chiến lược kinh doanh được xây dựng dựa trên việc ngân hàng xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đồng thời dự đoán được sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai. Thông qua chiến lược kinh doanh Ngân hàng sẽ có thể quyết định thu hẹp hay mở rộng việc huy động vốn về mặt quy mô, có thể thay đổi tỷ lệ các loại nguồn, tăng hay giảm chi phí huy động. Với tác dụng to lớn như vậy, nếu chiến lược kinh doanh được lựa chọn đúng đắn, các nguồn vốn được khai thác một cách tối đa thì công tác huy động vốn sẽ phát huy được hiệu quả.

1 .4.2.Chính sách pháp lý

Theo quy định hiện nay của NHNN, trần lãi suất huy động bằng tiền đồng đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng mà các ngân hàng được áp dụng là 5,5%/năm. Lãi suất huy động tiền gửi bằng đô la Mỹ là 0%/năm đối với cả khách hàng cá nhân và tổ chức.

Các TCTD phải chấp hành đúng quy định của NHNN về mức lãi suất huy động được quy định tại Thông tư 06/2015/TT-NHNN, Thông tư 07/2015/TT-NHNN, Quyết định số 2173/QĐ-NHNN và Quyết định số 2589/QĐ-NHNN. NHNN yêu cầu các TCTD không áp dụng các biện pháp kỹ thuật để lách, vượt trần lãi suất huy động. NHNN nghiêm cấm các TCTD cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn.

Triển khai định hướng điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ đã được Thống đốc NHNN cụ thể hóa cho ngành Ngân hàng tại Chỉ thị số 04/CT-NHNN ngày 27/5/2017 tiết giảm chi phí để phấn đấu cắt giảm lãi suất cho vay qua đó hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế. Vì thế, nhiều tổ chức tín dụng quy mô lớn điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Việc trần lãi suất liên tục giảm làm cho lãi suất của PGBANK cũng liên tục giảm theo chính sách của NHNN. Điều này đã gây ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn tại PGD Nơ Trang Long.

1.4.3.Môi trường hoạt động

Mặc dù tọa lạc trên con đường thương mại nhộn nhịp, dân cư đông đúc, người dân có thu nhập khá cao và thường xuyên rất thuận lợi cho hoạt động huy động vốn nhưng PGD Nơ Trang Long gặp không ít khó khăn do phải cạnh tranh với rất nhiều Ngân hàng có tên tuổi và lớn mạnh trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, tiền thân của PGD Nơ Trang Long là Hội sở chính của PGBANK trước khi hợp nhất nên PGD có một lượng khách trung thành nhất định, đây cũng là ưu thế của PGD trong việc huy động vốn.

1.4.4.Uy tín Ngân hàng

PGBANK là Ngân hàng tiên phong trong việc hợp nhất giữa ba Ngân hàng TMCP, điều này làm cho người dân không tránh khỏi những suy nghĩ tiêu cực dẫn đến uy tín của Ngân hàng bị sụt giảm. Khách hàng vẫn còn lo sợ đến độ an toàn khi gửi khoản tiền tiết kiệm tại PGBANK hoặc thậm chí khách hàng có xu hướng rút tiền để chuyển sang gửi tại những Ngân hàng có vốn Nhà nước.

Bên cạnh đó, thương hiệu của PGBANK chưa mang tính rộng khắp, nhận diện thương hiệu của người dân còn chưa tốt: Khách hàng thường hay nhầm lẫn PGBANK là Sacombank hoặc SHB hoặc Standard Chartered Bank.

Chính những điều này đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động huy động của PGBANK nói chung và PGD Nơ Trang Long nói riêng..

1.4.5.Trình độ công nghệ

PGD Nơ Trang Long được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị tiên tiến phục vụ cho hoạt động của PGD. Các thiết bị điện, nước, máy lạnh, máy in, máy fax, máy photocopy, máy tính, máy đếm tiền, máy đóng bó tiền và các thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ và ngày càng hiện đại.

1.4.6.Năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp của Nhân viên PGD Nơ Trang Long

Tiền thân của PGD Nơ Trang Long là Hội sở chính của PGBANK trước khi hợp nhất và chuyển về địa chỉ 927 Trần Hưng Đạo, P.1, Q.5, Tp.HCM  như bây giờ. Vì vậy, PGD Nơ Trang Long thừa hưởng đội ngũ Nhân viên với chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, nắm chắc các quy trình giao dịch với KH dẫn đến thực hiện giao dịch với khách hàng chính xác, nhanh chóng và hiệu quả.

Thái độ phục vụ rất chuyên nghiệp, năng động, nhiệt tình, ân cần và vui vẻ.

Nhân viên thường xuyên được tham gia đào tạo bởi các lớp học bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ và chăm sóc khách hàng.

Yếu tố khiến khách hàng gắn bó với PGD Nơ Trang Long vì sự hài lòng trong cách phục vụ của nhân viên. Và chính điều này đã làm tăng hiệu quả huy động vốn tại PGD.

1.5.Nhận xét

1.5.1.Những kết quả đạt được

Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động, diễn biến phức tạp của tình hình lạm phát cũng tác động không nhỏ đến hoạt động Ngân hàng nhưng với sự cố gắng nỗ lực không biết mệt mỏi của toàn thể Ban lãnh đạo cùng nhân viên thì trong thời gian qua PGD Nơ Trang Long đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong công tác huy động vốn cụ thể như sau:

Nguồn vốn huy động tăng trưởng nhanh cả về qui mô lẫn tốc độ. Từng bước cải thiện cơ cấu vốn theo hướng hợp lý hơn, tạo sự phù hợp giữa huy động và sử dụng vốn. Có được điều này là do sự nỗ lực của toàn PGD Nơ Trang Long luôn coi trọng công tác huy động vốn, PGD luôn xác định nguồn vốn huy động được là nguồn vốn kinh doanh chủ yếu duy trì hoạt động của Ngân hàng, cùng với đó là hàng loạt biện pháp tích cực được chi nhánh sử dụng trong công tác huy động vốn như: lãi suất huy động linh hoạt hấp dẫn, không ngừng đổi mới và hoàn thiện các dịch vụ chăm sóc khách hàng…

Cơ cấu vốn theo loại tiền tương đối hợp lý và ổn định: Qua số liệu phân tích tình hình huy động của PGD trong một vài năm qua ta thấy tỉ trọng các nguồn vốn  huy động theo loại tiền ít thay đổi và tỉ trọng này là khá hợp lý so với tình hình hoạt động của PGD. Điều này chứng tỏ PGD đã cố gắng rất nhiều trong hoạt động huy động vốn.

Tạo được mối quan hệ gắn bó, sâu sắc và uy tín với khách hàng. Điều này thể hiện ở chỗ nhiều khách hàng đã gắn bó lâu dài và trở thành khách hàng VIP của PGD.

PGBANK phát triển nhiều sản phẩm, dịch vụ mới trong năm 2016 và năm 2017 để đáp ứng nhu cầu của khách hàng như tiền gửi tích lũy, tiết kiệm phú quý, tiết kiệm Online… Ngoài ra PGBANK cũng chú trọng phát triển sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng hiện đại nhằm tiết giảm thời gian giao dịch của khách hàng thông qua các tiện ích thanh toán như dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Mobile Banking) hay qua mạng Internet (Internet Banking), thanh toán hóa đơn tiền điện, tiền nước, cước Internet, cước điện thoại thông qua điện thoại di động và thông qua website của PGBANK.

1.5.2.Những hạn chế tồn tại

Hoạt động kinh doanh của PGD được thực hiện trong một môi trường cạnh tranh hết sức gay gắt, với một địa bàn nhỏ nhưng có rất nhiều Ngân hàng cùng tồn tại. Vì thế làm cho thị phần tiền gửi tiết kiệm của PGD bị san sẻ cho các Ngân hàng khác, điều đó đã gây không ít khó khăn trong hoạt động huy động vốn của PGD. Trong hoàn cảnh đó, PGD chưa có biện pháp tăng cường huy động vốn cụ thể nên mặc dù lượng vốn huy động qua các năm có tăng nhưng chỉ tăng nhẹ. Chính vì thế PGD cần đẩy nhanh tốc độ huy động vốn bằng chiến lược cụ thể để nâng cao hiệu quả huy động vốn hơn nữa.

Kinh doanh ngoại tệ và vàng chưa hiệu quả: Tình hình huy động vốn bằng ngoại tệ của PGD Nơ Trang Long chưa thực sự được đẩy mạnh, hoạt động kinh doanh ngoại tệ không phong phú. Vẫn còn khá nhiều chỉ tiêu âm về một số loại hình tiết kiệm, cho vay ngắn hạn và đặc biệt là nguồn thu từ tiền gửi thanh toán bằng ngoại tệ, đòi hỏi Ngân hàng cần có nhiều chính sách phù hợp hơn nữa đáp ứng được xu hướng chung hiện nay, đảm bảo phát triển bền vững cho PGD Nơ Trang Long.

Xem thêm: Lời kết luận huy động vốn tại ngân hàng


THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN NGÂN HÀNG TMCP SG THƯƠNG TÍN ( CHI NHÁNH GÒ VẤP )

2.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (SCB)

2.1.1. Đôi nét về lịch sử hình thành và phát triển

2.1.1.1. Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

  • Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín
  • Tên tiếng anh: SAIGON THUONG TIN COMMERCIAL JOINT STOCK BANK
  • Tên giao dịch: Sacombank
  • Vốn điều lệ: 18.852.151.160.000 đồng (tại thời điểm 31/12/2018)
  • Được thành lập theo quyết định số 005/GP-UB ngày 03/01/1992 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh và hoạt động theo quyết định số 006/NH-GP ngày 05/12/1991 của NHNN Việt Nam.
  • Mã số doanh nghiệp: 0301103908
  • Chủ tịch hội đồng quản trị: ông Dương Công Minh
  • Tổng giám đốc: bà Nguyễn Đức Thạch Diễm
  • Trụ sở chính: 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, TP. HCM.
  • Điện thoại: +84 283 9320 420
  • Email: info@sacombank.com
  • Website: www.sacombank.com.vn

2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín được thành lập ngày 21/12/1991 khi hợp nhất bốn hợp tác xã: Gò Vấp, Tân Bình, Thành Công và Lữ Gia, là một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên được thành lập tại TP. HCM với vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng.

Sau hơn 25 năm hình thành và phát triển thì đến nay ngân hàng đã phát triển lớn mạnh theo mô hình ngân hàng bán lẻ với mạnh lưới hoạt động rộng khắp cả nước và mở rộng sang các nước Đông Dương gồm 564 điểm giao dịch trong đó có 109 chi nhánh, 432 PGD, 11 quỹ tiết kiệm trong nước, 1 ngân hàng con 100% vốn, 2 chi nhánh, 1 PGD tại Lào, 1 ngân hàng con 100% vốn, 7 chi nhánh tại Campuchia, đội ngũ nhân viên với hơn 17.000 cán bộ nhân viên trẻ, năng động, sáng tạo.

Được sự chấp thuận của NHNN, ngày 06/06/2006 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đã tiến hành niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến thời điểm 31/12/2018, với mức vốn điều lệ vào khoảng 18.900 tỷ đồng, Sacombank đang là nhóm 5 NHTM lớn nhất Việt Nam về vốn điều lệ, mạng lưới hoạt động cũng như về tốc độ tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh.

2.1.2. Tầm nhìn – Sứ mệnh – Giá trị cốt lõi

  • Trở thành ngân hàng bán lẻ hiện đại và đa năng hàng đầu khu vực.
  • Tối ưu giải pháp tài chính trọn gói, hiện đại và đa tiện ích cho khách hàng.
  • Tối đa hóa giá trị gia tăng cho đối tác, nhà đầu tư và cổ đông.
  • Mang lại giá trị về nghề nghiệp và sự thịnh vượng cho cán bộ nhân viên.
  • Đồng hành cùng sự phát triển chung của cộng đồng xã hội.
  • Tiên phong mở đường và mạnh dạn đương đầu vượt qua những thách thức để tiếp nối những thành công.
  • Đổi mới và năng động để phát triển vững bền.
  • Cam kết chất lượng là nguyên tắc ứng xử của mỗi thành viên trong phục vụ khách hàng và quan hệ đối tác.
  • Tạo dựng sự khác biệt bằng tính đột phá sáng tạo trong kinh doanh và quản trị điều hành.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức

2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển– Chi nhánh Gò Vấp.

  • Thoát khỏi sự khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997, nền kinh tế dần hồi phục, VN dần hé mở cửa, giao lưu, thu hút đầu tư, khách du lịch từ nước ngoài. Hòa cùng nhịp sống sôi động, trẻ trung, năng động của thành phố, dân số ngày càng tăng, nhu cầu tiêu dung, sinh hoạt của người Sài Gòn càng cao. Trong khi nguồn vốn cung cấp thì quá nhỏ so với nhu cầu không giới hạn. Do đó SCB – CN Gò Vấp ra đời là rất cần thiết đối với hệ thống SCB nói riêng mà còn góp phần bơm thêm vốn và làm bớt tình trạng căng thẳng vốn của nền kinh tế.
  • SCB – CN Gò Vấp ra đời vào ngày 07/06/2002 tọa lạc tại 2-94-96-98 Nguyễn Oanh, Phường 7, Quận Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh · Số điện thoại: 028 3894 3648
  • Từ khi thành lập đến nay, CN Gò Vấp liên tục đạt tốc độ tăng trưởng về số lượng khách hàng lẫn chất lượng dịch vụ. CN Gò Vấp luôn xác định mục tiêu hoạt động là thu hút tiền nhàn rỗi trong công chúng để cung ứng vốn cho hoạt động tín dụng, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp các dịch vụ NH hiện đại, tạo tiện ích cho khách hàng.

2.1.2. Chức năng và lĩnh vực hoạt động

  • Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn với các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi.
  • Tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển, vay vốn các tổ chức tín dụng khác.
  • Cho vay ngắn, trung và dài hạn.
  • Chiết khấu thương phiếu, cổ phiếu và giấy tờ có giá.
  • Hùn vốn liên doanh.
  • Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
  • Dịch vụ cầm đồ.
  • Phát hành thẻ nội địa Sacombank Card.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức

Chức năng các phòng ban.

  • Ban giám đốc:
  • Đây là bộ phận đứng đầu trong hoạt động CN bao gồm Giám đốc thay thế nhau trong việc kiểm tra mọi hoạt động NH ở từng phòng ban.
  • Chỉ đạo thực hiện khi có thắc mắc của nhân viên, chịu trách nhiệm trong nội bộ CN, đưa ra chiến lược mục tiêu cho CN và chuyển giao thông tin nội bộ từ hội sở để CN thực hiện.
  • Những vấn đề phát sinh vượt qua quyền hạn của các phòng ban thì Ban giám đốc sẽ cùng giải quyết đưa ra biện pháp tốt nhất có lợi cho NH vừa có lợi cho khách hàng.
  • Phòng kinh doanh:
  • Bộ phận tín dụng:
  • +    Nghiên cứu xây dựng chiến lược của CN Gò Vấp.
  • +    Thẩm định và đề xuất cho vay các dự án, hoàn thiện hồ sơ trình hội sở khi vượt mức phán quyết.
  • +    Phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và đề xuất cách khắc phục.
  • +    Giúp Giám đốc CN chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tín dụng của CN trực thuộc (bao gồm phòng giao dịch).
  • Bộ phận thanh toán quốc tế:
  • +    Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán quốc tế bao gồm: T/T, nhờ thu, L/C… và thực hiện các hợp đồng bán ngoại tệ.
  • Phòng kế toán:
  • Trực tiếp hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, huy động tiền gửi, thẻ, kiều hối theo quy định của NHNN và của SCB.
  • Xây dựng chỉ tiêu tài chính, quyết toán kế hoạch thu chi tài chính, quỹ tiền lương.
  • Thực hiện các khoản nộp ngân sách Nhà Nước theo quy định.
  • Chấp hành chế độ báo cáo và kiểm tra chuyên đề.
  • Phòng ngân quỹ:
  • Thực hiện công tác an toàn kho quỹ.
  • Kiểm đếm và phân loại tiền đủ tiêu chuẩn đưa vào lưu thông.
  • Phân biệt và lập biên bản thu hồi tiền giả báo cơ quan chức năng.
  • Bảo quản xuất nhập các chứng chỉ, giấy tờ có giá thế chấp, cầm cố tại kho NH
  • Phòng hành chính:
  • Thực hiện công tác hành chính, văn thư, lễ tân, phương tiện giao thông bảo vệ, y tế của CN.
  • Xây dựng cơ bản, sửa chữa tài sản cố định, mua sắm công cụ lao động.
  • Thực hiện công tác tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị theo chỉ đạo của Giám đốc.
  • Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho CBCNV

2.2.Thực trạng huy động vốn tại SCB – CN Gò Vấp

2.2.1.Những quy định chung trong hoạt động huy động vốn của SCB

2.2.1.1.Điều kiện khi khách hàng giao dịch Tiền gửi tiết kiệm tại SCB

  • Khách hàng là cá nhân:
  • Cá nhân Việt nam, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt nam (khi gửi tiết kiệm bằng VND)
  • Người cư trú là cá nhân Việt nam (khi gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ)
  • Là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự nước Việt nam.
  • Khách hàng tiền gửi là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự chỉ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm thông qua Người giám hộ.
  • Khách hàng là Doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp theo quy định của nước Việt nam.

2.2.1.2.Số tiền gửi

  • Số tiền gửi tối thiểu:
  • Khách hàng cá nhân: 500.000VND; 5USD hoặc ngoại tệ khác tương đương.
  • Khách hàng doanh nghiệp: 1.000.000VND hoặc 20USD hoặc ngoại tệ khác tương đương.
  • Không quy định số tiền gửi tối đa

2.2.1.3.Thủ tục thực hiện giao dịch

  • Khách hàng cá nhân: Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực.
  • Khách hàng doanh nghiệp: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, mẫu dấu doanh nghiệp, Quyết định bổ nhiệm.

2.2.1.4.Các quy định khác

Các quy định khác về kỳ hạn, lãi suất, hình thức lĩnh lãi, rút vốn trước hạn, ủy quyền, chuyện nhượng, đồng sở hữu,… tùy thuộc vào từng sản phẩm cụ thể do SCB quy định.

2.2.2. Các sản phẩm tiền gửi

2.2.2.1.Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân.
  • Kỳ hạn gửi: Không kỳ hạn.
  • Loại tiền gửi: VND, ngoại tệ SCB niêm yết.
  • Số tiền gửi tối thiểu: 500.000 VND; 50 USD, ngoại tệ khác có giá trị quy đổi tương đương.
  • Khi KH đến gửi tiền thì SCB phải mở Thẻ tiết kiệm để theo dõi nhưng không ghi lãi suất lên Thẻ tiết kiệm này.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của Sản phẩm do SCB công bố trong từng thời kỳ.
  • Cách thức trả lãi: Tiền lãi tự động nhập vào vốn hàng tháng hoặc vào ngày rút hết số dư tài khoản TGTK không kỳ hạn và thường tính lãi theo nhóm ngày gửi tiền.
  • Rút tiền: KH có thể rút một phần hoặc toàn bộ số. KH phải trả phí kiểm điếm theo quy định của SCB.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Linh hoạt trong việc sử dụng vốn.
  • Tài khoản có tính thanh khoản cao.

2.2.2.2.Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng cá nhân sử dụng với mục đích tiết kiệm và được hưởng lãi suất.

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân.
  • Kỳ hạn gửi: Từ 01 tháng đến 36 tháng .
  • Loại tiền gửi: VND và ngoại tệ SCB niêm yết.
  • Số tiền gửi tối thiểu: 500.000 đồng, 50 USD hoặc ngoại tệ khác có giá trị quy đổi tương đương.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của Sản phẩm do SCB công bố trong từng thời kỳ. Ở những kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, khách hàng được hưởng một số chính sách cộng thêm lãi suất nếu thỏa điều kiện như: Chính sách khách hàng “Trung niên cao tuổi”, chính sách “khách hàng VIP”, chính sách “Tiện ích song hành”,…
  • Cách thức trả lãi: Tiền lãi tự động nhập vào vốn hàng tháng hoặc vào ngày rút hết số dư.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Thuận tiện trong giao dịch.
  • Thủ tục nhanh chóng, đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, giỏi nghiệp vụ, hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo.

2.2.2.3.Tiết kiệm Phú Quý

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân gửi VND.
  • Kỳ hạn gửi: Từ 6 tháng đến 12 tháng.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của sản phẩm do SCB công bố trong từng thời kỳ. Ngoài ra khách hàng còn được hưởng ưu đãi cộng thêm lãi suất nếu thỏa điều kiện các chính sách: Trung niên cao tuổi, Tiện ích song hành, khách hàng VIP.
  • Hình thức lĩnh lãi: hàng tháng hoặc cuối kỳ.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Khách hàng có thể đăng ký kỳ hạn kéo dài thêm 12 tháng vào bất kỳ thời điểm nào sau khi gửi và trước khi Thẻ tiết kiệm đến hạn với lãi suất bằng lãi suất tiền gửi thông thường do SCB công bố tại thời điểm đến hạn của Kỳ hạn ban đầu + Biên độ 0,3%/năm.
  • Khách hàng được rút vốn một phần hoặc toàn bộ trước hạn.
  • Khách hàng được thực hiện vay cầm cố sổ tiết kiệm.

2.2.2.4.Tiết kiệm Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân gửi VND.
  • Kỳ hạn gửi: 13, 15, 18, 24 và 36 tháng.
  • Số tiền gửi tối thiểu: 5.000.000 VND.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của sản phẩm do SCB công bố trong từng thời kỳ. Ngoài ra khách hàng còn được hưởng ưu đãi cộng thêm lãi suất nếu thỏa điều kiện các chính sách: Trung niên cao tuổi, Tiện ích song hành, khách hàng VIP.
  • Hình thức lĩnh lãi: lĩnh lãi cuối kỳ.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Khách hàng được rút vốn một phần hoặc toàn bộ trước hạn.
  • Khách hàng được thực hiện vay cầm cố sổ tiết kiệm.

2.2.3. Thực trạng huy động vốn tại SCB – Chi nhánh Gò Vấp

2.2.3.1.Tình hình nguồn vốn huy động tại SCB – Chi nhánh Gò Vấp

Bảng 2.2: Quy mô nguồn vốn huy động giai đoạn 2018 – 2020

(Đơn vị tính: Triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 So sánh 2019/2018 So sánh 2020/2019
+/- % +/- %
Tổng nguồn VHĐ 3.129,74 4.002,08 4.454,02 872,34 27,87 451,94 11,29

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán SCB – Chi nhánh Gò Vấp)

Nhận xét:

Tổng nguồn vốn tăng qua các năm thấy năm 2019 tăng 27,87% so với năm 2018 tương đương tăng 873,34 triệu đồng, năm 2020 tăng 451,94 triệu đồng tương ứng tỷ lệ tăng 11,29% so với năm trước.

Nhìn vào biểu đồ ta thấy quy mô nguồn vốn của Chi nhánh Gò Vấp tương đối lớn với tốc độ tăng trưởng khá ổn định chứng tỏ công tác huy động vốn có hiệu quả. Điều này càng giúp cho chi nhánh giữ vững vị thế và vai trò của mình đối với SCB. Cung ứng được những nguồn vốn cho sự phát triển và mở rộng hoạt động của chi nhánh. Qua đó, cho thấy Ngân hàng đã có những chính sách để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế để đảm bảo hoạt động kinh doanh cho chi nhánh, làm giảm sự phụ thuộc của mình vào Hội Sở về nguồn vốn kinh doanh.

Xem thêm: Lời mở đầu huy động vốn tại ngân hàng

2.3 Cơ cấu nguồn vốn huy động tại SCB – Chi nhánh Gò Vấp

Trong những năm gần đây, trước diễn biến phức tạp của thị trường vốn và sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM, Chi nhánh Gò Vấp luôn giữ vững nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu và xuyên suốt đó là công tác huy động vốn. chi nhánh đã chủ động trong công tác tiếp thị, đổi mới phong cách giao dịch, chủ động tìm kiếm khách hàng. Không những vậy, SCB còn thực hiện những điều chỉnh lãi suất phù hợp với mặt bằng lãi suất, điều chỉnh nguồn vốn theo hướng ổn định lâu dài và giảm giá thành. Kết quả huy động vốn được thể hiện như sau:

  • Cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền

Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền giai đoạn 2018-2020

(Đơn vị tính: Triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
VND 1.905,07 60,87 3.810,38 95,21 4.313,72 96,85
Ngoại tệ và vàng 1.224,67 39,13 191,70 4,79 140,30 3,15
Tổng 3.129,74 100 4.002,08 100 4.454,02 100

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán SCB – Chi nhánh Gò Vấp)

Qua giai đoạn 2018 – 2020 ta thấy lượng vốn huy động này chủ yếu từ VND. Theo đó, tỷ trọng vốn nội tệ chiếm trên 80% trong tổng vốn TGTK, nguồn vốn ngoại tệ chiếm một tỷ lệ trung bình chưa đến 30% trong cơ cấu.

Cơ cấu TGTK theo loại tiền tệ trong giai đoạn 2018 – 2020 thay đổi theo hướng: Vốn tiền gửi bằng nội tệ tăng trưởng liên tục về quy mô. Năm 2019, vốn TGTK bằng nội tệ bằng 3.810,38 triệu đồng, chiếm 95,21% tổng vốn tiền gửi, tăng 1.905,31 triệu đồng so với năm 2018. Vẫn duy trì mức tăng quy mô, năm 2020 Chi nhánh Gò Vấp huy động được 4.313,72 triệu đồng, tăng 503,34 triệu đồng năm 2019.

Vốn TGTK bằng ngoại tệ và vàng: Năm 2019 số vốn huy động được bằng ngoại tệ và vàng là 191,7 triệu đồng giảm mạnh so với năm 2018, tỷ trọng từ 39,13% giảm còn 4,79%, Năm 2020, số vốn huy động giảm còn 140,3 triệu đồng tương ứng tỷ trọng giảm xuống và rất nhỏ so với tổng nguồn vốn huy động được còn 3,15% trong tổng số vốn huy động được. Sự không tăng trưởng này cho thấy khả năng huy động vốn ngoại tệ và vàng của Chi nhánh Gò Vấp đã kém hơn so với năm 2018, đòi hỏi Chi nhánh Gò Vấp phải có sự điều chỉnh trong chính sách huy động vốn bằng ngoại tệ để thu hút được lượng vốn bằng ngoại tệ nhiều hơn..

Qua đó cho thấy huy động vốn bằng VND là một ưu thế lớn của Chi nhánh Gò Vấp. Trong cơ cấu nguồn vốn, vốn VND luôn có tỷ trọng lớn hơn vốn ngoại tệ và vàng.

  • Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn

Bảng 2.4: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn 2018-2020

(Đơn vị tính: Triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
Không kỳ hạn 473,24 12% 547,24 13% 411,26 9%
1 – 3 tháng 1.029,04 36% 1.493,82 38% 1.904,83 41%
4 – 6 tháng 938,92 30% 1.200,62 30% 1.291,67 29%
7 – 12 tháng 281,68 9% 360,19 9% 356,32 8%
Trên 12 tháng 406,87 13% 400,21 10% 489,94 11%
Tổng 3.129,74 100% 4.002,08 100% 4.454,02 100%

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán SCB – Chi nhánh Gò Vấp)

Giai đoạn 2018 – 2020, công tác huy động vốn của Chi nhánh Gò Vấp đã có hiệu quả hơn so với những năm trước thể hiện mức độ tín nhiệm ngày càng cao của khách hàng đối với Ngân hàng. Trong cơ cấu TGTK theo kỳ hạn của chi nhánh thì TGTK có kỳ hạn chiếm trọng tỷ lệ khoảng 90% , trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là tiền gửi có kỳ hạn từ 1 – 3 tháng. Tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn 1 – 3 tháng tăng đều qua các năm và chiếm một tỷ trọng khoảng gần một nửa số lượng nguồn vốn huy động được. Do chi nhánh nằm trong khu vực có nhiều cửa hàng và hộ kinh doanh nên phần lớn nhu cầu về tiền của họ biến đổi liên tục. Do đó những khách hàng này thường lựa chọn gửi tiết kiệm với kỳ hạn ngắn để thuận tiện cho nhu cầu vốn liên tục. Trong khi đó tiền gửi có kỳ hạn dài hơn như 4 – 6 tháng, 7 – 12 tháng và trên 12 tháng vẫn giữ mức tỷ lệ gần như là cố định qua các năm. Cụ thể kỳ hạn 4 – 6 tháng vẫn ở mức tỷ lệ 30% trong tổng nguồn vốn, đến năm 2020 có xu hướng giảm còn 29%. Kỳ hạn 7 – 12 tháng từ 2018 – 2020 vẫn ở mức 9% nhưng đến 2020 chỉ còn 8%. Trong khi đó kỳ hạn trên 12 tháng có những biến chuyển phức tạp, năm 2018 là 13%, năm 2019 còn 10% nhưng đến 2020 lại tăng lên 11%. Nguyên nhân của tình trạng có sự chuyển biến này là do sự thay đổi lãi suất theo chiều hướng giảm liên tục của Ngân hàng. Những khách hàng chỉ có thể gửi những kỳ hạn từ 4 – 6 tháng thì do lãi suất giữa kỳ hạn 1 – 3 tháng và 4 – 6 tháng chênh lệch rất ít nên đa số khách hàng khi đáo hạn thường chọn gửi lại với kỳ hạn 1 – 3 tháng để tiện cho việc đáp ứng nhu cầu vốn linh hoạt. Trong khi, các khách hàng có khả năng gửi ở kỳ hạn dài từ 7 – 12 tháng và ít có nhu cầu sử dụng vốn , do lo ngại trong thời gian tới lãi suất có thể sẽ tiếp tục giảm nên họ sẽ chọn gửi với kỳ hạn dài hơn là trên 12 tháng. Cụ thể là do huy động với kỳ hạn 13 tháng của Ngân hàng hiện tại có lãi suất cao nhất nên đa số khách hàng có nhu cầu gửi kỳ hạn dài lo sợ lãi suất sẽ giảm thường chọn kỳ hạn này.

  • Cơ cấu nguồn vốn huy động theo sản phẩm

Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo sản phẩm giai đoạn 2018-2020

(ĐVT:Triệu đồng)

Sản phẩm Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
Tiết kiệm thông thường 2.109,44 67,40 2.841,48 71 3.171,26 71,20
Tiết kiệm Phú Quý 613,43 19,60 760,40 19 792,82 17,80
Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng 406,87 13 400,21 10 489,94 11
Tổng 3.129,74 100 4.002,08 100 4.454,02 100

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán SCB – Chi nhánh Gò Vấp)

Từ biểu đồ ta thấy, nguồn vốn huy động theo sản phẩm của Chi nhánh Gò Vấp biến động không đồng đều qua các năm từ 2018 – 2020. Chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu là tiết kiệm thông thường. Năm 2018 tổng số huy động cho sản phẩm này là 2.109,44 triệu đồng chiếm 67,4% trong cơ cấu. Đến năm 2019 con số này tăng lên 2.841,48 triệu đồng do trong năm nay tổng lượng huy động của chi nhánh cũng tăng đáng kể. Đến năm 2020 sản phẩm này tăng lượng huy động lên 3.171,26 triệu đồng. Bên cạnh đó, sản phẩm “Tiết kiệm Phú Quý” cũng có những biến động tương tự. Năm 2013 đạt 613,43 triệu đồng đến năm 2019 tăng lên 760,39 triệu đồng và năm 2020 tăng lên 792,82 triệu đồng. Trong khi đó tỷ trọng của sản phẩm này lại giảm qua các năm. Tương tự đối với sản phẩm “Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng” năm 2018 đạt 406,87 triệu đồng nhưng đến năm 2019 chỉ còn 400,21 triệu đồng và đến 2020 tăng lên 489,94 triệu đồng.

Như phân tích ở trên, do lãi suất được điều chỉnh giảm liên tục nên khách hàng sử dụng sản phẩm “Tiết kiệm Phú Quý” có hai nhu cầu lựa chọn sản phẩm. Đối với khách hàng có nhu cầu vốn linh động sẽ chọn gửi tiết kiệm với sản phẩm “Tiết kiệm thông thường”, còn đối với khách hàng ít có nhu cầu sử dụng vốn và lo ngại lãi suất tiếp tục giảm sẽ chọn sản phẩm “Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng”. Chính điều đó đã làm cho tỷ trọng của hai sản phẩm này có xu hướng tăng lên trong khi “Tiết kiệm Phú Quý” lại có xu hướng giảm xuống.

2.2.3.3. Đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn tại SCB – Chi nhánh Gò Vấp theo các chỉ tiêu

Bảng 2.6: Chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh Gò Vấp

Chỉ tiêu Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Tổng vốn huy động 3.129,74 4.002,08 4.454,02
VHĐ có kỳ hạn 3.129,74 4.002,08 4.454,02
Tổng chi phí 34.505,04 38.190,52 41.865,59
Chi phí huy động vốn 24.705,61 28.448,12 38.390,75
VHĐCKH/Tổng VHĐ 100% 100% 100%
Chi phí HĐV /Tổng chi phí 71,6% 74,49% 91,7%
Dư nợ/ VHĐ 73% 75% 71%

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán tại SCB – Chi nhánh Gò Vấp)

Theo bảng chỉ tiêu đánh giá hoạt động tại Chi nhánh Gò Vấp ta nhận thấy:

Tỷ số vốn huy động trên tổng nguồn vốn: tỷ lệ này là 100% qua các năm. Do chi nhánh là đơn vị hoạt động phụ thuộc nên nguồn vốn chủ yếu là nguồn vốn huy động. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động của chi nhánh ngày càng tăng, điều đó cho thấy chi nhánh hoạt động ngày càng có hiệu quả.

Tỷ số vốn huy động có kỳ hạn trên tổng vốn huy động: Nhiệm vụ của Chi nhánh Gò Vấp là huy động vốn nhàn rỗi của người dân thông qua hình thức gửi tiết kiệm nên tỷ lệ này rất cao.

Tính ổn định của nguồn vốn: Như phân tích ở trên, chi nhánh đang có quy mô, tốc độ tăng trưởng cũng như cơ cấu nguồn vốn huy động đều tăng theo thời gian rất ổn định và đạt được theo quy mô mà kế hoạch đã đề ra. Nguồn vốn tăng đều qua các năm, đạt mục tiêu về nguồn vốn đặt ra và có độ gia tăng đều đặn là nguồn vốn tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên nguồn vốn có kỳ hạn ngắn còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn.

2.3. Nhận xét

2.3.1. Những kết quả đạt được

Nguồn vốn huy động tăng trưởng nhanh cả về qui mô lẫn tốc độ. Từng bước cải thiện cơ cấu vốn theo hướng hợp lý hơn, tạo sự phù hợp giữa huy động và sử dụng vốn. Có được điều này là do sự nỗ lực của toàn Chi nhánh Gò Vấp luôn coi trọng công tác huy động vốn, chi nhánh luôn xác định nguồn vốn huy động được là nguồn vốn kinh doanh chủ yếu duy trì hoạt động của Ngân hàng, cùng với đó là hàng loạt biện pháp tích cực được chi nhánh sử dụng trong công tác huy động vốn như: lãi suất huy động linh hoạt hấp dẫn, không ngừng đổi mới và hoàn thiện các dịch vụ chăm sóc khách hàng…

Trong những năm qua tình hình quy mô tiền gửi ngày càng tăng lên với tốc độ tăng trưởng khá cao. Với điều kiện kinh tế trong địa bàn hoạt động và nhận thức của người dân ngày càng được nâng cao, địa điểm giao dịch nằm trên trục đường thương mại và cơ sở vật chất được nâng cao, lãi suất huy động tương đối cao, điều đó đã tạo được sự thu hút đối với một lượng lớn khách hàng. Bên cạnh đó, chi nhánh luôn làm tốt các công tác thu chi tiền mặt và thanh toán nhanh nhạy, an toàn, chính xác theo yêu cầu của khách hàng. Luôn nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ, đưa ra nhiều hình thức mới và nhận được sự hài lòng của rất nhiều khách hàng.

2.3.2. Những hạn chế tồn tại

Mặc dù, tổng vốn huy động qua các năm đều tăng nhưng chủ yếu khách hàng của chi nhánh là cá nhân và trong cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn thì có sự mất cân đối giữa các kỳ hạn. Nguồn tiền gửi kỳ hạn ngắn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu.

Hoạt động kinh doanh của chi nhánh được thực hiện trong một môi trường cạnh tranh hết sức gay gắt, với một địa bàn nhỏ nhưng có rất nhiều Ngân hàng cùng tồn tại. Vì thế làm cho thị phần tiền gửi tiết kiệm của chi nhánh bị san sẻ cho các Ngân hàng khác, điều đó đã gây không ít khó khăn trong hoạt động huy động vốn của chi nhánh. Trong hoàn cảnh đó, chi nhánh chưa có biện pháp tăng cường huy động vốn cụ thể nên mặc dù lượng vốn huy động qua các năm có tăng nhưng chỉ tăng nhẹ. Chính vì thế chi nhánh cần đẩy nhanh tốc độ huy động vốn bằng chiến lược cụ thể để nâng cao hiệu quả huy động vốn hơn nữa.

Kinh doanh ngoại tệ và vàng chưa hiệu quả: Tình hình huy động vốn bằng ngoại tệ của Chi nhánh Gò Vấp chưa thực sự được đẩy mạnh, hoạt động kinh doanh ngoại tệ không phong phú. Vẫn còn khá nhiều chỉ tiêu âm về một số loại hình tiết kiệm, cho vay ngắn hạn và đặc biệt là nguồn thu từ tiền gửi thanh toán bằng ngoại tệ, đòi hỏi Ngân hàng cần có nhiều chính sách phù hợp hơn nữa đáp ứng được xu hướng chung hiện nay, đảm bảo phát triển bền vững cho Chi nhánh Gò Vấp.

Lãi suất huy động biến động không ổn định: Lãi suất huy động thay đổi quá nhiều lần trong một thời gian ngắn làm ảnh hưởng đến tâm lý của người gửi tiền, gây tâm lý chần chừ và chờ đợi, nguồn vốn huy động Chi nhánh Gò Vấp do đó cũng bị ảnh hưởng


THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM ( CHI NHÁNH ĐÀ LẠT )

2.1. Tổng quan về Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

  • Tên đầy đủ: Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam.
  • Tên giao dịch quốc tế:  Bank for Investment and Development of Vietnam.
  • Tên gọi tắt: BIDV.
  • Địa chỉ: Tháp A, toà nhà VINCOM, 191 Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng, HN.
  • Điện thoại: 042200422
  • Fax: 04 2200399
  • Website: www.bidv.com.vn.
  • Lịch sửu hình thành Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam.có thể chia thành các giai đoạn như sau:

1.1. Thời kỳ 1957- 1980:

Ngày 26/4/1957, Ngân hàng kiến thiết miền nam (trực thuộc Bộ tài chính) – tiền thân của ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam được thanh lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/4/1957 của thủ tướng chính phủ. Quy mô ban đầu gồm 8 chi nhánh, 200 cán bộ.

1.2. Thời kỳ 1981-1989:

Ngày 24/6/1981, Ngân hàng kiến thiết miền nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam theo quyết định 259/CP của Hội đồng chính phủ.

Trong khoảng từ 1981- 1990, hàng Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đã từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thiện cơ chế nghiệp vụ, tiếp tục khẳng định để đứng vững và phát triển.Đây cũng là thời kỳ ngân hàng có những bước chuyển mình theo định hướng của sự nghiệp đổi mới cả nước nói chung và ngành ngân hàng nói riêng, từng bước trở thành ngân hàng chuyên doanh hàng đầu trong nền kinh tế.Nhuẽng đóng góp của ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam thời kỳ này lớn hơn trước gấp bội cả về tổng nguồn vốn cấp phát, tổng nguồn vốn cho vay và tổng tài sản cố định đã hình thành trong nền kinh tế.

Thời kỳ này đã đưa vào và hoạt động hàng loạt những công trình to lớn có ý nghĩa thế kỷ của đất nước cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn trong lĩnh vực sự nghiệp và phúc lợi như: công trình thuỷ điện sông Đà, cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, cảng Chùa Vẽ, nhà máy xi măng Hoàng Thạch, nhà máy xi măng Bỉm Sơn, nhà máy đóng tàu Hạ Long…

1.3. Thời kỳ 1990- nay:

  • * Thời kỳ 1990-1994:
  • Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đổi tên thành ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo quyết định số 401- CT của Chủ tịch hội đồng bộ trưởng.
  • Đây là thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
  • * Thời kỳ 1/1/1995:
  • Đây là mốc đánh dấu sự chuyển đổi cơ bản của BIDV: Được phép kinh doanh đa năng tổng hợp như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của đất nước.
  • * Thời kỳ 1996- nay:
  • Được ghi nhận là thời kỳ “chuyển mình, đổi mới, lớn lên cùng đất nước”, chuẩn bị nền móng vững chắc và tạo đà cho sự cất cánh của BIDV. Thể hiện  ở một số bình diện:
  • – Quy mô tăng trưởng và năng lực tài chính được nâng cao
  • – Cơ cấu lại hoạt động theo hướng hợp lý hơn
  • – Lành mạnh hoá tài chính và năng lực tài chính nâng lên rõ rệt
  • – Đầu tư phát triển thông tin
  • – Hoàn thiện tái cấu trúc mô hình tổ chức- quản lý, hoạt động, điều hành theo tiêu thức Ngân hàng hiện đại.
  • – Không ngừng đầu tư cho chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
  • – Tiếp tục mở rộng và nâng tầm quan hệ đối ngoại lên tầm cao mới
  • -Chuẩn bị tốt các tiền đề cho cổ phần hoá BIDV, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để phát triển theo mô hình Tập đoàn

2.1.2. Cơ cấu tổ chức

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

2.1.3. Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng

2.1.3.1. Nghiệp vụ tài sản nợ

Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:

Nghiệp vụ huy động vốn:

Nghiệp vụ nhận tiền gửi: Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động Ngân hàng nhận các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà từ đó NHTM có thể huy động được. Ngoài ra NHTM cũng có thể huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình được gửi vào Ngân hàng với mục đích bảo quản hoặc hưởng lợi từ số tiền gửi.

Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế. Hơn nữa, nghiệp vụ này cũng giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh.

Nghiệp vụ đi vay:

Nghiệp vụ này được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục đích tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay Ngân hàng nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo… Trong đó các khoản vay từ Ngân hàng nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà nó tự cân đối được nguồn vốn trên cơ sở khai thác tại chỗ.

Nghiệp vụ huy động vốn khác:

Ngoài 03 nghiệp vụ huy động cơ bản trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay ủy thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các Ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.

Vốn tự có của NHTM:

Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Lượng vốn này chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng song lại rất quan trọng là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành lập Ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định, Ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, nhà xưởng, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho bản thân Ngân hàng, cho vay, đặc biệt là tham gia đầu tư góp vốn liên doanh. Trong thực tế nguồn vốn này không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân hàng mang lại

2.1.3.2. Nghiệp vụ tài sản có

Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận. Nghiệp vụ tài sản có bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:

Nghiệp vụ ngân quỹ: Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng với mục đích đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năng thanh toán nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng nhà nước đề ra.

Nghiệp vụ cho vay: Đây là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong hoạt động quản lý tài sản có của NHTM. Nghiệp vụ này đóng góp phần lớn lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng. Thông qua nghiệp vụ này mà Ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng ngắn, trung và dài hạn cho các thành phần kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM cũng dùng số vốn huy động được từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế – xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thức như: hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường …và trực tiếp thu lợi nhuận từ các khoản đầu tư đó.

2.1.3.3. Nghiệp vụ trung gian

Thực hiện nghiệp vụ trung gian là Ngân hàng cung ứng các dịch vụ phục vụ khách hàng như thực hiện các lệnh chi trả, các dịch vụ do các chủ tài khoản yêu cầu trên cơ sở đó ngân hàng thu phí dịch vụ.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá đặc biệt là trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động thu – chi hộ, chuyển tiền qua Ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển. Các Ngân hàng đã không ngừng áp dụng những tiến bộ thành tựu khoa học công nghệ, kết hợp với uy tín kinh doanh của Ngân hàng làm cho nghiệp vụ này ngày càng được mở rộng về quy mô và thay đổi về chất.

2.1.4. Giới thiệu Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đà Lạt

2.1.4.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Tên giao dịch tiếng Việt: Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đà Lạt

Địa chỉ: Số 28 Khu Hòa Bình, Phường 1, Thành phố Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng

Số điện thoại: 063.3826.022

2.1.4.2. Tình hình hoạt động trong thời gian qua

Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của BIDV – Chi nhánh Đà Lạt

(Đơn vị tính: Tỷ đồng)

Chỉ tiêu 2016 2017 2018 So sánh 2017/2016 So sánh 2018/2017
+/- % +/- %
Tổng doanh thu 5.7 7.88 13.40 2.18 38.25 5.52 70.12
Tổng chi phí 2.3 3.28 4.46 0.98 42.61 1.18 36.24
Tổng lợi nhuận trước thuế 3.4 4.6 8.91 1.2 35.29 4.31 93.85

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán BIDV – Chi nhánh Đà Lạt)

Dựa vào bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ta thấy Ngân hàng BIDV – Chi nhánh Đà Lạt đang trong giai đoạn phát triển. Doanh thu tăng đều qua các năm, doanh thu năm 2017 tăng hơn năm 2016 là 38,25% tương đương 2.18 tỷ đồng. Doanh thu năm 2018 tăng hơn năm 2017 là 70.12%, tương đương 5.52 tỷ đồng. Doanh thu tăng là dấu hiệu khả quan, chứng tỏ chi nhánh đang hoạt động tốt. Doanh thu tăng kéo theo lợi nhuận tăng, lợi nhuận năm 2017 tăng hơn năm 2016 là 35.29% tương đương 1.2 tỷ đồng. Lợi nhuận năm 2018 tăng hơn năm 2017 là 93.85% tương đương 4.31 tỷ đồng. Điều này có thể giải thích là do Chi nhánh đã tiết kiệm được các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp và các khoản chi phí khác tăng nhẹ không đáng kể.

Năm 2018 kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn thử thách. Tuy nhiên, với việc triển khai đồng bộ các giải pháp tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội của Chính phủ, NHNN, kết thúc năm nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực: GDP tăng 5,89%, kim ngạch xuất khẩu đạt kỷ lục trên 96,3 tỷ USD, hạn chế nhập siêu dưới mức 10%, tỷ lệ lạm phát giảm mạnh trong các tháng cuối năm, an sinh, phúc lợi được đảm bảo, kinh tế vĩ mô về cơ bản ổn định.

2.2.Thực trạng huy động vốn tại BIDV – CN Đà Lạt

2.2.1.Những quy định chung trong hoạt động huy động vốn của BIDV

2.2.1.1.Điều kiện khi khách hàng giao dịch Tiền gửi tiết kiệm tại BIDV

  • Khách hàng là cá nhân:
  • Cá nhân Việt nam, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt nam (khi gửi tiết kiệm bằng VND)
  • Người cư trú là cá nhân Việt nam (khi gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ)
  • Là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự nước Việt nam.
  • Khách hàng tiền gửi là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự chỉ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm thông qua Người giám hộ.
  • Khách hàng là Doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp theo quy định của nước Việt nam.

2.2.1.2.Số tiền gửi

  • Số tiền gửi tối thiểu:
  • Khách hàng cá nhân: 500.000VND; 5USD hoặc ngoại tệ khác tương đương.
  • Khách hàng doanh nghiệp: 1.000.000VND hoặc 20USD hoặc ngoại tệ khác tương đương.
  • Không quy định số tiền gửi tối đa

2.2.1.3.Thủ tục thực hiện giao dịch

  • Khách hàng cá nhân: Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực.
  • Khách hàng doanh nghiệp: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, mẫu dấu doanh nghiệp, Quyết định bổ nhiệm.

2.2.1.4.Các quy định khác

Các quy định khác về kỳ hạn, lãi suất, hình thức lĩnh lãi, rút vốn trước hạn, ủy quyền, chuyện nhượng, đồng sở hữu,… tùy thuộc vào từng sản phẩm cụ thể do BIDV quy định.

2.2.2. Các sản phẩm tiền gửi

2.2.2.1.Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân.
  • Kỳ hạn gửi: Không kỳ hạn.
  • Loại tiền gửi: VND, ngoại tệ BIDV niêm yết.
  • Số tiền gửi tối thiểu: 500.000 VND; 50 USD, ngoại tệ khác có giá trị quy đổi tương đương.
  • Khi KH đến gửi tiền thì BIDV phải mở Thẻ tiết kiệm để theo dõi nhưng không ghi lãi suất lên Thẻ tiết kiệm này.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của Sản phẩm do BIDV công bố trong từng thời kỳ.
  • Cách thức trả lãi: Tiền lãi tự động nhập vào vốn hàng tháng hoặc vào ngày rút hết số dư tài khoản TGTK không kỳ hạn và thường tính lãi theo nhóm ngày gửi tiền.
  • Rút tiền: KH có thể rút một phần hoặc toàn bộ số. KH phải trả phí kiểm điếm theo quy định của BIDV.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Linh hoạt trong việc sử dụng vốn.
  • Tài khoản có tính thanh khoản cao.

2.2.2.2.Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng cá nhân sử dụng với  mục đích tiết kiệm và được hưởng lãi suất.

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân.
  • Kỳ hạn gửi: Từ 01 tháng đến 36 tháng .
  • Loại tiền gửi: VND và ngoại tệ BIDV niêm yết.
  • Số tiền gửi tối thiểu: 500.000 đồng, 50 USD hoặc ngoại tệ khác có giá trị quy đổi tương đương.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của Sản phẩm do BIDV công bố trong từng thời kỳ. Ở những kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, khách hàng được hưởng một số chính sách cộng thêm lãi suất nếu thỏa điều kiện như: Chính sách khách hàng “Trung niên cao tuổi”, chính sách “khách hàng VIP”, chính sách “Tiện ích song hành”,…
  • Cách thức trả lãi: Tiền lãi tự động nhập vào vốn hàng tháng hoặc vào ngày rút hết số dư.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Thuận tiện trong giao dịch.
  • Thủ tục nhanh chóng, đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, giỏi nghiệp vụ, hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo.

2.2.2.3.Tiết kiệm Phú Quý

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân gửi VND.
  • Kỳ hạn gửi: Từ 6 tháng đến 12 tháng.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của sản phẩm do BIDV công bố trong từng thời kỳ. Ngoài ra khách hàng còn được hưởng ưu đãi cộng thêm lãi suất nếu thỏa điều kiện các chính sách: Trung niên cao tuổi, Tiện ích song hành, khách hàng VIP.
  • Hình thức lĩnh lãi: hàng tháng hoặc cuối kỳ.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Khách hàng có thể đăng ký kỳ hạn kéo dài thêm 12 tháng vào bất kỳ thời điểm nào sau khi gửi và trước khi Thẻ tiết kiệm đến hạn với lãi suất bằng lãi suất tiền gửi thông thường do BIDV công bố tại thời điểm đến hạn của Kỳ hạn ban đầu + Biên độ 0,3%/năm.
  • Khách hàng được rút vốn một phần hoặc toàn bộ trước hạn.
  • Khách hàng được thực hiện vay cầm cố sổ tiết kiệm.

2.2.2.4.Tiết kiệm Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng

Đặc điểm sản phẩm

  • Đối tượng: Khách hàng cá nhân gửi VND.
  • Kỳ hạn gửi: 13, 15, 18, 24 và 36 tháng.
  • Số tiền gửi tối thiểu: 5.000.000 VND.
  • Lãi suất: Theo biểu lãi suất của sản phẩm do BIDV công bố trong từng thời kỳ. Ngoài ra khách hàng còn được hưởng ưu đãi cộng thêm lãi suất nếu thỏa điều kiện các chính sách: Trung niên cao tuổi, Tiện ích song hành, khách hàng VIP.
  • Hình thức lĩnh lãi: lĩnh lãi cuối kỳ.

Tiện ích sản phẩm

  • Lãi suất cạnh tranh.
  • Khách hàng được rút vốn một phần hoặc toàn bộ trước hạn.
  • Khách hàng được thực hiện vay cầm cố sổ tiết kiệm.

2.2.3. Thực trạng huy động vốn tại BIDV – Chi nhánh Đà Lạt

2.2.3.1.Tình hình nguồn vốn huy động tại BIDV – Chi nhánh Đà Lạt

Bảng 2.2: Quy mô nguồn vốn huy động giai đoạn 2016 – 2018

(Đơn vị tính: Triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 So sánh 2017/2016 So sánh 2018/2017
+/- % +/- %
Tổng nguồn VHĐ 3.129,74 4.002,08 4.454,02 872,34 27,87 451,94 11,29

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán BIDV – Chi nhánh Đà Lạt)

Nhận xét:

Tổng nguồn vốn tăng qua các năm thấy năm 2017 tăng 27,87% so với năm 2016 tương đương tăng 873,34 triệu đồng, năm 2018 tăng 451,94 triệu đồng tương ứng tỷ lệ tăng 11,29% so với năm trước.

Nhìn vào biểu đồ ta thấy quy mô nguồn vốn của Chi nhánh Đà Lạt tương đối lớn với tốc độ tăng trưởng khá ổn định chứng tỏ công tác huy động vốn có hiệu quả. Điều này càng giúp cho chi nhánh giữ vững vị thế và vai trò của mình đối với BIDV. Cung ứng được những nguồn vốn cho sự phát triển và mở rộng hoạt động của chi nhánh. Qua đó, cho thấy Ngân hàng đã có những chính sách để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế để đảm bảo hoạt động kinh doanh cho chi nhánh, làm giảm sự phụ thuộc của mình vào Hội Sở về nguồn vốn kinh doanh.

2.2.3.2.Cơ cấu nguồn vốn huy động tại BIDV – Chi nhánh Đà Lạt

Trong những năm gần đây, trước diễn biến phức tạp của thị trường vốn và sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM, Chi nhánh Đà Lạt luôn giữ vững nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu và xuyên suốt đó là công tác huy động vốn. chi nhánh đã chủ động trong công tác tiếp thị, đổi mới phong cách giao dịch, chủ động tìm kiếm khách hàng. Không những vậy, BIDV còn thực hiện những điều chỉnh lãi suất phù hợp với mặt bằng lãi suất, điều chỉnh nguồn vốn theo hướng ổn định lâu dài và giảm giá thành. Kết quả huy động vốn được thể hiện như sau:( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

  • Cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền

Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền giai đoạn 2016-2018

(Đơn vị tính: Triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
VND 1.905,07 60,87 3.810,38 95,21 4.313,72 96,85
Ngoại tệ và vàng 1.224,67 39,13 191,70 4,79 140,30 3,15
Tổng 3.129,74 100 4.002,08 100 4.454,02 100

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán BIDV – Chi nhánh Đà Lạt)

Qua giai đoạn 2016 – 2018 ta thấy lượng vốn huy động này chủ yếu từ VND. Theo đó, tỷ trọng vốn nội tệ chiếm trên 80% trong tổng vốn TGTK, nguồn vốn ngoại tệ chiếm một tỷ lệ trung bình chưa đến 30% trong cơ cấu.

Cơ cấu TGTK theo loại tiền tệ trong giai đoạn 2016 – 2018 thay đổi theo hướng: Vốn tiền gửi bằng nội tệ tăng trưởng liên tục về quy mô. Năm 2017, vốn TGTK bằng nội tệ bằng 3.810,38 triệu đồng, chiếm 95,21% tổng vốn tiền gửi, tăng 1.905,31 triệu đồng so với năm 2016. Vẫn duy trì mức tăng quy mô, năm 2018 Chi nhánh Đà Lạt huy động được 4.313,72 triệu đồng, tăng 503,34 triệu đồng năm 2017.

Vốn TGTK bằng ngoại tệ và vàng: Năm 2017 số vốn huy động được bằng ngoại tệ  và vàng là 191,7 triệu đồng giảm mạnh so với năm 2016, tỷ trọng từ 39,13% giảm còn 4,79%, Năm 2018, số vốn huy động giảm còn 140,3 triệu đồng tương ứng tỷ trọng giảm xuống và rất nhỏ so với tổng nguồn vốn huy động được còn 3,15% trong tổng số vốn huy động được. Sự không tăng trưởng này cho thấy khả năng huy động vốn ngoại tệ và vàng của Chi nhánh Đà Lạt đã kém hơn so với năm 2016, đòi hỏi Chi nhánh Đà Lạt phải có sự điều chỉnh trong chính sách huy động vốn bằng ngoại tệ để thu hút được lượng vốn bằng ngoại tệ nhiều hơn..( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Qua đó cho thấy huy động vốn bằng VND là một ưu thế lớn của Chi nhánh Đà Lạt. Trong cơ cấu nguồn vốn, vốn VND luôn có tỷ trọng lớn hơn vốn ngoại tệ và vàng.

  • Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn

Bảng 2.4: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn 2016-2018

(Đơn vị tính: Triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
Không kỳ hạn 473,24 12% 547,24 13% 411,26 9%
1 – 3 tháng 1.029,04 36% 1.493,82 38% 1.904,83 41%
4 – 6 tháng 938,92 30% 1.200,62 30% 1.291,67 29%
7 – 12 tháng 281,68 9% 360,19 9% 356,32 8%
Trên 12 tháng 406,87 13% 400,21 10% 489,94 11%
Tổng 3.129,74 100% 4.002,08 100% 4.454,02 100%

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán BIDV – Chi nhánh Đà Lạt)

Giai đoạn 2016 – 2018, công tác huy động vốn của Chi nhánh Đà Lạt đã có hiệu quả hơn so với những năm trước thể hiện mức độ tín nhiệm ngày càng cao của khách hàng đối với Ngân hàng. Trong cơ cấu TGTK theo kỳ hạn của chi nhánh thì TGTK có kỳ hạn chiếm trọng tỷ lệ khoảng 90% , trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là tiền gửi có kỳ hạn từ 1 – 3 tháng. Tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn 1 – 3 tháng tăng đều qua các năm và chiếm một tỷ trọng khoảng gần một nửa số lượng nguồn vốn huy động được. Do chi nhánh nằm trong khu vực có nhiều cửa hàng và hộ kinh doanh nên phần lớn nhu cầu về tiền của họ biến đổi liên tục. Do đó những khách hàng này thường lựa chọn gửi tiết kiệm với kỳ hạn ngắn để thuận tiện cho nhu cầu vốn liên tục.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Trong khi đó tiền gửi có kỳ hạn dài hơn như 4 – 6 tháng, 7 – 12 tháng và trên 12 tháng vẫn giữ mức tỷ lệ gần như là cố định qua các năm. Cụ thể kỳ hạn 4 – 6 tháng vẫn ở mức tỷ lệ 30% trong tổng nguồn vốn, đến năm 2018 có xu hướng giảm còn 29%. Kỳ hạn 7 – 12 tháng từ 2016 – 2018 vẫn ở mức 9% nhưng đến 2018 chỉ còn 8%. Trong khi đó kỳ hạn trên 12 tháng có những biến chuyển phức tạp, năm 2016 là 13%, năm 2017 còn 10% nhưng đến 2018 lại tăng lên 11%. Nguyên nhân của tình trạng có sự chuyển biến này là do sự thay đổi lãi suất theo chiều hướng giảm liên tục của Ngân hàng.

Những khách hàng chỉ có thể gửi những kỳ hạn từ 4 – 6 tháng thì do lãi suất giữa kỳ hạn 1 – 3 tháng và 4 – 6 tháng chênh lệch rất ít nên đa số khách hàng khi đáo hạn thường chọn gửi lại với kỳ hạn 1 – 3 tháng để tiện cho việc đáp ứng nhu cầu vốn linh hoạt. Trong khi, các khách hàng có khả năng gửi ở kỳ hạn dài từ 7 – 12 tháng và ít có nhu cầu sử dụng vốn , do lo ngại trong thời gian tới lãi suất có thể sẽ tiếp tục giảm nên họ sẽ chọn gửi với kỳ hạn dài hơn là trên 12 tháng. Cụ thể là do huy động với kỳ hạn 13 tháng của Ngân hàng hiện tại có lãi suất cao nhất nên đa số khách hàng có nhu cầu gửi kỳ hạn dài lo sợ lãi suất sẽ giảm thường chọn kỳ hạn này.

  • Cơ cấu nguồn vốn huy động theo sản phẩm

Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo sản phẩm giai đoạn 2016-2018

(ĐVT:Triệu đồng)

Sản phẩm Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
Tiết kiệm thông thường 2.109,44 67,40 2.841,48 71 3.171,26 71,20
Tiết kiệm Phú Quý 613,43 19,60 760,40 19 792,82 17,80
Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng 406,87 13 400,21 10 489,94 11
Tổng 3.129,74 100 4.002,08 100 4.454,02 100

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán BIDV – Chi nhánh Đà Lạt)

Từ biểu đồ ta thấy, nguồn vốn huy động theo sản phẩm của Chi nhánh Đà Lạt biến động không đồng đều qua các năm từ 2016 – 2018. Chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu là tiết kiệm thông thường. Năm 2016 tổng số huy động cho sản phẩm này là 2.109,44 triệu đồng chiếm 67,4% trong cơ cấu. Đến năm 2017 con số này tăng lên 2.841,48 triệu đồng do trong năm nay tổng lượng huy động của chi nhánh cũng tăng đáng kể.

Như phân tích ở trên, do lãi suất được điều chỉnh giảm liên tục nên khách hàng sử dụng sản phẩm “Tiết kiệm Phú Quý” có hai nhu cầu lựa chọn sản phẩm. Đối với khách hàng có nhu cầu vốn linh động sẽ chọn gửi tiết kiệm với sản phẩm “Tiết kiệm thông thường”, còn đối với khách hàng ít có nhu cầu sử dụng vốn và lo ngại lãi suất tiếp tục giảm sẽ chọn sản phẩm “Kỳ hạn vàng – Lãi suất vàng”. Chính điều đó đã làm cho tỷ trọng của hai sản phẩm này có xu hướng tăng lên trong khi “Tiết kiệm Phú Quý” lại có xu hướng giảm xuống.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

2.2.3.3. Đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn tại BIDV – Chi nhánh Đà Lạt theo các chỉ tiêu

Bảng 2.6: Chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh Đà Lạt

Chỉ tiêu Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Tổng vốn huy động 3.129,74 4.002,08 4.454,02
VHĐ có kỳ hạn 3.129,74 4.002,08 4.454,02
Tổng chi phí 34.505,04 38.190,52 41.865,59
Chi phí huy động vốn 24.705,61 28.448,12 38.390,75
VHĐCKH/Tổng VHĐ 100% 100% 100%
Chi phí HĐV /Tổng chi phí 71,6% 74,49% 91,7%
Dư nợ/ VHĐ 73% 75% 71%

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán tại BIDV – Chi nhánh Đà Lạt)

Theo bảng chỉ tiêu đánh giá hoạt động tại Chi nhánh Đà Lạt ta nhận thấy:

  • Tỷ số vốn huy động trên tổng nguồn vốn: tỷ lệ này là 100% qua các năm. Do chi nhánh là đơn vị hoạt động phụ thuộc nên nguồn vốn chủ yếu là nguồn vốn huy động. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động của chi nhánh ngày càng tăng, điều đó cho thấy chi nhánh hoạt động ngày càng có hiệu quả.
  • Tỷ số vốn huy động có kỳ hạn trên tổng vốn huy động: Nhiệm vụ của Chi nhánh Đà Lạt là huy động vốn nhàn rỗi của người dân thông qua hình thức gửi tiết kiệm nên tỷ lệ này rất cao.
  • Tỷ số chi phí huy động vốn trên tổng chi phí: Chi phí hoạt động của chi nhánh rất đa dạng từ chi phí phát sinh từ công tác huy động đến các chi phí phục vụ cho hoạt động của chi nhánh. Tất cả được cộng dồn và được thể hiện trong bảng cân đối kế toán của Chi nhánh Đà Lạt. Tuy nhiên, chi phí của chi nhánh chủ yếu là phần chi phí trã lãi cho tiền gửi tiết kiệm.
  • Khối lượng vốn huy động ngày càng tăng chứng tỏ quy mô vốn ngày càng lớn và chi nhánh hoạt động ngày càng hiệu quả hơn. Điều đó sẽ tạo điều kiện cho chi nhánh mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.

2.2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn tại Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đà Lạt

2.2.4.1. Chiến lược kinh doanh

Mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh cụ thể. Chiến lược kinh doanh được xây dựng dựa trên việc ngân hàng xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đồng thời dự đoán được sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai. Thông qua chiến lược kinh doanh Ngân hàng sẽ có thể quyết định thu hẹp hay mở rộng việc huy động vốn về mặt quy mô, có thể thay đổi tỷ lệ các loại nguồn, tăng hay giảm chi phí huy động. Với tác dụng to lớn như vậy, nếu chiến lược kinh doanh được lựa chọn đúng đắn, các nguồn vốn được khai thác một cách tối đa thì công tác huy động vốn sẽ phát huy được hiệu quả.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

2.2.4.2. Chính sách pháp lý

Theo quy định hiện nay của NHNN, trần lãi suất huy động bằng tiền đồng đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng mà các ngân hàng được áp dụng là 5,5%/năm. Lãi suất huy động tiền gửi bằng đô la Mỹ là 0%/năm đối với cả khách hàng cá nhân và tổ chức.

Triển khai định hướng điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ đã được Thống đốc NHNN cụ thể hóa cho ngành Ngân hàng tại Chỉ thị số 04/CT-NHNN ngày 27/5/2018 tiết giảm chi phí để phấn đấu cắt giảm lãi suất cho vay qua đó hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế. Vì thế, nhiều tổ chức tín dụng quy mô lớn điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Việc trần lãi suất liên tục giảm làm cho lãi suất của BIDV cũng liên tục giảm theo chính sách của NHNN. Điều này đã gây ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn tại Chi nhánh Đà Lạt.

2.2.4.3. Môi trường hoạt động

Mặc dù tọa lạc trên con đường thương mại nhộn nhịp, dân cư đông đúc, người dân có thu nhập khá cao và thường xuyên rất thuận lợi cho hoạt động huy động vốn nhưng Chi nhánh Đà Lạt gặp không ít khó khăn do phải cạnh tranh với rất nhiều Ngân hàng có tên tuổi và lớn mạnh trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam hiện nay. Do đây là những Ngân hàng lớn và uy tín được người dân tin tưởng trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam, mà trong quan niệm của người dân gửi tiền ở Ngân hàng của nhà nước và các Ngân hàng tên tuổi lớn sẽ an toàn hơn nên mặc dù lãi suất ở các BIDV cạnh tranh hơn những Ngân hàng này nhưng người dân vẫn tìm đến các Ngân hàng này.

2.2.4.4. Uy tín Ngân hàng

BIDV là Ngân hàng tiên phong trong việc hợp nhất giữa ba Ngân hàng TMCP, điều này làm cho người dân không tránh khỏi những suy nghĩ tiêu cực dẫn đến uy tín của Ngân hàng bị sụt giảm. Khách hàng vẫn còn lo sợ đến độ an toàn khi gửi khoản tiền tiết kiệm tại BIDV hoặc thậm chí khách hàng có xu hướng rút tiền để chuyển sang gửi tại những Ngân hàng có vốn Nhà nước.

Bên cạnh đó, thương hiệu của BIDV chưa mang tính rộng khắp, nhận diện thương hiệu của người dân còn chưa tốt: Khách hàng thường hay nhầm lẫn BIDV là Sacombank hoặc SHB hoặc Standard Chartered Bank.

2.2.4.5. Trình độ công nghệ

Chi nhánh Đà Lạt được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị tiên tiến phục vụ cho hoạt động của chi nhánh. Các thiết bị điện, nước, máy lạnh, máy in, máy fax, máy photocopy, máy tính, máy đếm tiền, máy đóng bó tiền và các thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ và ngày càng hiện đại.

2.2.4.6. Năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp của Nhân viên Chi nhánh Đà Lạt

Tiền thân của Chi nhánh Đà Lạt là Hội sở chính của BIDV trước khi hợp nhất và chuyển về địa chỉ 927 Trần Hưng Đạo, P.1, Q.5, Tp.HCM  như bây giờ. Vì vậy, Chi nhánh Đà Lạt thừa hưởng đội ngũ Nhân viên với chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, nắm chắc các quy trình giao dịch với KH dẫn đến thực hiện giao dịch với khách hàng chính xác, nhanh chóng và hiệu quả.

Yếu tố khiến khách hàng gắn bó với Chi nhánh Đà Lạt vì sự hài lòng trong cách phục vụ của nhân viên. Và chính điều này đã làm tăng hiệu quả huy động vốn tại chi nhánh.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

2.3. Nhận xét

2.3.1. Những kết quả đạt được

Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động, diễn biến phức tạp của tình hình lạm phát cũng tác động không nhỏ đến hoạt động Ngân hàng nhưng với sự cố gắng nỗ lực không biết mệt mỏi của toàn thể Ban lãnh đạo cùng nhân viên thì trong thời gian qua Chi nhánh Đà Lạt đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong công tác huy động vốn cụ thể như sau:

Trong những năm qua tình hình quy mô tiền gửi ngày càng tăng lên với tốc độ tăng trưởng khá cao. Với điều kiện kinh tế trong địa bàn hoạt động và nhận thức của người dân ngày càng được nâng cao, địa điểm giao dịch nằm trên trục đường thương mại và cơ sở vật chất được nâng cao, lãi suất huy động tương đối cao, điều đó đã tạo được sự thu hút đối với một lượng lớn khách hàng. Bên cạnh đó, chi nhánh luôn làm tốt các công tác thu chi tiền mặt và thanh toán nhanh nhạy, an toàn, chính xác theo yêu cầu của khách hàng. Luôn nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ, đưa ra nhiều hình thức mới và nhận được sự hài lòng của rất nhiều khách hàng.

2.3.2. Những hạn chế tồn tại

Mặc dù, tổng vốn huy động qua các năm đều tăng nhưng chủ yếu khách hàng của chi nhánh là cá nhân và trong cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn thì có sự mất cân đối giữa các kỳ hạn. Nguồn tiền gửi kỳ hạn ngắn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu.

Hoạt động kinh doanh của chi nhánh được thực hiện trong một môi trường cạnh tranh hết sức gay gắt, với một địa bàn nhỏ nhưng có rất nhiều Ngân hàng cùng tồn tại. Vì thế làm cho thị phần tiền gửi tiết kiệm của chi nhánh bị san sẻ cho các Ngân hàng khác, điều đó đã gây không ít khó khăn trong hoạt động huy động vốn của chi nhánh. Trong hoàn cảnh đó, chi nhánh chưa có biện pháp tăng cường huy động vốn cụ thể nên mặc dù lượng vốn huy động qua các năm có tăng nhưng chỉ tăng nhẹ. Chính vì thế chi nhánh cần đẩy nhanh tốc độ huy động vốn bằng chiến lược cụ thể để nâng cao hiệu quả huy động vốn hơn nữa.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Kinh doanh ngoại tệ và vàng chưa hiệu quả: Tình hình huy động vốn bằng ngoại tệ của Chi nhánh Đà Lạt chưa thực sự được đẩy mạnh, hoạt động kinh doanh ngoại tệ không phong phú. Vẫn còn khá nhiều chỉ tiêu âm về một số loại hình tiết kiệm, cho vay ngắn hạn và đặc biệt là nguồn thu từ tiền gửi thanh toán bằng ngoại tệ, đòi hỏi Ngân hàng cần có nhiều chính sách phù hợp hơn nữa đáp ứng được xu hướng chung hiện nay, đảm bảo phát triển bền vững cho Chi nhánh Đà Lạt.

Xem thêm: Cơ sở lý luận về huy động vốn tại ngân hàng


THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN NGÂN HÀNG Á CHÂU ( CHI NHÁNH BÌNH THẠNH )

2.1.Thực trạng huy động vốn của ngân hàng Á Châu – chi nhánh Bình Thạnh

2.1.1 Phân tích các hình thức huy động vốn

Bảng 2.1: Các hình thức vốn huy động

Đơn vị tính : tỷ đồng,%

Các hình thức Số dư HĐV Chênh lệch Tăng trưởng Tỷ trọng (%)
2018 2019 2020 2019/2018 2020/2019 2019/2018 2020/2019 2018 2019 2020
TG thanh toán 2.553 3.869 2.858 1.316 -1011 51,5 -26,1 1 1,6 0,9
TG tiết kiệm 242.146 236.637 300.200 -5.509 63.563 -2,3 26,9 96,1 96,7 90,7
Chứng chỉ TG 7.223 4329 28.055 -2.894 23.726 -40,1 548,1 2,9 1,8 8,5
Tổng 251.924 244.838 331.116 -7086 86.278 -2,81 35,2 100 100 100

(Nguồn : ngân hàng Á Châu – chi nhánh Bình Thạnh)

Sự khác nhau về lượng vốn huy động theo từng hình thức huy động đã được thể hiện rõ ảnh hưởng trực tiếp do lạm phát tăng cao và vẫn còn ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2020 do dịch Covid , chính điều này làm cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, TCKT bị giảm sút và trong bảng số liệu và biểu đồ trên.

Trong cả 3 năm, hai hình thức huy động là: Tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm số lượng lớn, tỷ lệ tăng trưởng của mỗi năm là không ổn định. Trong đó tiền gửi tiết kiệm năm 2018 từ mức 242.146 tỷ đồng giảm xuống 2,3% (tương ứng giảm giảm 5.509 tỷ đồng), 236.637 tỷ đồng vào năm 2019, năm 2020 tăng 26,9 so với năm 2019( tương ứng tăng 63.563 tỷ đồng) có 1 bước tiến triển thuận lợi. Tuy nhiên tiền gửi thanh toán đang trong giai đoạn phát triển vào năm 2018,2019 thì năm 2020 có sự giảm nhẹ so với các năm trước, cụ thể vào năm 2019 tăng 51,5% so với năm 2018 ( tương ứng tăng 1.316 tỷ đồng ), năm 2020 giảm 26,1% so với năm 2019( tương ứng giảm 1011 tỷ đồng ). Nguyên nhân của sự sụt giảm này chủ yếu đến từ nguồn vốn của các tổ chức kinh tế, mà sự hoạt động của các tổ chức kinh tế lại phụ thuộc nhiều vào tình hình chung của tỉnh. Năm 2018, nền kinh tế nói chung đứng trước nhiều thách thức, các doanh nghiệp chịu hạn chế rất nhiều từ đó mà việc giao dịch giữa TCKT với NH cũng bị thu hẹp và giảm xuống. Sự sụt giảm mạnh năm 2018 này phản ánh được việc các sản phẩm tiết kiệm của Ngân hàng đưa ra chưa có sự mới mẻ và hiệu quả, nhất là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt về lãi suất tiền gửi tiết kiệm và việc liên tục đưa ra các sản phẩm mới của các NH khác trên địa bàn, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc huy động của Ngân hàng.

Hình thức còn lại là chứng chỉ tiền gửi cũng có sự biến động trong cả 3 năm. So với hai hình thức tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán thì tỷ trọng của nguồn huy động này còn quá thấp. Từ năm 2018, tỷ trọng của CCTG đã là rất nhỏ so với các hình thức huy động còn lại, và qua những năm sau, còn có sự biến động lên xuống. Có thể nói lượng vốn mà CCTG đem lại hoàn toàn không đáng kể để phục vụ cho nguồn vốn kinh doanh.

Cụ thể, năm 2018 đạt 7.223 tỷ đồng giảm đi 40,1%, còn 4329 tỷ đồng vào năm 2019, tuy nhiên đến năm 2020, lượng vốn này lại tăng lên đạt 28.055 tỷ đồng vào năm 2020.  Như vậy, các sản phẩm thuộc hình thức huy động này tại Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh không mang tính hấp dẫn, thu hút và đặc biệt, không có sự cải tiến qua các năm. Ngân hàng tập trung huy động vào các hình thức chủ yếu mang lại lượng vốn lớn, mà không có những chính sách cụ thể để nâng cao chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh nhiều hơn của NH mình với các NH khác trên địa bàn.

Chính vì vậy, đòi hỏi Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh  phải đưa ra được những chính sách và phương hướng hợp lý hơn cho hình thức huy động này nhằm cải thiện và tiếp tục nâng cao tỷ trọng tổng nguồn vốn huy động và cân bằng cơ cấu hơn giữa các hình thức huy động trong tương lai.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

2.1.2 Phân tích lãi suất huy động.

Chúng ta có thể so sánh mức thay đổi lãi suất tại Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh qua các mốc thời gian tiêu biểu để từ đó có cái nhìn tổng quan về tình hình biến đổi lãi suất:

Bảng 2.2: Tình hình lãi suất huy động TG bằng USD

Đơn vị tính: %/năm

Chỉ Tiêu Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
TG KKH 0,1% – 0,2 % 0,1% – 0,2 % 0,1% – 0,2 %
TG CKH 0,5% – 4,8% 0,5% – 1% 0,5 %

(Nguồn của Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh)      

Nhìn vào bảng ta thấy lãi suất huy động bằng ngoại tệ qua các năm tại Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh rất linh hoạt. Lãi suất huy động vốn bằng USD không kỳ hạn luôn được duy trì ở mức khá thấp là 0,2%. Đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn, lãi suất luôn thay đổi trong suốt khoảng thời gian phân tích. Cụ thể, trong những tháng đầu năm 2018, lãi suất huy động USD giao động trong mức từ 0,5% – 2%/năm, đến cuối năm, đón trước nhu cầu vay vốn của khách hàng, nhất là vay vốn bằng ngoại tệ để thanh toán các khoản nợ nước ngoài, ngân hàng đã tập trung hơn trong việc huy động vốn bằng ngoại tệ. Để tăng tính hấp dẫn với khách hàng, lãi suất huy động vốn bằng USD đã được tăng lên trong giai đoạn này, năm vào khoảng từ 0,5% – 4,8%/năm. Trong năm 2019 đã đánh dấu một sự cạnh tranh khốc liệt về lãi suất huy động vốn, trong đó huy động vốn bằng ngoại tệ cũng không phải là ngoại lệ.

2.1.3. Phân tích tình hình huy động vốn của Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh

2.1.3.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng vốn huy động

Bảng 2.3: Tốc độ tăng vốn huy động

Đơn vị tính : Tỷ đồng,%

Chỉ tiêu 2018 2019 2020 2019/2018 2020/2019
+/- (%) +/- (%)
HĐVCK 251.924 244.838 331.116 7086 2,81% 86.278 35,2%

(Nguồn :Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh)

 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh qua các năm có xu hướng tăng, tuy nhiên lượng huy động vốn của năm 2019 có sự giảm sút nhẹ, nhưng đến 2020 đã tăng lên khá nhiều, cụ thể:( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Năm 2018, huy động vốn cuối kỳ là 251.924 tỷ đồng, đạt chỉ tiêu do Ngân hàng đề ra,đây là dấu hiệu đáng mừng trong công tác huy động vốn của Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh, phản ánh được sự huy động  đang đi đúng hướng, thực hiện tốt và có hiệu quả.

Năm 2019, huy động vốn cuối kỳ đạt 244.838 tỷ đồng, giảm 7086 tỷ đồng so với năm 2018( tương ứng giảm 2,81%), Ngân hàng đã không đạt chỉ tiêu đưa ra, nhưng cũng gần như là con số tuyệt đối. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động cuối kỳ cao hơn so với năm 2018. Việc không hoàn thành chỉ tiêu đưa ra trong năm, buộc Ngân hàng cần phải quan tâm đến các chính sách huy động vốn của mình, cụ thể nên có những sản phẩm và hình thức huy động vốn mới, quan tâm hơn đến việc làm mới chiến lược để giữ chân khách hàng cũ và thu hút thêm khách hàng mới trong tương lai.

Năm 2020, huy động vốn từ tiền gửi khách hàng và phát hành giấy tờ có giá có sự tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 331.116 tỷ đồng, tăng 35,2% ~ 86.278 tỷ đồng so với năm 2019, cao hơn so với tăng trưởng bình quân của toàn hệ thống. Mức tăng trưởng huy động vốn của năm 2020 cao nhất trong 3 năm gần đây. Để đạt được Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh đã tập trung nguồn lực để đẩy mạnh huy động vốn với các biện pháp như sau: Ban hành cơ chế động lực khuyến khích phù hợp với tính chất đặc thù đối với từng khách hàng, đổi mới cơ chế điều hành vốn nội bộ tiệm cận với thông lệ chung, phù hợp với điều kiện kinh doanh, thiết kế và triển khai các sản phẩm mới tương ứng đa dạng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, các chương trình tiết kiệm dự thưởng đều có đổi mới về hình thức, cơ cấu giải thưởng.

2.1.3.2 Thực trạng huy động vốn chung

  • Thị phần huy động vốn của Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh.

Thị phần huy động vốn của năm 2019, năm 2018 đều giảm so với năm 2009, nguyên nhân chủ yếu là khả năng cạnh tranh bị giảm do các ngân hàng áp dụng mức lãi suất cao hơn. Mặc dù thị trường hầu như bị đóng băng về lãi suất do trần lãi suất huy động, cam kết đồng thuận của Hiệp Hội Ngân hàng. Tuy nhiên trên thực tế cuộc chạy đua cạnh tranh lãi suất diễn ra âm thầm và khốc liệt. Các Ngân hàng TMCP (kể cả Ngân hàng lớn) rất linh hoạt trong việc áp dụng lãi suất nhằm giữ và lôi kéo khách hàng (Ngân hàng Nông Nghiệp thông báo công khai “Huy động lãi suất thỏa thuận”). Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh là Ngân hàng thương mại cố phần có vốn của Nhà Nước  thực thi và tuân thủ nghiêm chính sách lãi suất của NHNN, nên trong một thời gian dài lãi suất huy động thực tế của Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh thường thấp hơn các Ngân hàng khác, vì vậy Ngân hàng đã chịu áp lực rất lớn trong việc duy trì nền khách hàng và giữ vững thị phần. Trong năm 2020, khi sự giám sát của ngân hàng nhà nước trở nên chặt chẽ hơn, việc huy động vốn với lãi suất trên quy định đã được hạn chế nhiều. Trong đó mạng lưới và mật độ ngân hàng trên địa bàn hiện nay khá lớn, trong khi dung lượng thị trường còn nhỏ nên việc cạnh tranh diễn ra rất gay gắt. Các Ngân hàng khi khai trương Chi nhánh hoặc mở mới Phòng giao dịch thường sử dụng các hình thức khuyến mãi hấp dẫn để thu hút khách hàng. Chính vì vậy, thị phần thường xuyên bị chia sẻ. Ngoài ra, trong giai đoạn từ năm 2018 cho đến cuối năm 2019, giá vàng có xu hướng tăng liên tục nên có một lượng không nhỏ tiền gửi tiết kiệm từ dân cư được KH rút ra để đâu tư vào thị trường đang trở nên hấp dẫn này. Nhưng, ở Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh không có sản phẩm huy động vốn bằng vàng như một số NH khác (Eximbank, Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh). Dẫn đến, có một lượng tiền gửi không nhỏ của Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh được chuyển qua các NH khác thông qua kênh này. Tuy vậy thị phần huy động vốn năm 2020 đạt 10,12% mức độ tăng trưởng huy động vốn đều cao gần gấp đôi so với toàn ngành.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

  • Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn hoạt động

Ngoài việc xác định một cách chính xác cơ cấu nguồn hình thành, thì không thể bỏ qua tính chất kỳ hạn của các nguồn huy động. Từ việc xác định chính xác lượng tiền huy động trong các kỳ hạn, ngân hàng sẽ có những chính sách hoạt động hợp lý. Nhất là xây dựng được các nguồn vốn tài trợ cho các dự án có quy mô lớn, thời gian hoàn vốn lâu. Cơ cấu theo thời hạn huy động được thể hiện dưới bảng như sau:

Bảng 2.4: Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn hoạt động

Đơn vị tính : Tỷ đồng, %

Nhóm KH Số dư HĐV Chênh lệch Tăng trưởng(%) Tỷ trọng (%)
2018 2019 2020 19/18 20/19 19/18 20/19 2018 2019 2020
Không kỳ hạn 52.540 43.732 56.104 -8808 12.372 -16,76 28,3 20,9 17,9 16,9
Có kỳ hạn 199.384 201.106 275.012 1722 73.906 0,86 36,7 79,1 82,1 83,1
Tổng 251.924 244.838 331.116 -7086 86.278 -2,81 35,2 100 100 100

(Nguồn : Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh)

Cơ cấu huy động giữa tiền gửi thanh toán KKH và CKK của Ngân hàng đã có sự thay đổi tích cực qua các năm. Từ năm 2009 trở về trước, tiền gửi thanh toán KKH thường chiếm trên 50% tổng nguồn vốn huy động, năm 2018 chỉ còn chiếm 20,9% tổng nguồn vốn huy động và năm 2019 tỷ trọng KKH còn 17,9% tổng nguồn vốn huy động. Năm 2020 giảm xuống 16,9%. Ngược lại thì tỷ trọng tiền gửi thanh toán CKH tăng lên, từ 79,1% tổng nguồn vốn huy động  năm 2018,  sang năm 2019 là 82,1% tổng nguồn vốn huy độngvà năm 2019 chiếm 83,1% tổng nguồn vốn huy động. Kết quả này là một quá trình hướng dần khách hàng đặc biệt là nhóm khách hàng doanh nghiệp thực hiện cam kết duy trì số dư tiền gửi. Bên cạnh đó, Ngân Hàng Á châu – Chi Nhánh Bình Thạnh đã quan tâm tiếp thị và chăm sóc một số khách hàng không có quan hệ tín dụng tại Ngân hàng nhưng luôn có một lượng tiền gửi nhất định như các Chùa, Hiệp hội, HTX, Các Ban, Các Qũy của các Tổ chức trên các địa bàn.

Huy động vốn dân cư tăng trưởng tốt cũng là nguyên nhân quan trọng làm tăng nguồn vốn huy động có kỳ hạn, giúp cải thiện cơ cấu. Tiền gửi có kỳ hạn chủ yếu là các bộ phận dân cư có nguồn tiền nhàn rỗi muốn gửi để hưởng lãi suất, vì vậy họ thường chọn lại tiền gửi có kỳ hạn. Đó là lý do tại sao các ngân hàng thường cạnh tranh nhau về mức lãi suất đối với các loại tiền gửi này, qua đó huy động được mức vốn lớn, cần thiết cho các nhu cầu về tín dụng. Như vậy, cùng với sự gia tăng của số lượng khách hàng dân cư thì tiền gửi có kỳ hạn tại Ngân Hàng Á châu – Chi Nhánh Bình Thạnh cũng tăng lên. Cụ thể, năm 2019 tăng thêm 1722 tỷ đồng (tương ứng tăng 0,86%) so với năm 2018. Năm 2020 tăng thêm 73.906 tỷ đồng (tương ứng tăng 36,7%) so với năm 2019. Trong khi đó, tiền gửi KKH lại giảm đi trong năm 2018 và năm 2019. Cụ thể từ năm 2019 giảm đi 8808 tỷ đồng (tương ứng giảm 16,76%) .Trong năm 2020, tiền gửi KKH tăng lên 12.372 tỷ đồng (tương ứng tăng 28,3%) so với năm 2019. Các khoản tiền gửi không kỳ hạn chủ yếu là số dư trong tài khoản thanh toán của các doanh nghiệp, như đã phân tích ở trên, hiện nay nền kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn nên các doanh nghiệp thường thu nhỏ quy mô hoạt động, điều này sẽ làm giảm dòng tiền về tài khoản. Bên cạnh đó, các ngân hàng đang thắt chặt tín dụng nên các doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng thiếu vốn kinh doanh hơn trước nên sẽ ít khi duy trì số dư trong tài khoản như các giai đoạn trước đó.

  • Tình hình huy động vốn theo hình thái tiền tê.

Ngoài việc phân biệt NVHĐ theo thành phần kinh tế, theo kỳ hạn thì việc xác định nguồn tiền theo đồng tiền huy động cũng rất quan trọng. Nó giúp ngân hàng duy trì mối quan hệ với các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu sử dụng ngoại tệ thường xuyên. Cơ cấu huy động vốn theo đồng tiền gửi được xác định cụ thể dưới bảng sau:( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Bảng 2.5: Tình hình huy động vốn theo hình thái tiền tệ

Đơn vị tính : Tỷ đồng, %

Nhóm KH Số dư HĐV Chênh lệch Tăng trưởng(%) Tỷ trọng(%)
2018 2019 2020 19/18 20/19 19/18 20/19 2018 2019 2020
VNĐ 212.170 221.655 304.568 9.485 82.913 4,5 37,4 84,2 90,5 92
Ngoại tệ quy đổi 39.754 3/3.183 26.548 -6571 -6635 -16,5 -20 15,8 13,6 8
Tổng 251.924 244.838 331.116 -7086 86.278 -2,81 35,2 100 100 100

(Nguồn : Ngân Hàng Á châu – Chi Nhánh Bình Thạnh)

Nhìn chung, nguồn vốn huy động theo hình thái tiền tệ tại Ngân Hàng Á châu – Chi Nhánh Bình Thạnh chủ yếu là đồng nội tệ (VND), luôn chiếm tỷ trọng trên 80% tổng lượng vốn huy động. Cụ thể, năm 2018 lượng nội tệ huy động chiếm 84,2 % tổng nguồn huy động, năm 2019 là 90,5%, và đến năm 2020 là 92%. Điều này cho thấy Ngân hàng đã có những chính sách huy động nguồn nội tệ rất hiệu quả, có nhiều dịch vụ đa dạng thu hút được sự quan tâm và tạo được niềm tin cho khách hàng đến giao dịch và gửi tiền.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Lượng tiền huy động nội tệ tại tăng dần qua 3 năm. Cụ thể năm 2018  huy động được 212.170 tỷ đồng, năm 2019 huy động được 221.655 tỷ đồng (tăng thêm 9.485 tỷ đồng với tốc độ tăng là 4,5% so với năm 2018) và năm 2020 huy động vốn đạt 304.568 tỷ đồng (tăng thêm so với năm 2019 là 82.913 tỷ đồng, tương đương tăng 37,4%). Việc huy động từ VND tăng là do trong thời điểm phân tích, việc kinh doanh trở nên khó khăn hơn rất nhiều nên người dân có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng hơn là mở rộng kinh doanh, thị trường bất động sản bị đóng băng, mọi người không còn duy trì động thái tích trữ đất đai như trước. Bên cạnh đó, mặc dù mức lãi suất huy động thấp hơn các ngân hàng khác tuy nhiên với uy tín từ lâu cũng như mức độ rủi ro trong công tác cho vay luôn được kiểm soát nên khách hàng lựa chọn gửi tiền tại Ngân Hàng Á châu – Chi Nhánh Bình Thạnh để có thể yên tâm hơn.

Ngược  lại, lượng ngoại tệ huy động giảm đi qua các năm. Cụ thể, trong năm 2018, lượng huy động ngoại tệ tại Ngân Hàng Á châu – Chi Nhánh Bình Thạnh là 39.754 tỷ đồng, đến năm 2019, con số này giảm đi còn 33.183 tỷ đồng và tiếp tục giảm đi trong năm 2020, chỉ còn 26.548 tỷ đồng. Giải thích cho sự huy động vốn từ ngoại tệ giảm, cụ thể năm 2019 giảm 6.571 tỷ đồng so với năm 2018 (tương ứng giảm 16,5%) và năm 2020 giảm 6635 tỷ đồng so với 2019 ( tương ứng giảm 20%). Nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm là:

Nguồn ngoại tệ huy động trên thị trường chủ yếu là từ các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, tiêu, điều, ong mật và lượng kiều hối. Trong đó thì chủ yếu huy động từ các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, nông sản. Vì vậy lượng ngoại tệ huy động được ảnh hưởng rất nhiều bởi thị trường cà phê,và các nông sản khác, tỷ giá ngoại tệ. Mặc dù giá ngoại tệ liên tục tăng trong 03 năm qua, nhất là vào giai đoạn cuối năm, tuy nhiên thời điểm cuối năm cũng là lúc bắt đầu vào vụ .( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Trong khi đó, trong những năm qua, thu hoạch cà phê,tiêu đạt năng suất cao, vì vậy các doanh nghiệp xuất khẩu có xu hướng bán ngoại tệ để thanh toán tiền cho các đại lý thu mua. Bên cạnh đó, trong năm 2019, Ngân hàng có chủ trương giảm dư nợ đối với một số khách hàng vì xuất hiện nhiều yếu tố rủi ro, nên nhóm khách hàng này chuyển dần giao dịch qua các ngân hàng khác như một số doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất thị trường đã không còn duy trì hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh và chuyển sang giao dịch tại Vietcombank, Ngân hàng Quân đội, nên lượng ngoại tệ huy động được từ công ty này không còn được duy trì. Ngoài ra, trên địa bàn hoạt động, các ngân hàng TMCP thường có xu hướng áp dụng lãi suất huy động ngoại tệ rất cao so với Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh.

Nếu như Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh duy trì mức lãi suất huy động có kỳ hạn đối với USD từ 2-3% thì có thời điểm Seabank huy động lên đến 6%, Ngân hàng Quân đội huy động 5,5%/năm,  điều này làm cho khả năng cạnh tranh về lượng ngoại tệ huy động được của Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh giảm đi rất nhiều. Điều này cho thấy Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh cần đầu tư thêm cho lĩnh vực huy động ngoại tệ, có những chiến lược cụ thể đáp ứng các dịch vụ của khách hàng và tăng lượng ngoại tệ cũng như nội tệ cho Ngân hàng.

  • Tình hình huy động vốn theo đối tượng khách hàng.

Đối với nghiệp vụ huy động vốn, việc xác định một cách chính xác, đầy đủ và trọng tâm các nguồn hình thành nên nguồn vốn là vô cùng quan trọng, bởi vì nó liên quan đến hàng loạt các yếu tố, nội dung của việc hoạch định chính sách huy động vốn, kế hoạch hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Xác định được nguồn vào từ đó sẽ điều tiết được luồng tiền sao cho hợp lý, đảm bảo được tính thanh khoản ở mức cao nhất. Cơ cấu nguồn vốn phân theo thành phần kinh tế được thể hiện dưới bảng sau:

Bảng 2.6: Tình hình huy động vốn theo đối tượng KH

Đơn vị tính: tỷ đồng,%

Nhóm KH Số dư HĐV Chênh lệch Tăng trưởng(%) Tỷ trọng (%)
2018 2019 2020 19/18 20/19 19/18 20/19 2018 2019 2020
Dân cư 131.398 162.545 235.084 31.147 72.539 23,7 44,6 52,2 66,4 71
Tổ chức 120.526 82.293 96.032 -38.233 13.739 -31,7 16,7 47,8 33,6 29
Tổng 251.924 244.838 331.116 -7086 86.278 -2,81 35,2 100 100 100

(Nguồn : Ngân Hàng Á châu – Chi Nhánh Bình Thạnh)

Huy động vốn tại Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh tăng trưởng liên tục với mức tăng trưởng cao, tuy nhiên năm 2019 có sự giảm sút nhưng không đáng kể, cụ thể: năm 2018 là 251.924 tỷ đồng, năm 2019 là 244.838 tỷ đồng (giảm 7.086 tỷ đồng so với năm 2018 với tốc độ tăng tương ứng là 2,81%), năm 2020 đạt 331.116tỷ đồng (tăng thêm 86.278 tỷ đồng so với năm 2019, tốc độ tăng tương ứng là 35,2%).

+ Nhóm khách hàng dân cư: Xác định dân cư là nhóm khách hàng quan trọng nhất trong cơ cấu nguồn vốn huy động. Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh ưu tiên tập trung gia tăng nhóm khách hàng này về số lượng và chất lượng. Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh khai thác khá tốt các mối quan hệ cá nhân của từng cán bộ nhân viên nhằm thu hút khách hàng. Một số chùa, nhà thờ hoặc các hội từ thiện trên địa bàn cũng được quan tâm khai thác. Vì vậy kết quả huy động vốn dân cư đạt được rất khả quan, cụ thể:

Cơ cấu HĐV dân cư có sự chuyển biến tích cực từ mức 52,5% năm 2018, đến năm 2020 đã chiếm tỷ trọng 71% tổng nguồn vốn huy động. Chi tiết là: từ năm 2018 đến năm 2019tăng thêm 31.147 tỷ đồng (tương ứng tăng 23,7%), năm 2020 tăng thêm 72.539 tỷ đồng (tương ứng tăng 44,6%) so với năm 2019. Điều này cho thấy chính sách HĐV của ngân hàng đã đạt được kết quả tốt, hấp dẫn nhiều cá nhân tham gia gửi tiền tiết kiệm.

Hơn nữa, qua năm 2018 tình hình kinh tế đang đi vào ổn định, nhằm thu hút được nhiều nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, các Ngân hàng nói chung và Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh nói riêng đã đồng loạt tăng lãi suất tiền gửi, vì vậy mà người dân gửi tiền vào Ngân hàng nhiều hơn. Bên cạnh đó trong năm 2019, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế làm cho các kênh đầu tư không còn mang lại nhiều hiệu quả, tiềm ẩn nhiều rủi ro, thị trường bất động sản đóng băng nên một phần không nhỏ người dân quyết định gửi tiền vào ngân hàng như một kênh đầu tư mới.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

+ Nhóm khách hàng tổ chức

Bảng 2.7: Tình hình huy động vốn theo nhóm KH tổ chức

Đơn vị tính: tỷ đồng,%

Nhóm KH Tổ chức Số dư HĐV Chênh lệch Tăng trưởng Tỷ trọng (%)
2018 2019 2020 19/18 20/19 19/18 20/19 2018 2019 2020
DN 72.097 51.629 57.170 -20.468 5.541 -28,4 10,7 60 62,7 60
ĐCTC 48.429 30.663 36.862 -17.766 6.199 -36,7 20,2 40,2 37,3 38,4
Tổng 120.526 82.293 96.032 -38.233 13.739 -31,7 16,7 100 100 100

(Nguồn : Ngân Hàng Á châu – Chi Nhánh Bình Thạnh)

+ HĐV nhóm KH doanh nghiệp: Đây là nguồn huy động chủ yếu trong nhóm khách hàng tổ chức, chiếm trên 60% tổng mức huy động từ nhóm khách hàng tổ chức. Cụ thể, nhóm khách hàng doanh nghiệp mức HĐV KH doanh nghiệp năm 2019 giảm đi 20.468 tỷ đồng so với năm 2018 ( tương ứng giảm 28,4%), và năm 2020 giảm 10,7%  so với năm 2019. Năm 2019, trước tình hình chung của nền kinh tế, như là lạm phát hai con số, thị trường chứng khoán, bất động sản thì sụt giảm mạnh, thị trường tiền tệ căng thẳng với lãi suất diễn biến phức tạp và khó khăn thanh khoản của hệ thống ngân hàng, khối khách hàng doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn: Thứ nhất là chi phí vốn quá cao cụ thể: Năm 2018, mức lãi suất cho vay bình quân chỉ ở mức 10% -11%/năm, nhưng sang năm 2019 mức lãi suất tăng lên, ở mức từ 13%-15%/năm. Thứ hai là khả năng tài chính của doanh nghiệp bị suy giảm, việc tiếp cận nguồn vốn vay bị hạn chế. Hầu hết các doanh nghiệp tận dụng tối đa nguồn tiền gửi thanh toán, nên đã tác động và ảnh hưởng lớn đến số dư huy động đối với nhóm khách hàng này. Bên cạnh đó, đối với những khách hàng tốt, khả năng tài chính vững mạnh, Ngân hàng đã tích cực vận động khách hàng gửi có kỳ hạn, góp phần ngăn đà suy giảm. Giải thích cho sự sút giảm mạnh này là do tình hình khó khăn chung của nền kinh tế trong thời điểm phân tích đã ảnh hưởng lớn đến nhóm khách hàng này.

Qua đó, ngân hàng cần chú ý hơn nữa vào vấn đề cũng cố uy tín, tạo mối quan hệ với các khách hàng truyền thống cũng như không ngừng tiếp cận với các doanh nghiệp khác trên địa bàn. Nhằm tăng nguồn vốn huy động từ tổ chức, tạo nền tảng thuận lợi cho Ngân hàng trong việc phát triển các dịch vụ cho vay, chuyển tiền, thanh toán.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Trong năm 2019, 2020 nguồn vốn huy động tăng là nhờ huy động dân cư. Nếu loại trừ yếu tố một số doanh nghiệp đứng tên cá nhân để gửi tiết kiệm (không nhiều) thì tăng trưởng huy động vốn năm 2019, 2020 chủ yếu là tăng trưởng huy động dân cư. Đây là tín hiệu tích cực giúp nền vốn của Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh ổn định trong các năm tiếp theo.

+ HĐV nhóm ĐCTC: Năm 2018, nguồn huy động ở mức 48.429 tỷ đồng, năm 2019 mức huy động nhóm ĐCTC đạt 30.663 tỷ đồng (giảm xuống 17.766 tỷ đồng tương ứng giảm 36,7%). Nguyên nhân sự sụt giảm này là do những công ty lớn có khoản tiền gửi đến hạn, đã rút về vì lãi suất 14% không còn hấp dẫn. Khoản tiền gửi lớn này sụt giảm đả ảnh hưởng lớn đến số dư huy động của ngân hàng. Tuy nhiên, nhờ chính sách chăm sóc khách hàng tốt, nên số dư tiền gửi KBNN, NHPT tăng đã góp phần bù đắp 1 phần sự sụt giảm của khách hàng lớn trên. Và trong năm 2020, mức huy động tăng lên ở mức 36.862 tỷ đồng (tăng 6199 tỷ đồng tương ứng tăng 20,2%). Nhìn chung, số dư tiền gửi của nhóm khách hàng này thường duy trì mức cao tại ngân hàng trong suốt thời gian qua. Chi nhánh khá thành công trong việc chăm sóc, duy trì tốt mối quan hệ với các ĐCTC như KBNN, NHPT, NHCS, Qũy tín dụng TW nên mới đạt được kết quả như vậy.

  • Phân tích nguồn vốn qua các năm

Nguồn vốn là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để đầu tư, cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác, nguồn vốn chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Nguồn vốn của NHTM chủ yếu là nguồn vốn huy động từ nền kinh tế thông qua các cá nhân, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Do đó, vấn đề huy động vốn như thế nào là hợp lý, đồng thời quản trị tài chính, phân bổ sử dụng, phát triển nguồn vốn để đảm bảo hoạt động kinh doanh ngân hàng an toàn, hiệu quả cao là lẽ sống còn đối với mỗi ngân hàng, đặc biệt trong điều kiện vô cùng phức tạp của nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong hoạt động kinh doanh, nguồn vốn luôn đóng vai trò quan trọng vì nó phản ánh quy mô hoạt động của Ngân hàng. Nguồn vốn lớn thì quy mô hoạt động, khả năng mở rộng của Ngân hàng sẽ lớn và như thế Ngân hàng sẽ vững vàng trước những tác động của môi trường kinh doanh, cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Nguồn vốn lớn và ổn định làm cho việc kinh doanh của Ngân hàng thuận lợi và hiệu quả, quyết định khả năng thanh toán, quyết định năng lực cạnh tranh, đảm bảo uy tín của Ngân hàng trên thị trường. Tất cả mọi vấn đề trong an toàn kinh doanh, mục tiêu hoạt động, khả năng sinh lời và hoạt động quản trị đều đặt dưới sự giám sát, kiểm soát bằng hệ thống văn bản chặt chẽ của Nhà nước nói chung, ngân hàng nói riêng. Bởi sự rủi ro trong thanh toán dẫn đến khủng hoảng “ phá sản” của 1 ngân hàng sẽ kéo theo rủi ro trên toàn hệ thống, dẫn đến khủng hoảng kinh tế tài chính của một quốc gia, điều đó phản ánh rõ nét vai trò hết sức to lớn của nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn huy động trong quá trình hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng. Vì vậy trong quá trình phát triển Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh luôn coi công tác huy động vốn là công tác chủ chốt trong hoạt động kinh doanh của mình.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Bảng 2.8: Cơ cấu nguồn vốn Ngân hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh trong 3 năm

Đơn vị tính : Tỷ đồng, %

Chỉ tiêu 2018 2019  2020 19/18 20/19
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng +/- % +/- %
           
Vốn huy động 251.924 84,9 244.838 79,7 331.116 88,5 -7086 -2,81 86.278 35,2
Vốn vay NH cấp trên 16.665 5,6 26.799 8,7 11.429 3,1 10.134 60,8 -15.370 -57,4
Vốn khác 28.282 9,5 35.704 11,6 31.486 8,4 7.422 26,2 -4.218 -11,8
Tổng 296.871 100 307.341 100 374.031 100 10.470 3,5 66.690 21,7

(Nguồn : Ngân Hàng Á châu – Chi Nhánh Bình Thạnh)

Qua bảng trên ta thấy tổng nguồn vốn của Ngân hàng tăng đều qua 3 năm. Cụ thể: năm 2018 là 296.871 tỷ đồng, sang năm 2019 đạt 307.341 tỷ đồng tăng hơn năm 2018 là 10.470 tỷ đồng (tương ứng tốc độ tăng là 3,5%), đến năm 2020, tổng nguồn vốn đạt 3.74.031tỷ đồng, tăng thêm 66.690 tỷ đồng (tăng tương ứng 21,7%) so với năm 2019.

Xét từng nguồn vốn, ta thấy: Trong cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng, vốn huy động chiếm tỷ trọng khá cao và thay đổi qua từng năm. Năm 2018, khi nền kinh tế hoạt động trở lại bình thường sau năm 2009 bị lạm phát thì công tác huy động của Ngân hàng cũng được cải thiện tổng NVHĐ là 251.924 tỷ đồng, chiếm 84,9% tổng nguồn vốn. Đến năm 2019, tổng NVHĐ là 244.838 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 79,7%, giảm đi 7086 tỷ đồng với tốc độ giảm 2,81% so với năm 2018. Qua năm 2020, tổng NVHĐ tiếp tục tăng thêm 86.278 tỷ đồng với tốc độ tăng là 35,2% so với năm 2019 và chiếm 88,5% tổng nguồn vốn Ngân hàng

Tiền vay từ Ngân hàng cấp trên cũng biến động qua các năm. Năm 2018 là 16.665 tỷ đồng, chiếm 5,6% tổng nguồn vốn. Đến năm 2019, vốn này đã tăng lên 26.799 tỷ đồng còn chiếm 8,7% tổng nguồn vốn của Ngân hàng. Nguyên nhân là do trong năm này, nguồn vốn huy động tại chỗ giảm mà nhu cầu về vốn của tỉnh để đầu tư xây dựng lại tăng cao nên NH buộc phải tăng nguồn vốn vay từ NH cấp trên để đáp ứng nhu cầu trên các địa bàn. Nhưng đến năm 2020 vốn này đã giảm xuống chỉ còn chiếm 3,1% tổng nguồn vốn của ngân hàng. So với năm 2019 thì vốn vay từ NH cấp trên giảm đi 15.370 tỷ đồng ( tương ứng giảm đi 57,4%). Mặc dù tình hình kinh tế chung năm 2020 còn gặp nhiều khó khăn và biến động nhưng kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng lại thu được những kết quả khả quan, nguồn vốn huy động còn đạt vượt chỉ tiêu đưa ra, điều này đã giúp cho Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh giảm được nguồn vốn vay từ NH cấp trên, chủ động và linh hoạt hơn trong công tác kinh doanh của mình. Còn năm 2019, nguồn vốn này lại tăng lên 10.134 tỷ đồng (tương ứng tăng 60,8%) so với năm 2018.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Tại Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh, các loại vốn khác chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn. Trong nguồn vốn khác tại Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh bao gồm 2 khoản mục là: Nhận làm Ngân hàng đại lý – ủy thác đầu tư cho các tổ chức kinh tế và vốn điều chuyển từ Ngân hàng mẹ. Năm 2018 là 28.282 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,5% tổng nguồn vốn, đến năm 2019 thì tăng 11,6% tương ứng tăng 35.704 tỷ đồng. Qua năm 2020 thì chiếm 8,4% tổng nguồn vốn, giảm đi 4.218 tỷ đồng ( tương ứng giảm 11,8%) so với năm 2019.Việc tăng trưởng tương đối mạnh về nguồn vốn, cho thấy được tình hình kinh doanh của Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh là khá đa dạng và thu được kết quả rất khả quan khi đóng góp vào cơ cấu nguồn vốn một tỷ trọng rất lớn cho nguồn vốn phục vụ việc kinh doanh trong 3 năm 2018-2020.

  • Chi phí huy động vốn.

Bảng 2.9: Chi phí huy động vốn của Ngân hàng Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh

Đơn vị tính : tỷ đồng, %

            Nguồn Vốn 2018 2019
Số dư cuối kỳ Lãi suất bình quân Chi phí trả lãi Số dư cuối kỳ Lãi suất bình quân Chi phí trả lãi
NVHĐ 251.924   20.443 244.838   27.956
Dân cư 131.398 10,11% 13.284 162.545 13,76% 22.366
KHDN 72.097 4,67% 3.367 51.629 5,88% 3036
ĐCTC 48.429 7,83% 3.792 30.663 8,33% 2554
Vốn vay NH cấp trên 16.665 11,54% 1923 26.799 15,48% 4148
Vốn khác 28.282 0% 0 35.704 0% 0
Tổng 296.871   22.366 307.341   32.104
Chi phí HĐV 7,5% 10,4%

(Nguồn : Ngân Hàng Á châu – Chi Nhánh Bình Thạnh)

Từ bảng tính có thể thấy được rằng chi phí huy động vốn của Ngân hàng liên tục tăng lên trong các năm phân tích, điều này sẽ làm ảnh hưởng rõ ràng đến lợi nhuận của đơn vị. Tuy nhiên đây cũng không phải là một tín hiệu xấu. Để lý giải cho việc chi phí huy động vốn tăng lên, có thể chỉ ra một số nguyên nhân chính như sau:

Đầu tiên và rõ ràng nhất đó chính là việc chí phí trả lãi dành cho nguồn vốn huy động tăng khá cao, cụ thể trong năm 2018 tăng 22.366 tỷ đồng (tương đương 7,5% ) và năm 2019 đạt 32.104 tỷ đồng, tương ứng với 10,4%. Lý do là vì trong giai đoạn này, Ngân hàng tập trung vào huy động vốn từ đối tượng khách hàng cá nhân và lãi suất huy động vốn liên tục tăng lên.

Thêm vào đó, từ nửa cuối năm 2018 đến tháng 9 năm 2019, Ngân hàng Nhà nước đã có điều chỉnh 3 lần lãi suất tái chiết khấu, 4 lần lãi suất tái cấp vốn và 6 lần lãi suất OMO từ 8,75%/năm lên 12%/năm với mục đích kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này cũng đã làm chi phí huy động vốn của ngân hàng tăng cao( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Xem thêm: ==> Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập 

2.2 Đánh giá công tác huy động vốn của Ngân Hàng Á Châu –  Chi Nhánh Bình Thạnh

2.2.1 Những kết quả đạt được

Trong 3 năm qua, hoạt động huy động vốn của Ngân hàng đã có nhiều kết quả đáng kể và đã góp phần rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Cụ thể:

Tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng thay đổi qua từng năm nhưng nhìn chung có xu hướng tăng. Tổng NVHĐ tăng ổn định cả về số tuyệt đối và số tương đối giữa các năm. Chính sách phát triển hài hòa trong đó ưu tiên, đẩy mạnh phát triển Ngân hàng bán lẻ đã góp phần tăng lượng khách hàng dân cư qua từng tháng. Huy động vốn dân cư tiếp tục tăng trưởng tốt, tỷ trọng huy động dân cư /tổng nguồn vốn huy động tiếp tục được thiện. Trong tổng nguồn vốn huy động, tiền gửi của dân cư có xu hướng chiếm tỷ trọng cao hơn tiền gửi của tổ chức. Đây là nguồn vốn quan trọng để Ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình mà chủ yếu là cho vay. Đồng thời cũng là tín hiệu tích cực giúp nền vốn của Ngân hàng ổn định trong các năm tiếp theo. Xét về mặt thời gian, các hình thức huy động vốn của Ngân hàng tăng đều. Tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp tư nhân cũng như là các cá nhân gửi vào Ngân hàng tăng với tốc độ rất nhanh (chủ yếu là tiền gửi của dân cư). Nguồn vốn này ít biến động, ổn định được Ngân hàng sử dụng để đầu tư kinh doanh, cho vay ngắn hạn – trung hạn và dài hạn, thu về dòng tiền lãi lớn. Điều này đã thể hiển rõ chức năng của NH là “đi vay để cho vay” nhằm hưởng chênh lệch, đem lại lợi nhuận cao cho NH.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Ngoài ra, Tiền gửi không kì hạn cũng đóng góp vào tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng, nguồn vốn này thường xuyên biến động nhưng Ngân hàng không phải tốn nhiều chi phí trả lãi nên đây cũng là nguồn vốn rất quan trọng được Ngân hàng sử dụng chủ yếu để cho vay ngắn hạn. Cơ cấu nền vốn tiếp tục chuyển biến theo hướng tăng dần tỷ trọng huy động có kỳ hạn so với tiền gửi thanh toán, giúp nguồn vốn ổn định hơn. Khối QHKH đã dần chủ động làm việc với các doanh nghiệp để xác định dòng tiền, một mặt quản lý và giám sát nguồn vốn cho vay, mặt khác xác định được nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời của doanh nghiệp để đàm phán duy trì tiền gửi, góp phần giúp tăng nguồn tiền gửi thanh toán hoặc các kỳ hạn ngắn. Bộ phận giao dịch khách hàng và các Phòng giao dịch có trách nhiệm và nhận thức cao trong việc khai thác hiệu quả kênh huy động từ khối dân cư. Bộ phận nguồn vốn – kế hoạch tổng hợp khảo sát cập nhật thông tin thị trường tương đối kịp thời để tham mưu ban lãnh đạo chính sách lãi suất. Một số phòng thuộc khối tác nghiệp và nội bộ như Phòng TCKT, QLRR, QTTD, Tổ DVKQ có ý thức tốt và thực hiện hiệu quả chỉ tiêu huy động vốn Giám đốc giao. Các bộ phận liên quan phối hợp tương đối tốt trong công tác tiếp thị, chăm sóc khách hàng.

Trong điều hành thực hiện kế hoạch của ban lãnh đạo, Chỉ tiêu huy động vốn là một chủ tiêu mang tính bắt buộc và được phân giao đến từng phòng, từng cán bộ nên việc theo dõi, duy trì mối quan hệ giữa cán bộ ngân hàng nói chung và khách hàng tiền gửi gắn bó chặt chẽ hơn. Bên cạnh đó công tác huy động vốn năm 2020 tại Ngân hàng đã có những kết quả vượt bậc so với các năm trước cụ thể: Hệ thống Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh đã kịp thời, nhanh nhạy với diễn biến thị trường, có những phản ứng linh hoạt trong chính sách lãi suất theo hướng giao dần sư chủ động cho những Chi nhánh đã giúp Ngân hàng thuận lợi trong công tác điều hành. Ngân hàng đã rút ra bài học sâu sắc về công tác huy động vốn trong năm 2019, xem công tác huy động vốn là then chốt. Ban lãnh đạo thường xuyên cử cán bộ theo dõi, bám sát thị trường để chủ động đưa ra mức lãi suất phù hợp. Tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, và hậu mãi, giữ vững nguồn vốn hiện tại tránh tối đa dòng vốn chảy về ngân hàng TMCP.

2.2.2 Những tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động huy động vốn.

+ Những vấn đề còn tồn tại:

Bên cạnh nhũng kết quả mà Ngân hàng đạt được được như đã nêu trên, công tác huy động vốn của Ngân hàng còn rất nhiều những hạn chế và hiệu quả hoạt động huy động vốn chưa cao. Cụ thể như sau: Tổng nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được chưa tương xứng với tiềm năng của Ngân hàng. So với cả hệ thống Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh thì NVHĐ vẫn còn tương đối thấp. Điều này có thể được giải thích là do đặc trưng của thị trường của mỗi địa phương đang trong quá trình xây dựng và phát triển nên nhu cầu vốn tín dụng rất lớn, còn lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế không nhiều. Sự thay đổi đó là do việc huy động tiền gửi của dân cư phải phụ thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế của tỉnh, thực trạng SXKD của người dân. Với tốc độ tăng trưởng không ổn định này của NVHĐ thì trong thời gian tới, khi nền kinh tế của tỉnh phát triển mạnh và nhu cầu về vốn để SXKD, phát triển ngành nghề tăng rất nhanh, nếu không có chiến lược huy động vốn kịp thời, đúng đắn thì Ngân hàng sẽ thiếu vốn cho hoạt động kinh doanh cũng như sẽ bỏ qua rất nhiều cơ hội mang lại thu nhập cho Ngân hàng. Các khoản tiền gửi tăng trưởng không ổn định. Năm 2019, tiền gửi tổ chức giảm 31,7% so với năm 2018, và năm 2020 tăng lên 16,7% so với năm 2019.Tiền gửi của dân cư thì tăng nhẹ vào năm 2019 (23,7%) và tăng mạnh vào năm 2020 (44,6%). Sự thay đổi này được giải thích bởi lý do tình hình hoạt động, SXKD có thuận lợi hay bất lợi ảnh hưởng đến thu nhập của các khách hàng cũng như số lượng tiền gửi của họ vào Ngân hàng. Nguồn vốn huy động được từ tiền gửi không kỳ hạn trong 3 năm qua giảm dần là một bất lợi đối với Ngân hàng. Vì đây là nguồn vốn có chi phí trả lãi rất thấp, giúp Ngân hàng giảm được chi phí huy động vốn và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ như thanh toán, chuyển tiền. Nguồn vốn Ngân hàng huy động được thông qua việc phát hành các loại GTCG hầu như là không có nên chưa đáp ứng được nhu cầu cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Các hình thức huy động tiền gửi của Ngân hàng chưa thực sự đa dạng nên chưa đáp ứng được hết nhu cầu của khách hàng. Các sản phẩm huy động, chương trình khuyến mãi chủ yếu thực hiện theo chỉ đạo Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh, Ngân hàng chưa xây dựng các sản phẩm huy động có tính đặc thù địa phương hoặc các chương trình khuyến mãi mang tính thời điểm, sự kiện trong năm của địa phương. Ngân hàng chủ yếu huy động TGTK, trong đó TGTK có kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm tỷ trọng lớn nhất mà chưa đa dạng các hình thức huy động vốn trung và dài hạn. Các GTCG mà Ngân hàng phát hành chưa đa dạng về kỳ hạn, lãi suất, hình thức trả lãi và việc phát hành cũng không ổn định, chủ yếu phụ thuộc vào sự điều hành của Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh nên làm cho lượng vốn huy động biến động thất thường, Ngân hàng có phát hành nhưng không có khách hàng mua, ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân hàng. Việc tiếp cận nguồn tiền gửi của một số khách hàng tiềm năng, có nguồn tiền gửi lớn (bảo hiểm xã hội, các ban quản lý dự án, công ty điện lực, công ty xăng dầu) tuy đã đặt ra nhưng chưa đạt hiệu quả cao. Tinh thần, thái độ phục vụ khách hàng đã được quan tâm đổi mới nhưng chưa thật sự theo kịp với tình hình mới. Áp dụng mức lãi suất huy động linh hoạt, phù hợp, cùng với các biện pháp khuyếch trương quảng cáo tiếp thị, tuy nhiên kết quả chưa cao, tốc độ tăng VHĐ kỳ sau tăng chậm hơn kỳ trước, chưa tương xứng với tầm vóc, quy mô hoạt động của Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh.

Mức phí sử dụng vốn của hội sở thấp hơn mức suất huy động bình quân ở các chi nhánh khác cũng là tác nhân hạn chế tăng trưởng vốn huy động tại chỗ.. Việc thực hiện chính sách yêu cầu khách hàng có quan hệ tín dụng đặc biệt là nhóm khách hàng doanh nghiệp cam kết duy trì số dư tiền gửi tuy có thực hiện nhưng chưa thực sự quyết liệt dẫn đến hiệu quả của chính sách còn thấp. Về công nghệ Ngân hàng tuy đã được chú trọng đầu tư nhưng vẫn còn chưa đồng bộ, chưa chuẩn hoá hết được các nghiệp vụ, chưa đưa việc quản lý hồ sơ tín dụng vào trong hệ thống máy tính, năng lực và trình độ cán bộ còn hạn chế. Như vậy, những hạn chế về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng trên là những dấu hiệu cho thấy hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng chưa thực sự cao. Ngân hàng cần phải tìm ra nguyên nhân để khắc phục đồng thời đề ra những biện pháp thích hợp để tăng cường hoạt động huy động vốn của Ngân hàng.( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

+ Những nguyên nhân của những tồn tại

Nguyên nhân khách quan: Yếu tố giá cả tăng mạnh trong thời gian gần đây gây ra tâm lý e ngại gửi tiền VNĐ dài hạn vào hệ thống ngân hàng, dẫn đến việc người dân chuyển sang đầu tư vào lĩnh vực khác hoặc tích trữ dưới dạng vàng hoặc usd. Xu hướng tăng lãi suất USD ở Mỹ đã làm tăng tình trạng đôla hoá trong nền kinh tế, gây sức ép đối với lãi suất đồng Việt Nam và gây ra khó khăn cho công tác HĐV. Mức độ cạnh tranh trên thị trường vốn ngày càng cao, việc HĐV của các NHTM phải cạnh tranh với các kênh thu hút khác như tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm nhân thọ, bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường vàng. Mặc dù đã có những sửa đổi nhưng nhìn chung hệ thống luật pháp của Việt Nam còn phức tạp, việc hướng dẫn chậm trễ, mất thời gian. Mặt khác hệ thống pháp luật ngân hàng còn chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ gây khó khăn trong các hoạt động của ngân hàng.

Năng lực điều  hành chính sách tiền tệ và lãi suất của NHNN còn hạn chế nhất định. Các Doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu lăng lực tài chính còn hạn chế, hoạt động kinh doanh phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng (chưa có DN nào phát hành trái phiếu doanh nghiệp hoặc huy động qua kênh thị trường chứng khoán). Nguồn tiền gửi của DN chủ yếu là tiền gửi thanh toán mang tính rất tạm thời nên các sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn dành cho DN như chứng chỉ tiền gửi rất khó triển khai thực hiện đạt hiệu quả.

Nguyên nhân chủ quan:  Chính sách khách hàng còn bất cập. Hiện nay khách hàng truyền thống của ngân hàng là các doanh nghiệp, nguồn vốn huy động cũng chủ yếu tập trung vào đối tượng này, chưa mở rộng với khách hàng tiềm năng, khách hàng là tổ chức xã hội. Mặc khác, chưa có phòng ban chuyên trách về nghiên cứu thị trường và khách hàng để đưa các chiến lược thu hút khách hàng có hiệu quả. Thậm chí với cả khách hàng truyền thống có quan hệ lâu dài với ngân hàng nhưng ngân hàng chưa có nhiều biện pháp hữu hiệu để thu hút toàn bộ doanh số của họ. Việc nắm bắt thông tin về khách hàng cũng như cung cấp thông tin về ngân hàng còn ít, chưa kịp thời. ( Báo cáo thực tập Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng )

Điều này sẽ tạo ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh uy tín của ngân hàng. Sản phẩm chưa đa dạng, chưa có sản phẩm nổi bật tạo ra sự riêng biệt để cạnh tranh với các ngân hàng khác. Một số dịch vụ do ngân hàng cung cấp chưa thu hút được khách hàng, ví dụ dịch vụ thẻ ATM cũng chưa được sử dụng rộng rãi, số lượng thẻ còn ít, tiện ích còn hạn chế, do chi phí cao. Lãi suất huy động chưa thật sự hấp dẫn. So với một số NHTM cổ phần  hoạt động trên cùng địa bàn thì Ngân Hàng Á Châu – Chi Nhánh Bình Thạnh có mức lãi suất huy động thấp hơn chút ít.

Điều đó phần nào cũng khiến khách hàng cân nhắc khi gửi tiền. Cơ sở vật chất và mạng lưới hoạt động còn nhiều hạn chế. Mỗi bộ phận giao dịch đều có máy đếm tiền tự động giúp cho việc giao dịch gửi tiền của KH diễn ra nhanh chóng, thuận lợi. Tuy nhiên các máy đếm tiền tự động vẫn chưa được cải tiến, đổi mới, đôi lúc còn gây trở ngại và phiền toái cho cả giao dịch viên và KH trong việc kiểm tiền như kẹt tiền, độ chính xác chưa cao.

DOWNLOAD

Xem thêm: ==> Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập 

Xem thêm: Kho 999+ báo cáo thực tập quản trị nguồn nhân lực

Lời kết: Trên đây Thuctaptotnghiep đã chọn lọc cho các bạn Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng từ những bài đạt điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài. Hy vọng với bài viết này có thể giúp cho các bạn có thêm tài liệu tham khảo để hoàn thành thật tốt bài luận của mình. Ngoài ra, trong quá trình làm bài các bạn gặp khó khăn trong vấn đề thiếu tài liệu hoặc không có thời gian viết bài luận cần thuê người viết, các bạn liên hệ qua zalo: 0934.536.149 để được hỗ trợ làm tốt bài luận của mình nhé.

Chúc các bạn hoàn thành thật tốt bài báo cáo thực tập của mình!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.