Cơ sở lý luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Ngân hàng
Rate this post

Dưới đây Thuctaptotnghiep chia sẻ cho các bạn về Cơ sở lý luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng chọn lọc từ các bài điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài báo cáo thực tập kế toán. Các bạn tham khảo các mẫu dưới đây để hoàn thành thật tốt bài làm của mình nha.

Lưu ý: Trong quá trình làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp, nếu các bạn gặp khó khăn về đề tài hay chưa có công ty thực tập các bạn có thể liên hệ với dịch vụ làm báo cáo thực tập trọn gói qua:

SĐT  / Zalo: https://zalo.me/0934536149


CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) Chi nhánh Tân Định

1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Sự hình thành và phát triển của tín dụng

Khi phân công lao động xã hội phát triển, phân hoá xã hội và phân hóa giàu nghèo xuất hiện thì nhu cầu vay mượn phát sinh, nói cách khác là quan hệ tín dụng đã hình thành.

Ban đầu, các quan hệ tín dụng hầu hết bằng hiện vật và một phần nhỏ là hiện kim hay còn gọi là tín dụng nặng lãi. Khi nền kinh tế phát triển từ giản đơn đi lên kinh tế thị trường, đòi hỏi phải có những quan hệ tín dụng khác thay thế nhằm đáp ứng với nhu cầu phát triển đó và tín dụng ngân hàng ra đời tạo ra một bước ngoặc mới đánh dấu sự phát triển của nền kinh tế.

Tín dụng là nơi gặp nhau chủ yếu của các cá nhân và doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến có nhu cầu sinh lời từ khoản vốn này với các cá nhân và doanh nghiệp thiếu vốn sản xuất kinh doanh có nhu cầu vay mượn. Ngoài ra, tín dụng là con đường kết nối giữa tiết kiệm và đầu tư vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong toàn bộ nền kinh tế. Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu vốn càng nhiều và thường xuyên hơn do hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng. Và đây cũng là lý do mà quan hệ tín dụng ngày càng mở rộng và phát triển phong phú để phù hợp sự đổi mới của đất nước.

1.1.2. Khái niệm về hoạt động tín dụng

Tín dụng (Credit) có nguồn gốc từ tiếng Latin là Creditum, có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Do đó, tín dụng thường được hiểu là sử dụng sự tin tưởng để thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị vật chất hoặc tiền tệ  trong một thời gian nhất định. Từ đó, khái niệm tín dụng ra đời:

“Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền và hàng hóa) giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán.”  (1. Tr 6)

Tín dụng được chia ra làm nhiều loại khác nhau như tín dụng Nhà nước, tín dụng quốc tế, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng. Trong đó, hoạt động tín dụng ngân hàng thường phổ biến nhất và được quan tâm nhiều nhất trong nền kinh tế. Dựa theo định nghĩa tín dụng, ta có thể hiểu:

Tín dụng ngân hàng là một quan hệ kinh tế giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó, ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay.

Tuy nhiên, trong thực tế, khi đề cập đến tín dụng ngân hàng thường chỉ xem xét trên góc độ ngân hàng là người cho vay, do đó, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động tín dụng ngân hàng ở góc độ là người cho vay.

  • Bản chất của tín dụng
  • Tín dụng là một hoạt động rất đa dạng và phong phú nhưng ở bất cứ dạng nào thì tín dụng cũng thể hiện ở 3 mặt cơ bản sau:
  • – Tín dụng chỉ làm thay đổi quyền sử dụng chứ không làm thay đổi quyền sở hữu vốn tín dụng.
  • – Thời hạn tín dụng luôn được xác định rõ ràng và dựa trên sự thỏa thuận giữa người cho vay và người đi vay, và được ghi trong hợp đồng tín dụng.
  • – Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác, người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.

XEM THÊM: ===>  Cơ sở lý luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

XEM THÊM: ===>  Thực trạng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.4. Các nguyên tắc tín dụng

Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc, lãi theo đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nguyên tắc này đề ra nhằm đảm bảo cho các ngân hàng thương mại tồn tại và hoạt động bình thường. Nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu từ nguồn vốn huy động – là tài sản mà ngân hàng chỉ tạm thời quản lý, sử dụng và phải có nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu rút vốn của khách hàng khi có yêu cầu. Do đó, nếu các khoản vay không được hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Trường hợp khách hàng không thực hiện thì ngân hàng sẽ tự động trích tài khoản của khách hàng để thu nợ. Nếu tài khoản tiền gửi không đủ số dư, ngân hàng sẽ chuyển nợ quá hạn để thu nợ với lại suất 1.5 lần lãi suất cho vay thông thường. Nếu khách hàng vẫn không thanh toán, ngân hàng sẽ phát mãi tài sản cầm cố, thế chấp.

Nợ vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và có hiệu quả kinh tế. Điều này có nghĩa là sau khi được giải ngân, khách hàng phải sử dụng vốn vay vào đúng mục đích đã ký kết trong hợp đồng tín dụng nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ cho ngân hàng. Khi đảm bảo nguyên tắc này thì khách hàng mới đảm bảo được nguyên tắc thứ nhất. Sử dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả sẽ đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tạo ra nhiều khối lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ giúp mở rộng quá trình sản xuất.

Việc đảm bảo tiền vay phải được thực hiện theo đúng quy định. Ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có hàng hóa, vật tư tương đương với số tiền vay nhằm đảm bảo cho khoản vay. Theo nghị định 178/1999/NĐ-CP của chính phủ ban hành về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng và thông tư 07/2003/TT-NHNN ngày 19/05/2003 hướng dẫn thi hành nghị định này. Tuân thủ theo nghị định này thì tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có đảm bảo bằng tài sản, cho vay không có đảm bảo theo quy định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

1.1.5. Chức năng tín dụng

Tín dụng có 2 chức năng cơ bản bao gồm:

Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ. Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ có chức năng này mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn để sử dụng nguồn vốn hợp lý và hiệu quả hơn nhằm phát triển nền kinh tế. Thông qua chứa năng này, tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn từ cá nhân, các đơn vị kinh tế đến bổ sung kịp thời cho những doanh nghiệp, nhà nước hay cá nhân đang gặp thiếu hụt về vốn. Ở khâu tập trung, tín dụng là nơi tập hợp những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. Ở khâu phân phối lại tiền tệ, tín dụng là nơi đáp ứng nhu cầu vốn cho các cá nhân, doanh nghiệp và cả ngân sách Nhà nước.

Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội. Hoạt động tín dụng trước hết tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán… cho phép thay thế một số lượng tiền mặt lưu hành, nhờ đó giảm bớt các chi phí liên quan như in tiền, vận chuyển, bảo quản tiền…

Với hoạt động tín dụng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng, đã mở ra một khả năng lớn trong việc mở tài khoản và giao dịch thanh toán thông qua ngân hàng dưới các hình thức chuyển khoản hoặc bù trừ cho nhau.

Nhờ vào hoạt động tín dụng mà các nguồn vốn nằm trong xã hội được huy động để sử dụng cho các nhu cầu của nhà sản xuất và lưu thông hàng hóa sẽ có tác dụng tăng tốc độ chu chuyển vốn trong phạm vi toàn xã hội.

1.1.6. Tiêu chuẩn cấp tín dụng

Việc cấp tín dụng cho một khách hàng được dựa trên những tiêu chuẩn 5C sau:

  • Tư cách người đi vay (Character): Điều này thể hiện năng lực, trí tuệ, uy tín và đạo đức của người đi vay. Để ổn định và phát triển bền vững thì các ngân hàng cần phải lựa chon người đi vay là người uy tín thể hiện qua tính cách của họ.
  • Năng lực vay và khả năng trả nợ của khách hàng (Capacity): Khả năng đi vay và trả nợ là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để cấp tín dụng cho khách hàng. Người đi vay có nhu cầu vay vốn phải chứng minh được năng lực của mình thể hiện trên hai mặt: vay nợ và trả nợ thì mới thỏa mãn điều kiện của ngân hàng.
  • Vốn (Capital): Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu của người sản xuất kinh doanh. Nếu người sản xuất có vốn để sản xuất kinh doanh thì nó trở thành yếu tố để ngân hàng tin tưởng khả năng sử dụng vốn của đơn vị. Không một nhà sản xuất kinh doanh chỉ dựa vào vốn vay ngân hàng và không một ngân hàng nào cấp đến 100% nhu cầu vốn của doanh nghiệp cả, mà có sự phối hợp giữa vốn doanh nghiệp và vốn tín dụng.
  • Tài sản cầm cố, thế chấp (Collateral): Một khoản tín dụng nếu được đảm bảo bằng tài sản cầm cố hay thế chấp sẽ gắn chặt trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của người đi vay, nếu xảy ra những rủi ro khách quan, người đi vay không trả được nợ thì tài sản cầm cố, thế chấp sẽ trở thành nguồn thứ hai của ngân hàng.
  • Điều kiện (Conditions): Khách hàng muốn vay vốn của ngân hàng phải đáp ứng được những điều kiện nhất định của ngân hàng. Đó là điều kiện về pháp lý, kinh tế, tài chính quy định trong các văn bản quy phạm đã đề cập để đảm bảo cho hoạt động tín dụng tuân thủ theo pháp luật và đó cũng là cơ sở để ngân hàng quyết định thời hạn, loại hình, lãi suất…của các khoản vay.

1.1.7. Các hình thức đảm bảo tín dụng

Trong kinh doanh, đảm bảo là tiêu chuẩn bổ sung những mặt hạn chế của người quản trị tín dụng và phòng ngừa những rủi ro bất lợi có thể xảy ra. Do vậy, đảm bảo tín dụng là cách mà ngân hàng có thêm nguồn khác để thu hồi nợ trong trường hợp khách hàng không có khả năng trả nợ. Tuy nhiên, đây không là yếu tố quan trọng nhất khi xét duyệt cho vay mà hầu hết các ngân hàng đều mong muốn số tiền cho vay sẽ được hoàn trả từ phương án cho vay. Nhưng để hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh diễn biến phức tạp trong nền kinh tế thị truờng thì đảm bảo tín dụng được thực hiện chủ yếu dưới hai hình thức: đảm bảo đối vật và đảm bảo đối nhân.( Cơ sở lý luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng  )

  • Đảm bảo đối vật

Đây là hình thức đảm bảo tín dụng mà trong đó ngân hàng đóng vai trò là chủ nợ, được thừa hưởng một số quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách hàng nhằm làm căn cứ để thu hồi nợ trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không có khả năng trả nợ. Các phương thức đảm bảo đối vật bao gồm thế chấp tài sản và cầm cố tài sản.

  • Đảm bảo đối nhân (bảo lãnh)

Bảo lãnh vay vốn ngân hàng là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên cho vay (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay vốn (bên được bảo lãnh). Trong trường hợp đến hạn mà bên được bảo lãnh không trả được toàn bộ hay một phần nợ gốc và lãi cho bên nhận bảo lãnh thì bên bảo lãnh thực hiện bằng tài sản của mình, thế chấp hay cầm cố cho bên nhận bảo lãnh.

2. TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

  • Khái niệm tín dụng doanh nghiệp

Xem xét hoạt động tín dụng doanh nghiệp như một chức năng cơ bản của ngân hàng, ta có khái niệm về tín dụng doanh nghiệp như sau:

Tín dụng doanh nghiệp là một quan hệ kinh tế giữa ngân hàng và doanh nghiệp, trong đó, ngân hàng giao tài sản (tiền và hàng hóa) cho doanh nghiệp sử dụng trong một thời gian nhất định với cam kết doanh nghiệp sẽ hoàn trả vô điều kiện vốn và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.

  • Phân loại tín dụng doanh nghiệp

Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Do đó, phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Hiện nay, các ngân hàng thường phân loại cho vay doanh nghiệp dựa vào các tiêu chí sau:( Cơ sở lý luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng  )

  • Mục đích vay
  • Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
  • Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dich vụ.
  • Cho vay nông nghiệp để khách hàng trang trải các chi phí sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng…
  • Cho thuê bao gồm hai loại là cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, nhưng chủ yếu là máy móc, thiết bị.
  • Các khoản tín dụng khác là những khoản cấp tín dụng sử dụng vào những mục đích khác mục đích nêu trên.
  • Thời hạn cho vay
  • Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và chủ yếu được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp.
  • Cho vay trung hạn: Cho vay trung hạn có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5 năm, thường được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ…
  • Cho vay dài hạn: Đây là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu vốn dài hạn như xây dựng xí nghiệp và các dự án có quy mô lớn.
  • Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
  • Cho vay không có tài sản đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ 3 và việc cho vay chủ yếu dựa vào uy tín của doanh nghiệp.
  • Cho vay có tài sản đảm bảo là loại cho vay trên cơ sở các tài sản đảm bảo, thế chấp hoặc là sự bảo lãnh của người thứ 3.

Vai trò của tín dụng doanh nghiệp

Tín dụng doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, điều đó được thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau:

Thứ nhất, với chức năng là một công cụ tài trợ, tín dụng doanh nghiệp góp phần đáp ứng các nhu cầu về vốn để duy trì và mở rộng sản xuất – kinh doanh. Do đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp mà các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Hoạt động tín dụng doanh nghiệp đã góp phần giúp cho doanh nghiệp tìm kiếm được nguồn vốn tài trợ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh để quy trình được diễn ra liên tục.( Cơ sở lý luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng  )

Thứ hai, tín dụng doanh nghiệp góp phần ổn định tiền tệ và bình ổn giá cả. Với chức năng tập trung và phân phối lại nguồn vốn, tín dụng doanh nghiệp đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế, nhất là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, qua đó làm giảm áp lực của lạm phát, góp phần ổn định kinh tế. Bên cạnh đó, tín dụng doanh nghiệp cung ứng vốn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế làm cho sản xuất ngày càng phát triển, hàng hóa, dịch vụ ngày càng nhiều, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Vì vậy, tín dụng doanh nghiệp góp phần làm ổn định giá cả thị trường trong nước.

Thứ ba, tín dụng doanh nghiệp góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội. Tín dụng doanh nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hóa, gia tăng dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu đời sống cho người lao động. Mặt khác, do nguồn vốn tín dụng cung ứng đã làm tăng khả năng khai thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội về tài nguyên, lao động… do đó, có thể thu hút nhiều lực lượng lao động xã hội để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển. Xã hội phát triển lành mạnh, đời sống nhân dân ổn định là tiền đề quan trọng trong việc ổn định trật tự xã hội.

Tóm lại, khi hoạt động tín dụng doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các vai trò trên thì đầu tư được mở rộng, kinh doanh ổn định và phát triển, góp phần làm tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, từ đó giải quyết công ăn việc làm và đời sống cho người dân được nâng cao.

XEM THÊM: ===> Kiến nghị Giải pháp cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

XEM THÊM: ===>  Lời kết luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, chất lượng hoạt động tín dụng doanh nghiệp

    • Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả, chất lượng hoạt động tín dụng doanh nghiệp
  1. Tổng nguồn vốn huy động( Cơ sở lý luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng  )

 Là chỉ tiêu cho biết nguồn tiền mà ngân hàng huy động được trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Vì đây là nguồn vốn tài trợ chủ yếu cho các hoạt động của ngân hàng nên dựa vào chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được chất lượng đầu vào của hoạt động tín dụng.

  1. Tổng dư nợ cho vay

Đây là chỉ tiêu hết sức quan trọng. Nếu tổng vốn huy động phản ánh đầu vào thì tổng dư nợ của ngân hàng phản ánh đầu ra của vốn huy động. Nó cho biết ngân hàng cho vay được nhiều hay ít. Khoản tiền ngân hàng cho các tổ chức kinh tế và các chủ thể khác vay lớn chứng tỏ ngân hàng đã tạo được uy tín với khách hàng, cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng, phong phú, phù hợp và được khách hàng ưa dùng, tham gia vào nhiều nghiệp vụ thanh toán. Ngược lại, chứng tỏ ngân hàng hoạt động kém, khả năng cho vay thấp, vốn ứ động nhiều.

  1. Hiệu suất sử dụng vốn vay

Tổng dư nợ

Hiệu suất sử dụng vốn vay = 

Tổng vốn huy động

Đây là chỉ tiêu thể hiện mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra về mặt vốn của một ngân hàng. Chỉ tiêu này dùng để so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động. Chưa thể nói được chỉ tiêu này càng lớn hay càng bé thì càng tốt vì nếu như tiền gửi ít hơn tiền vay thì ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn có chi phí cao hơn, còn nếu tiền gửi nhiều hơn tiền vay thì ngân hàng sẽ thừa vốn, không sử dụng hiệu quả và được xem như lỗ.

2.2 Doanh số cho vay doanh nghiệp

Đây là chỉ tiêu thể hiện quy mô cho vay của ngân hàng . Doanh số cho vay tăng dần qua các năm chứng tỏ ngân hàng mở rộng quy mô tín dụng để tận dụng nguồn vốn huy động được.

  1. Doanh số thu nợ doanh nghiệp( Cơ sở lý luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng  )

Chỉ tiêu này góp phần thể hiện khả năng quản lý, đánh giá , xử lý các khoản tín dụng của ngân hàng. Doanh số thu nợ chiếm tỷ trọng lớn trong doanh số cho vay chứng tỏ ngân hàng thu hồi nợ tốt, hạn chế được nợ xấu, từ đó, hạn chế được rủi ro tín dụng.

  1. Tỷ lệ dư nợ cho vay doanh nghiệp

  Dư nợ doanh nghiệp

Tỷ lệ dư nợ doanh nghiệp =

  Tổng dư nợ cho vay

Ta thường sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ doanh nghiệp để xác định vai trò của tín dụng doanh nghiệp trong hoạt động của chi nhánh. Tỷ lệ này cao đồng nghĩa với tín dụng doanh nghiệp là thế mạnh trong hoạt động của ngân hàng.

  1. Tỷ lệ nợ doanh nghiệp quá hạn trên tổng dư nợ

  Tổng dư nợ DN quá hạn

Tỷ lệ dư nợ DN quá hạn / Tổng dư nợ =

    Tổng dư nợ cho vay

Nợ quá hạn được hiểu là các khoản nợ đã đến hạn hoàn trả nhưng khách hàng không có khả năng hoàn trả cho ngân hàng, thường được tính là nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5. Tỷ lệ nợ quá hạn là một chỉ tiêu quan trọng cho phép đánh giá chất lượng tín dụng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp càng tốt và theo thông lệ quốc tế thì mức tốt nhất là không vượt quá 5%. Những ngân hàng nào có tỷ lệ nợ quá hạn < 5% được coi là ngân hàng có nghiệp vụ tín dụng tốt, chất lượng cho vay cao.

  1. Tỷ lệ nợ xấu doanh nghiệp trên tổng dư nợ ( Cơ sở lý luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng  )

  Tổng nợ xấu DN

Tỷ lệ nợ xấu DN / Tổng dư nợ =

 Tổng dư nợ cho vay

Trong nợ quá hạn, ta cần đặc biệt chú ý đến những khoản nợ xấu – thường thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu ở mức cho phép của ngân hàng thương mại là 5%.

DOWNLOAD

Xem thêm: ==> Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập 

Xem thêm: Kho 999+ báo cáo thực tập quản trị nguồn nhân lực

Lời kết: Trên đây Thuctaptotnghiep đã chọn lọc cho các bạn Cơ sở lý luận cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng từ những bài đạt điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài. Hy vọng với bài viết này có thể giúp cho các bạn có thêm tài liệu tham khảo để hoàn thành thật tốt bài luận của mình. Ngoài ra, trong quá trình làm bài các bạn gặp khó khăn trong vấn đề thiếu tài liệu hoặc không có thời gian viết bài luận cần thuê người viết, các bạn liên hệ qua zalo: 0934.536.149 để được hỗ trợ làm tốt bài luận của mình nhé.

Chúc các bạn hoàn thành thật tốt bài báo cáo thực tập của mình!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.