CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

Ngân hàng

Dưới đây Thuctaptotnghiep chia sẻ cho các bạn về Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt chọn lọc từ các bài điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài báo cáo thực tập kế toán. Các bạn tham khảo các mẫu dưới đây để hoàn thành thật tốt bài làm của mình nha.

Lưu ý: Trong quá trình làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp, nếu các bạn gặp khó khăn về đề tài hay chưa có công ty thực tập các bạn có thể liên hệ với dịch vụ làm báo cáo thực tập trọn gói qua:

SĐT  / Zalo: https://zalo.me/0934536149


MỤC LỤC

CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

1.1. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ:

Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên là huy động tiền gửi vơí trách nhiệm hoàn trả và cho vay thực hiện nghiệp vụ chiết khấu làm phương tiện thanh toán.

Ngân hàng ra đời được thừa nhận là một trong những phát minh kỳ diệu nhất của lịch sử thế giới và nó không ngừng đổi mới hoàn thiện để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội từng thời kỳ. Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay Ngân hàng là một bộ phạn không thể thiếu được và nó luôn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng và thanh toán trong đó thanh toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động của nó bao trùm lên tất cả các hoạt động kinh tế xã hội, đây là hoạt động trung gian gắn liên với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế. Kinh doanh Ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt với đối tượng là tiền tệ. Ngân hàng là trung gian tài chính giữa người gửi tiền và người vay vì vậy Ngân hàng sẽ là công cụ điều tiết hữu hiệu nền kinh tế cũng như một số lĩnh vực phi kinh tế. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song với đặc điểm hoạt động riêng có của mình ngành Ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Những vai trò đó được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất: đối với các cá nhân, đơn vị và các tổ chức kinh tế.

Ngân hàng nhận tiền của họ thông qua thanh toán không dùng tiền mặt mở tại Ngân hàng hoặc Ngân hàng nhận giữ hộ các tài sản quý, các giấy tờ có giá… nhờ vậy mà tiết kiệm được các chi phí cất giữ, bảo quản tiền tệ. Bên cạnh đó, cũng trên cơ sở số tiền gửi của khách hàng Ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền… làm giảm chi phí lưu thông tiền tệ mà vẫn đảm bảo an toàn thuận tiện và lợi ích cho các chủ thể nói trên.

Thứ hai: Đối với lĩnh vực tái sản xuất xã hội.

Ngân hàng tập trung huy động một khối lượng vốn tạm thời nhàn rỗi của mọi tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế và thông qua nghiệp vụ tín dụng, Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư, cho vay đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu thiếu vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế và các cá nhân có điều kiện để mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy quá trình tái sản xuất phát triển.

Thư ba: đối với lĩnh vực lưu thông tiền tệ.

Ngân hàng giữ vai trò là cơ quan tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ (hạn chế tăng cường khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông) vai trò này được thể hiện thông qua mức lãi suất tiền giửi và tiền vay.

Thứ tư: Đối với Nhà nước.

Ngân hàng là công cụ trực tiếp của Nhà nước để thức hiện các chính sách tiền tệ, tín dụng và thanh toán. Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế thông qua Ngân hàng. Đồng thời Ngân hàng còn thực hiện quan hệ tín dụng với Ngân hàng thông qua việc cho Ngân sách Nhà nước vay trong những trường hợp cần thiết, hay bảo quản dự trữ cho Nhà nước mốt số vàng và nGoại tệ.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của ngành Ngân hàng nói riêng những vai trò kể trên ngày càng được khẳng định thông qua những lĩnh vực hoạt động cơ bản của Ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và thanh toán.

1.1.2. Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.

Tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt, nó là công cụ nhiệm màu trong quá trình phát triển kinh tế. Tiền tệ cũng có mốt quá trình lưu thông dựa trên cơ sở cảu lưu thông hàng hoá, do vậy ở bất cứ xã hội nào còn sản xuất và lưu thông hàng hoá thì còn tồn tại lưu thông tiền tệ như một quy luật khách quan.

Có rất nhiều các định nghĩa theo các quan điểm khác nhau của các nhà kinh tế về tiền, nhưng chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản tiền là bất cứ thứ gì được chấp thuận chúng  trong việc thanh toán để lấy hàng hoá, dịch vụ hay trong việc hoàn trả các món nợ.

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tiền tệ đã ra đời và ngày càng phát triển đạt mức độ tinh xảo và thuận lơị hơn. Bắt đầu từ những hình thức trao đổi giản đơn: hàng đổi hàng đến tiền kim loại: vàng bạc và tiền giấy. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Tiền trong lưu thông bao gồm hai bộ phận là tiền mặt và tiền chuyển khoản (tiền ghi sổ) do vậy công tác thanh toán trong nền kinh tế cũng được thực hiện thưo hai cách thức phù hợp với hai bộ phận tiền tệ này đó là cách thức thanh toán bằng tiền mặt và cách thức thanh toán không dùng tiền  mặt.

Thanh toán bằng tiền mặt là quá trình thanh toán tiền hàng hoá trực tiếp trong đó có một lượng tiền mặt tương ứng với giá trị vật tư hàng hoá được trao đổi, vận động ngược chiều với sự vận động của vật tư hàng hoá đó. Cách thức tiền tệ này chỉ phù hợp với nền kinh tế khi sản xuất hàng hoá còn ở trình độ thấp, sản phẩm hàng hoá dịch vụ không nhiều và hoạt động mua bán chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp. Trong điều kiện nền kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển, với khối lượng hàng hoá được trao đổi lớn phạm vi mua bán rộng thì cách thức thanh toán bằng tiền mặt đã bộc lộ các nhược điểm như: chi phí in ấn, vận chuyển bảo quản và kiểm đếm lớn, tốc độ thanh toán chậm, khả năng đảm bảo an toàn không cao, hơn nữa với một khối lượng tiền mặt cần thiết trong lưu thông quá lớn dễ gây nên tình trạng lạm phát. Thực tế khách quan đó đòi hỏi phải có một cách thức thanh toán mới, tiên tiến hơn chính vì vậy thanh toán không dùng tiền mặt đã ra đời và nhanh chóng chiếm ưu thế trong nền kinh tế.

Thanh toán không dùng tiền mặt là chỉ các nghiệp vụ chi trả tiền hàng, dịch và các khoản khác trong nền kinh tế quốc dân được thực hiện bằng cách trích chuyển tài khoản trong hệ thống tín dụng hoặc bù trừ công nợ mà không vận dụng đến tiền mặt thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác.

Thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, tuy nhiên nó chỉ được phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trường. Ngày nay, thanh toán không dùng tiền mặt được áp dụng rộng khắp trong lĩnh vực tài chính đối nội, đối ngoại, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chu chuyển tiền tệ và được coi là cách thức thanh toán hiệu quả nhất. Sự tồn tại và phát triển của hệ thống vày tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân mở tài khoản tiền gửI và thanh toán hàng dịch vụ thông qua việc trích chuyển tài khoản trong hệ thống tín dụng.

Như vậy thanh toán không dùng tiền mặt phản ánh sự vận động của vật tư hàng hoá, dịch vụ trong lưu thông sự phát triển rộng khắp của nó trong nền kinh tế thị trường hiện đại là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế hàng hoá, do nên kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, khối lượng hàng hoá dịch vụ trao đổi trong nước cũng như ngoài nước tăng nhanh, tất yếu phải có cách tức trả tiền thuận tiện, và an toàn và tiết kiệm hơn thanh toán bằng tiền mặt.

1.1.3. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.

Khi nền kinh tế thị trường phát triển thì thanh toán không dùng tiền mặt có vị trí vô cùng quan trọng. Thanh toán không dùng tiền mặt đã mạng lại hiệu quả kinh tế cao và là một phần không thể thiếu được trong hoạt động kinh tế, điều đó đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Vai trò này được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất – thanh toán không dùng tiền mặt thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn rút ngắn chu kỳ sản xuất, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất và tác động trực tiếp dến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nó được coi là khâu đầu tiên và cũng là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất và liên quan đến toàn bộ lĩnh vực lưu thông hàng hoá, tiền tệ của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Do vậy nếu tổ chức công tác thanh toán nhanh chóng an toàn và chuẩn xác sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn và góp phần thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Thứ hai – thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho Ngân hàng huy động được tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tiến hành đầu tư, cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế. Để tham gia công tác thanh toán không dùng tiền mặt các đơn vị,các nhân mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng, trên mỗi tài khoản tiền gửi đó có số lại thấp, hơn nữa việc tiến hành thanh toán chi trả không phải là thường xuyên. Do đó Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để thu lợi nhuận. Đây là nguồn vốn lớn, nếu có kế hoạch sử dụng tốt sẽ mạng lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Thứ ba – Trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, thanh toán không dùng tiền mặt góp phần giảm thấp tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, do đó tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội. Mặt khác, thanh toán không dùng tiền mặt còn tạo ra sự chuyển hoá thông suất giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản. Cả hai khía cạnh đó đều tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá và điều hoà lưu thông tiền tệ. Chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế bao gồm hai bộ phận cấu thành đó là thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Nếu tổng chu chuyển tiền tệ không đổi mà tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt tăng lên sẽ làm giảm tỷ trọng tiền mặt một cách tương ứng, từ đó giảm chi phí lưu thông như: chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản tiền, chi phí về thời gian thanh toán.

Thứ tư – Thanh toán không dùng tiền mặt tạo những điều kiện tiền đề kinh tế thuận lợi để Ngân hàng kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tác nhân kinh tế với mục đích củng cố kỷ luật thanh toán, đảm bảo nguyên tắc thu chi tài chính và nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn. Thu chi bằng tiền của các tác nhân thể hiện trên tài khoản tại Ngân hàng, nó phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó để làm căn cứ  cho vay hay thu hồi nợ đồng thời qua việc giám sát, Ngân hàng có thể có những kiến nghị, giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển, cũng thông qua việc giám sát tình hình thu chi qua tài khoản mà Ngân hàng có thể kiểm soát tình hình chấp hành các chính sách, chế độ tài chính, các nguyên tắc thanh toán, quản lý tiền tệ ở các doanh nghiệp.

Như vậy, thanh toán không dùng tiền mặt có những vai trò trực tiếp cũng như gián tiếp ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Việt Nam thực hiện tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tạo điều kiện thuận lơị cho từng thành vien trong nền kinh tế đạt được hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh và thúc đẩy nền kinh tế  ngày càng phát triển.

1.2. CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1.2.1. Các quy định chung về thanh toán không dùng tiền mặt.

Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những chức năng chủ yếu của Ngân hàng thương mại, vì vậy các Ngân hàng luôn quan tâm đến vông nghệ  thanh toán dể công  tác thanh toán này ngày càng mở rộng và phát triển. Sự quan tâm này được tể hiện rõ nét nhất la thốc đốc Nhà nước Nhà nước đã ban hành Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21/2/1994 về thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt, NĐ 30/CP ban hành quy chế phát hành và sử dụng séc,, thông tư 07/TT-NH1 hướng dẫn thực  NĐ 30/CP. Chính những Quyết định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thanh toán không dùng tiền mặt được hoàn thiện và phát triển.

Những quy định chung về thanh toán không dùng tiền mặt theo QĐ 22/QĐ-NH1.

Điều 1: Các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, đơn vị vũ trang, công dân Việt Nam và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam được quyền lựa chọn Ngân hàng để mở tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.

Các đơn vị và cá nhân có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt phải theo những quy định trong thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt.

Điều 2: Việc mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng và việc thực hiện thanh toán qua tài khoản được ghi bằng VND, trường hợp mở tài khoản và thanh toán bằng ngoại tệ phải thực hiện theo cơ chế quản lý ngoại hối của chính phủ ban hành.

Điều 3: Để đảm bao thực hiện thanh toán đầy đủ kịp thời, các chủ tài khoản phải có đủ điều kiện tài khoản. Mọi trường hợp thanh toán vượt quá số dư tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng là phạm pháp và phải bị xử lý theo pháp luật.

Điều 4: Ngân hàng có trách nhiệm:

  • Thực hiện các uỷ nhiệm thanh toán của chủ tài khoản bảo đẩm chính xác, an toàn và thuận tiện. Các nhà có trách nhiệm chi trả bằng tièn mặt hoặc chuyển khoản trong phạm vi số dư tièn gửi theo yêu cầu của chủ tài khoản.
  • Kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoan trược khi thực hiệ thanh toán và được quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản đó không đủ tiền và chịu trách nhiệm liên đới của hai bên khách hàng.
  • Nếu do thiếu sót trong qúa trình thanh toán gây thiệt hại cho khách hàng thì phải bồi thường thiệt hại và tuỳ theo mức độ vi phạm có thể xử lý theo pháp luật.

Điều 5: Ngân hàng chỉ cung cấp số liệu trên tài khoản cho các cơ quan ngoài Ngân hàng khi có các văn bản của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Điều 6: khi thực hiện các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, Ngân hàng được thu phí theo quy định của thống đốc Ngân hàng Nhà nước. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

1.2.2. Chứng từ và tài khoản kế toán.

Bất kỳ mốt hệ thống thanh toán nào cũng cần có các yéu tố, cac giai đoạn thanh toán nhất định. Để thực hiện được một quá trình thanh toán thì phải có các công cụ thanh toán, các hình thực thanh toán, phương thức thanh toán cụ thẻ. Mỗi hình thức thanh toán lại có những quy định, những tiền khoản về thanh toán và có các chứng từ , tài khoản phù hợp.

Các chứng từ thường được sử dụng trong thanh toán không dùng tiền mặt gồm: các loại séc thanh toán: séc tiền mặt, séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc chuyển tiền, giấy uỷ nhiệm thu, UNC, giấy mở thư tín dụng, ngân phiếu thanh toán, thẻ tín dụng, giấy báo và các bảng kê.. Để phù hợp với đặc điểm hoạt động cùa từng hệ thống Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước có những quy định cho những mẫu chứng từ thanh toán cụ thể.

Chứng từ dùng trong thanh toán không dùng tiền mặt có đặc điểm vừa là chứng từ gốc vừa là chứng từ ghi sổ, các chứng từ này do chính khách hàng lập ra mà Ngân hàng không được tự ý sửa chữa, bổ sung. Nhưng để đảm bảo tính hợp lệ, hợp pháp của các chứng từ, Ngân hàng luôn phải kiểm tra kỹ lưỡng trước khi hoạch toán.

Việc thực hiện kế kế toán thủ công thì chứng từ phải lập đủ số liên ghi vào tài khoản có cùng các giấy báo nợ, giấy báo có gửi cho khách hàng tham gia thanh toán. nhưng ngày nay, việc thực hện kế toán trên máy tính toàn bộ nên số lượng các liên của mỗi bọ chứng từ giảm bớt nhưng vẫn đủ số lượng đáp ứng chu cầu hạch toán và việc thực hiện kế toán trên máy vi tính, truyền nhận thông tin bằng hệ thống tự động đã làm tăng độ chính xác, nhanh chóng trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt.

+ Nhóm tài khoản của khách hàng:

  • TK 431; tiền gửi của khách hàng trong nước bằng VND.
  • TK 432: tiền gửi của khách hàng trong nước bằng ngoại tệ.
  • TK 435: tiền gửi của khách hàng nước ngoài bằng VND.
  • TK  436: tiền gửi của khách hàng nước ngoài bằng ngoại tệ.
  • + Nhóm tài khoản cho vay băng nội tệ và ngoại tệ đối với khách hàng trong nước và nước ngoài.
  • TK 466: nhận ký quỹ bằng VND.
  • TK 4661: tiền ký gửi để đảm bảo thanh toán séc.
  •             TK 4662: tiền ký gửi để mở thư tín dụng.
  •             TK 4663: tiền ký gửi để bảo đảm than toán thẻ
  • TK 467: nhận ký quỹ bằng ngoại tệ.
  • TK 4671: tiền ký gửi để bảo đảm thanh tón séc.
  • TK 4672: tiền ký gửi để mở thư tín dụng.
  • TK 4673: tiền ký gửi để bảo đảm than toán thẻ.
  • TK 464: chuyển tiền phải trả bằng VND.
  • TK 456: chuyển tiền phải trả bằng ngoại tệ.
  • Nhóm tài khoản liên quan.
  • TK 5211: liên hàng đi năm nay.
  • TK 5212: liên hàng đến năm nay. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )
  • TK 1113 tiền gửi thanh toán tại ngân hàng nhà nứơc bằng VND
  • TK 5111:chuyển tiền đi năm nay
  • TK5112: chuyển tiền đến năm nay

Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Hiện hành.

Theo quyết định số 22/ QĐ-NH1 ban hành ngày 21/02/1994 về thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt  thì các đơn vị và cá nhân được áp dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt sau:

  • Séc: ( séc lĩnh tiền mặt, sẽc chuyển khoản, séc bảo chi).
  • Uỷ nhiệm chiệm chuyển tiền
  • Uỷ nhiệm thu
  • Thư tín dụng
  • Ngân phiếu thanh toán
  • Thẻ thanh toán
1.2.3.1.thanh toán bằng séc

Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lâp trên mẫu do Ngân hàng Nhà nước quy định yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình tính tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên séc hoặc cầm séc đó.

Séc là một loại chứng từ thanh toán được áp dụng rổng rãi ở tất cả các nước tren thế giới, quy tắc sử dụng séc đã được chuẩn hoá trên luật thương mại quốc tế và trên công ước quốc tế.

Nghị định 30/CP của chính phủ ban hành về quy chế phát hành và sử dụng séc do thủ tướng Chính phủ ký ngày 09/05/1996 quy định rõ ở Việt Nam được phép lưu hành loại séc vô danh và séc ký danh, trong đó séc vô danh được chuyển nhượng tự do, còn séc ký danh được phép chuyển nhượng thông qua thủ tục ký hậu chuyển nhượng.

Thời hạn hiệu lực của séc là 15 ngày kể từ ngày chủ tài khoản phát hành séc đến ngày người thụ hưởng nộp séc vào Ngân hàng (gồm cả ngày chủ nhật và ngày lễ). Nếu ngày kết thúc của thời hạn là ngày chủ nhật, ngày lễ thì thời hạn được lùi vào ngày làm việc tiếp theo đầu ngày  chủ nhật và ngày lễ đó.

Séc được áp dụng cho các đơn vị và cá nhân mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng nhưng Ngân hàng sẽ không chấp nhận mở tài khoản và bán séc đối với những khách hàng có tên cấm phát hành séc do Ngân hàng Nhà nước thông báo. Chủ tài khoản chỉ được phép phát hành séc trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi của mình tại Ngân hàng.

Séc là loại chứng từ thanh toán quan trọng nên cả người phát hành và người thụ hưởng cần bảo quản chặt hẽ. Khi xảy ra mất séc phải tông báo ngay bằng văn bản cho Ngân hàng nơi mở tài khoản, nếu thông báo đến khi tờ séc đã được thanh toán thì phải chịu thiệt hại. Trách nhiệm về phía Ngân hàng thì không được phép thanh toán séc đã có thông báo mất séc của chủ tài khoản, nếu thanh toán những tờ séc đó thì Ngân hàng phải đền bù thiệt hại cho người mất séc ở Việt Nam hiện nay, séc có thể dùng để lĩnh tiền mặt, có thể dùng để chuyển khoản và nếu cần thì khách hàng phải đến Ngân hàng làm thủ tục bảo chi.

  • Séc lĩnh tiền mặt.
  • Séc lĩnh tiền mặt là loại séc chỉ được dùng để rút tiền mặt tại Ngân hàng nơi đơn vị mở tài khoản.
  • Séc dùng để lĩnh tiền mặt khi có hai đường song song chéo góc ở phía trên bên trái hoặc không có chữ “chuyển khoản” ở mặt trước tờ séc.
  • Thủ tục thanh toán: ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )
  • Người lĩnh tiền mặt sẽ nộp séc trong đó đã ghi rõ họ tên, số CMND của mình trên tờ séc có kèm theo CMND của mình vào Ngân hàng nơi phát hành séc mở tài khoản.
  • Ngân hàng thanh toán kiểm tra điều kiện thanh toán của tờ séc, đối chiếu họ tê, số CMND ghi tên trên tờ séc với họ tên và CMND của người lĩnh tiền. Nếu đáp ứng yêu cầu hợp lệ, đủ đối chiếu thanh toán, số dư tài khoản đủ để thanh toán thì Ngân hàng sẽ ghi ngày tháng năm thanh toán và ký tên sau đó làm thủ tục chi trả tiền mặt cho khách hàng và hạch toán.

Nợ tài khoản tiền gửi của người phát hành séc: các tờ séc làm chứng từ ghi sổ chi tiết:

Có tài khoản tiền mặt.

  • Séc chuyển khoản.
  • Séc thanh toán chuyên khoản là loại séc do chủ tài khoản phát hành và giao trực tiếp cho người thụ hưởng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và séc khoản thanh toán khác.
  • Hình thức của séc thanh toán chuyển khoản là séc có 2 đường gạch chéo song song ở phía bên trái mặt trước của tờ séc hoặc viết hay đóng dấu từ “chuyển khoản” ở phía trên bên trái mặt trước khi chủ tài khoản phát hành séc.

Phạm vi thanh toán: Séc chuyển khoản dùng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng hoặc khác chi nhánh nhưng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố.


CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 2

1.1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:

1.1.1 Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt:

            Cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ có sự phân hoá xã hội gồm phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất dẫn đến nhiều loại sản phẩm ra đời và từ đó xuất hiện sự trao đổi hàng hoá.

Quá trình trao sản phẩm hàng hoá đã phát triển từ thấp đến cao ban đầu còn lẻ tẻ hay còn gọi là trao đổi giản đơn -‘Vật đổi vật’. Giai đoạn này chưa xuất hiện tiền tệ trong trao đổi. Khi sản xuất hàng hoá phát triển  thì việc trao đổi hàng hoá trở nên thường xuyên và rộng rãi hơn, hình thức trao đổi giản đơn-  vật đổi vật không còn phù hợp nữa. Để thuận tiện cho quá trình trao đổi, người ta đã chọn ra một hàng hoá có tính phổ biến nhất làm vật ngang giá chung để có thể trao đổi trực tiếp với một hàng hoá bất kỳ. Lúc đầu vật ngang giá chung được chọn là một loại hàng hoá có giá trị cao được xã hội chấp nhận sau đó được cố định ở một số kim loại quý hiếm đó là bạc và vàng và sau cùng là vàng. Vàng đã trở thành tiền tệ trong trao đổi – tiền thực.

            Tuy nhiên, qua thực tế nhiều năm người ta nhận thấy tiền bằng kim loại có những hạn chế  nhất định, đặc biệt là khi nền kinh tế phát triển mạnh thì tiền bằng kim loại càng bộc lộ rõ hơn những hạn chế và khiếm khuyết của nó. Nếu sử dụng tiền vàng thì nhà nước phải có một khối lượng vàng rất lớn dự trữ. Điều này những nước có nền kinh tế kém phát triển không thể thực hiện được. Vì vậy người ta đã tìm đến các vật chất khác để thay thế tiền vàng trong lưu thông đó là  Tiền giấy. Tiền giấy ra đời thay cho tiền vàng có ưu điểm là nhẹ nhàng khi vận chuyển vì dễ thay đổi mệnh giá. Tiền giấy xuất hiện thích hợp cho nhu cầu trao đổi, phục vụ thuận tiện có thể thực hiện đầy đủ các chức năng của tiền.

            Cùng với sự phát triển của xã hội, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển mạnh mẽ, lưu thông hàng hoá ngày càng được mở rộng về cả qui mô, phạm vi lẫn tính thường xuyên, liên tục thì thanh toán bằng tiền mặt cũng dần dần không đáp ứng được nhu cầu của thanh toán nữa, vì  thanh toán bằng tiền mặt sẽ làm cho khối lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên rất lớn. Từ đó rất khó khăn cho quá trình điều hoà lưu thông tiền mặt. Khối lượng tiền mặt tăng lên sẽ gây sức ép về mặt giá cả, đó là một trong những nguyên nhân gây nên lạm phát cao. Mặt khác thanh toán bằng tiền mặt phải chi phí rất lớn cho việc in ấn, vận chuyển, đóng gói, bảo quản, kiểm đếm, cất trữ… Bên cạnh đó chức năng phương tiện thanh toán của tiền tệ lại cho phép tiền tệ vận động tách rời với sự vận động của hàng hoá. Chính do chức năng này, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế  một phương thức thanh toán tiến bộ hơn đã ra đời đó là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt với hình thức tiền ghi sổ. Trong đó, Ngân hàng đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng.

            Vậy thanh toán không dùng tiền mặt là cách thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả sang tài khoản của người thụ hưởng mở tại Ngân hàng hoặc là bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng.

            Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời làm giảm được khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết giảm được chi phí trong khâu in ấn tiền, bảo quản, vận chuyển tiền, giảm được chi phí lao động xã hội. Nâng cao hiệu quả thanh toán trong nền kinh tế, góp phần tăng tốc độ luân chuyển vốn của xã hội, thúc đẩy phát triển sản xuất lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ.

             Ngày nay, hệ thống Ngân hàng phát triển mạnh, thanh toán dưới hình thức ghi sổ ngày càng được mở rộng cả về qui mô và phạm vi, tạo khả năng cho công tác thanh toán không dùng tiền mặt được phát triển mạnh mẽ. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Xem thêm: Lời mở đầu hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

1.1.2 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt:

a) Thanh toán KDTM phục vụ cho sản xuất lưu thông hàng hoá không ngừng phát triển.

            Mục tiêu của sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để bán – tiêu thụ. Thông qua khâu tiêu thụ các doanh nghiệp sẽ thu hồi lại vốn để tiếp tục chu kì sản xuất tiếp theo -T-H…SX….H’- T’, quá trình đó được thông qua khâu thanh toán. Như vậy khâu thanh toán có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Như đã đề cập ở phần trên, TTKDTM chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng doanh số thanh toán tiền tệ của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng. Do vậy nếu tổ chức tốt TTKDTM sẽ có tác động to lớn đến việc thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá không ngừng phát triển.

b) Góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, giảm chi phí lưu thông xã hội.

            Công tác thanh toán không dùng tiền mặt gắn liền với công tác kế hoạch hoá lưu thông tiền tệ. Thực hiện tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt tức là tăng nhanh tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong chu chuyển tiền tệ, sẽ làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm được các chi phí cần thiết phục vụ cho lưu thông tiền mặt, tác động trực tiếp đến thị trường giá cả, kiềm chế lạm phát tiến tới ổn định tiền tệ.

            Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tạo điều kiện để giảm chi phí lưu thông tiền mặt, tiết kiệm lao động xã hội: việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm tăng khối lượng tiền ghi sổ và giảm khối lượng  tiền  mặt trong lưu thông, từ đó sẽ tiết giảm được chi phí cho toàn xã hội nói chung và cho ngành Ngân hàng nói riêng do tiết giảm được chi phí về in ấn tiền, kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền.

c) Góp phần tăng nguồn vốn cho NHTM

            Công tác thanh toán không dùng tiền mặt càng phát triển, càng mở rộng thì nguồn vốn Ngân hàng huy động được từ số dư trên các tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế sẽ tăng lên, tăng nguồn vốn tín dụng của ngân hàng. Đồng thời thông qua thanh toán không dùng tiền mặt, Ngân hàng nắm được một cách chính xác, hợp lý tình hình thiếu vốn của các bên tham gia thanh toán, để kịp thời cho vay, phát tiền vay đúng mục đích và có vật tư hàng hoá đảm bảo.

d) Phục vụ việc chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN

             Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước: việc mở rộng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giảm được khối lượng lớn tiền mặt trong lưu thông và làm tăng khối lượng tiền ghi sổ, điều đó giúp cho Ngân hàng Trung ương có thể sử dụng hữu hiệu các công cụ của chính sách tiền tệ.

             Như vậy, thanh toán không dùng tiền mặt giữ một vai trò hết sức quan trọng. Đứng trên giác độ của ngành Ngân hàng, nó phản ánh khá trung thực trình độ quản lí, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của Ngân hàng cũng như sự tín nhiệm của khách hàng. Trong nội bộ một Ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ tác động đến nghiệp vụ thanh toán mà còn tác động tới các mặt nghiệp vụ khác của Ngân hàng như nghiệp vụ tín dụng. Nếu làm tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt  thì sẽ thúc đẩy nghiệp vụ tín dụng phát triển và ngược lại. Đi đôi với sự phát triển kỹ thuật tin học, ngày nay hoạt động Ngân hàng hiện đại cũng chuyển hướng kinh doanh bằng cách mở  rộng các dịch vụ thay cho kinh doanh chênh lệch  lãi suất tiền gửi và cho vay là chủ yếu như trước đây, trong đó dịch vụ thanh toán đóng vai trò trọng tâm và đặc biệt quan trọng.

1.1.3 Quá trình phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam.

Từ khi thành lập ngân hàng quốc gia( Tháng 5-1951) đến nay hoạt động thanh toán luôn đóng vị trí, vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng để phục vụ yêu cầu luân chuyển vốn của nền kinh tế. Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn thì cách nhìn nhận và nội dung hoạt động của TTKDTM cũng có khác nhau. Có thể phân hoạt động thanh toán thành 2 giai đoạn là hoạt động thanh toán trong thời kì nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập chung( từ 1989 về trước) và hoạt động thanh toán trong thời kì nền kinh tế nước ta chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự chỉ đạo của nhà nước( từ 1990 đến nay).

1.1.3.1 Thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung.

            Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, Ngân hàng luôn là trung tâm thanh toán của nền kinh tế , Thanh toán không dùng tiền mặt chỉ được mở rộng trong lĩnh vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nhằm tập trung nguồn vốn phục vụ sản xuất, hướng theo kế hoạch của nhà nước đã đề ra.

Ở thời kỳ này mặc dù chưa hình thành hệ thống Ngân hàng hai cấp nhưng vẫn có nhiều cải tiến về công tác TTKDTM nhằm nâng cao hiệu quả Thanh toán không dùng tiền mặt, đáp ứng cho nhu cầu thanh toán vốn, chuyển vốn cho nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập chung và đáp ứng chuyển tiền phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ.

  • Tuy vậy TTKDTM ở thời kì này còn bộc lộ một số nhược điểm làm hạn chế kết quả của hoạt động TTKDTM:
  • – TTKDTM chủ yếu tập chung phục vụ cho khu vực kinh tế quốc doanh, tập thể, các cơ quan đoàn thể. TTKDTM chưa được sử dụng trong dân cư, từ đó làm cho việc thanh toán trong dân cư diễn ra hoàn toàn dưới hình thức tiền mặt.
  • – Cơ chế thanh toán cứng nhắc với việc quy định các doanh nghiệp, TCKT chỉ được mở tài khoản tại Ngân hàng nơi doanh nghiệp đóng trụ sở. Các hình thức thanh toán mới chỉ tập chung vào một số hình thức truyền thống như: Séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán liên hàng. Các hình thức thanh toán hiện đại như: Thẻ thanh toán, thanh toán bù trừ vẫn chưa được áp dụng.
  • -Kỹ thuật thanh toán lạc hậu, chủ yếu làm bằng tay nên thanh toán chậm trễ, sai sót nhiều gây mất lòng tin đối với những người tham gia sử dụng tiện ích thanh toán.

Những tồn tại nêu trên cùng với việc Ngân hàng luôn khan hiếm tiền mặt nên gây tâm lý cho khách hàng ngại Thanh toán không dùng tiền mặt, họ luôn nắm giữ một lượng tiền rất lớn để sẵn sàng chi trả khi cần thiết. Tâm lý thích chi tiêu tiền mặt của người Việt Nam cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại.

1.1.3.2. Thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ Ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường.

            Bước sang thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. điều này đã làm thay đổi hoàn toàn cơ chế quản lý của nền kinh tế, trong đó ngành Ngân hàng đã chuyển từ hệ thống Ngân hàng một cấp sang hệ thống Ngân hàng hai cấp. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

            – Cấp Ngân hàng nhà nước:  có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và Ngân hàng đồng thời đóng vai trò là Ngân hàng phát hành và Ngân hàng của các Ngân hàng.

            – Cấp NHTM (TCTD): Thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng.

Đi đôi với việc đổi mới về mô hình tổ chức, các cơ chế chính sách, cơ chế nghiệp vụ cũng được thay đổi trong đó có nghiệp vụ TTKDTM để phù hợp với Ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.

Có thể nói TTKDTM ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã có sự chuyển biến tích cực.

+ Trước hết về xây dựng cơ chế chính sách và cơ chế nghiệp vụ: Về phía Chính phủ đã ban hành nghị định 91/CP (1990) và tiếp đến là nghị định 64/CP (2001) để thay thế nghị định 91/CP về tổ chức hoạt động thanh toán trong nền kinh tế. Riêng về séc chính phủ đã ban hành nghị định 30/CP để điều chỉnh công cụ thanh toán séc ở Việt Nam sang năm 2003 chính phủ đã ban hành nghị định 159/CP để thay nghị định 30/CP. Về phía NHNN thì thống đốc đã ban hành quyết định 22(1990) và sau đó là quyết định 226 (2002)  để thay thế quyết định 22 về cơ chế TTKDTM ở Việt Nam.

Các văn bản của chính phủ và NHNN đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán ở Việt Nam đồng thời cũng quy định rõ các hình thức thanh toán áp dụng cho phù hợp với nền kinh tế thị trường đa thành phần.

+ Về công nghệ thanh toán thì đã có bước nhẩy vọt là chuyển từ kỹ thuật thanh toán thủ công sang kỹ thuật thanh toán điện tử đặc biệt là khâu chuyển tiền.

+ Về tổ chức bộ máy và cán bộ: Các NHTM là các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được sắp xếp lại theo từng hệ thống để xây dựng hệ thống thanh toán của từng hệ thống, về tổ chức thanh toán liên Ngân hàng (thanh toán bù trừ liên Ngân hàng và chuyển tiền điện tử liên Ngân hàng ). Về đội ngũ cán bộ được bố trí đủ về số lượng và nâng cao trình độ nghiệp vụ thông qua các khoá đào tạo lại đặc biệt là các lớp học chuyên đề về thanh toán, về tin học.

+ Về các hình thức thanh toán thì ngoài việc hoàn thiện các hình thức truyền thống còn ban hành thêm thẻ thanh toán.

Với những cố gắng của các NHTM trong thời kỳ đổi mới đã làm cho hoạt động của các NHTM nói chung và hoạt động thanh toán nói riêng có sự chuyển biến đáng khích lệ. Đã đảm bảo được khâu thanh toán nhanh, chính xác, an toàn tài sản nên khách hàng không còn phàn nàn về thanh toán chậm trễ, thiếu chính xác như thời kỳ bao cấp. Riêng khâu thanh toán trong dân cư đang được triển khai mạnh mẽ và thu được những kết quả bước đầu

1.2 QUI  ĐỊNH CHUNG TRONG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT.

1.2.1 Những quy định chung.

            Để đẩy mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt. Nhiều văn bản pháp qui về lĩnh vực thanh toán đã được Chính phủ ban hành như Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20/09/2001 về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều quyết định, thông tư, chỉ thị  mới  như Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/3/2002 thay thế cho Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21/02/1994 về ban hành thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt. Các văn bản trên nhằm hoàn thiện dần chế độ thanh toán không dùng tiền mặt cho phù hợp với yêu cầu đổi mới của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các Ngân hàng, tổ chức tín dụng triển khai nhiều thể thức, hình thức thanh toán tiên tiến, từng bước hoà nhập với hệ thống thanh toán theo thông lệ quốc tế.

            Các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, đơn vị vũ trang, công dân Việt Nam và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (gọi chung là đơn vị cá nhân) được quyền lựa chọn Ngân hàng để mở tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán. Việc mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng và thực hiện thanh toán qua tài khoản được ghi bằng đồng Việt Nam. Trường hợp mở tài khoản và thanh toán bằng ngoại tệ phải thực hiện theo qui chế quản lí ngoại hối của Chính phủ Việt Nam ban hành.

              Để mở tài khoản tiền gửi thanh toán các doanh nghiệp, cá nhân cần phải gửi cho Ngân hàng nơi mở tài khoản những giấy tờ sau:

* Đối với khách hàng là các DN, tổ chức kinh tế:

  • – Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản ký tên và đóng dấu, trong đó ghi rõ:
  • + Tên đơn vị
  • + Họ và tên chủ tài khoản
  • + Địa chỉ giao dịch của đơn vị
  • + Số, ngày tháng năm, nơi cấp giấy CMT nhân dân của chủ tài khoản. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )
  • + Tên Ngân hàng nơi mở tài khoản
  • – Bản đăng ký mẫu dấu và chữ ký để giao dịch với Ngân hàng nơi mở tài khoản gồm:
  • + Chữ ký của chủ tài khoản và của những người được uỷ quyền ký thay chủ tài khoản trên các giấy tờ thanh toán giao dịch với Ngân hàng (chữ ký thứ nhất).
  •  + Chữ ký của kế toán trưởng và của những người được uỷ quyền ký thay kế toán trưởng (chữ ký thứ hai).
  • + Mẫu dấu của đơn vị.
  • – Các văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của đơn vị như quyết định thành lập đơn vị, giấy phép thành lập doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm thủ trưởng đơn vị…(nếu là bản sao phải có chứng nhận của công chứng Nhà nước ).

*  Đối với khách hàng là các cá nhân:

  • – Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản ký tên, trong đó ghi rõ:
  • + Họ và tên của chủ tài khoản
  • + Địa chỉ giao dịch của chủ tài khoản
  • + Số, ngày tháng năm và nơi cấp giấy CMT của chủ tài khoản.
  • + Tên Ngân hàng nơi mở tài khoản.
  • – Bản đăng ký mẫu chữ ký của chủ tài khoản để giao dịch với Ngân hàng nơi mở tài khoản. Đối với tài khoản đứng tên cá nhân không thực hiện việc uỷ quyền người ký thay chủ tài khoản, tất cả các giấy tờ thanh toán giao dịch với Ngân hàng đều phải do chủ tài khoản ký.

 * Sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán

  • – Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản tiền gửi.
  • Trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi và tuỳ theo yêu cầu chi trả, chủ tài khoản có thể thực hiện các khoản thanh toán qua Ngân hàng hoặc rút tiền mặt ra để sử dụng.
  • – Chủ tài khoản chịu trách nhiệm về việc chi trả vượt quá số dư tài khoản tiền gửi và chịu phạt theo qui định; chịu trách nhiệm về sai sót, lợi dụng trên các giấy tờ thanh toán qua Ngân hàng của những người được chủ tài khoản uỷ quyền ký thay.
  • – Chủ tài khoản phải tuân theo những qui định và hướng dẫn của Ngân hàng phục vụ mình về việc lập các giấy tờ thanh toán, phương thức nộp, lĩnh tiền ở Ngân hàng. Trên giấy tờ thanh toán, các chữ ký và dấu phải đúng mẫu đã đăng ký tại Ngân hàng.
  • – Chủ tài khoản tự tổ chức hạch toán, theo dõi số dư tiền gửi ở NH. Trong phạm vi 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được giấy báo Nợ, giấy báo Có về các khoản giao dịch trên tài khoản tiền gửi, bản sao sổ tài khoản tiền gửi hoặc giấy báo số dư tài khoản tiền gửi cuối tháng do Ngân hàng gửi đến, chủ tài khoản phải đối chiếu với sổ sách của mình, nếu có chênh lệch thì báo ngay cho Ngân hàng biết để cùng nhau đối chiếu, điều chỉnh lại số liệu cho khớp đúng.

1.2.2 Quy định về trách nhiệm thanh toán.

a) Đối với người chi trả ( người mua ).

Phải mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng hoặc các tổ chức làm dịch vụ thanh toán. Khi tiến hành thanh toán phải thực hiện thanh toán thông qua tài khoản đã mở theo đúng chế độ quy định và phải trả phí thanh toán theo quy định của ngân hàng và tổ chức làm dịch vụ thanh toán.

b) Đối với người thụ hưởng(người bán ).

Phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời và đúng lượng gía trị mà người mua đã thanh toán đồng thời phải kiểm soát kỹ càng các chứng từ phát sinh trong quá trình thanh toán. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

1.2.3 Đối với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán-NHTM .

Là trung gian thanh toán và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng các NHTM phải có trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt động thanh toán:

  • – Khi nhận được giấy đăng ký mở tài khoản của khách hàng, Ngân hàng có trách nhiệm giải quyết việc mở tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trong ngày làm việc. Sau khi đã chấp nhận việc mở tài khoản, Ngân hàng thông báo cho khách hàng biết số hiệu tài khoản, ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản.  
  • – Việc trích tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các khoản chi trả phải có yêu cầu của chủ tài khoản, trừ trường hợp chủ tài khoản vi phạm kỷ luật chi trả hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền được pháp luật quy định buộc chủ tài khoản phải thanh toán, Ngân hàng được quyền trích tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện việc thanh toán đó. 
  • – Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách hàng, cung cấp đầy đủ các loại chứng từ thích hợp với mỗi loại hình thanh toán, đảm bảo lập đúng thủ tục quy định, dấu và các chữ ký trên giấy tờ thanh toán đúng với mẫu đã đăng ký, số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng còn đủ để thanh toán.
  • Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán nếu các giấy tờ thanh toán không đủ các yêu cầu trên.
  • – Hạch toán các nghiệp vụ phát sinh theo yêu cầu của khách hàng một cách chính xác, kịp thời, an toàn tài sản.
  • – Cuối ngày làm việc Ngân hàng có trách nhiệm gửi giấy báo Nợ, báo Có cho khách hàng và cuối tháng gửi giấy báo số dư tài khoản tiền gửi cho chủ tài khoản biết.
  • Khi thực hiện các dịch vụ, Ngân hàng được thu phí theo qui định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
  • – Đảm bảo duy trì số dư trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước để đáp ứng được cho tất cả các khoản thanh toán của khách hàng.

1.3.5 Thanh toán bằng thẻ Ngân hàng ( thẻ thanh toán).

Thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán do Ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các máy trả tiền mặt tự động( ATM).

Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn với kỹ thuật tin học ứng dụng trong Ngân hàng. Thẻ thanh toán có nhiều loại, nhưng có một số loại thẻ được sử dụng phổ biến ở Việt Nam

a) Thẻ ghi nợ:

Người sử dụng thẻ này không phải lưu ký tiền vào tài khoản đảm bảo thanh toán thẻ. Căn cứ để thanh toán thẻ là số dư TKTG của chủ sở hữu thẻ tại Ngân hàng và hạn mức thanh toán tối đa do Ngân hàng phát hành thẻ quy định.

Thẻ này được áp dụng đối với những khách hàng có quan hệ tín dụng thanh toán thường xuyên, có tín nhiệm với Ngân hàng, do Giám đốc Ngân hàng phát hành thẻ xem xét và quyết định.

b) Thẻ ký quỹ thanh toán:

Để được sử dụng thẻ, khách hàng phải lưu ký một số tiền nhất định vàoTK đảm bảo thanh toán thẻ thông qua việc trích TKTG hoặc nộp tiền mặt, số tiền ký quỹ là hạn mức của thẻ và được ghi vào bộ nhớ của thẻ. Loại thẻ này áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng.

c) Thẻ tín dụng:

Áp dụng đối với khách hàng đủ điều kiện được Ngân hàng đồng ý cho vay. Mức tiền vay được coi như hạn mức tín dụng và được ghi vào bộ nhớ của thẻ, khách hàng chỉ được thanh toán số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng chấp thuận.

Các chủ thể tham gia thanh toán thẻ, gồm có:

– Ngân hàng phát hành thẻ: Là Ngân hàng bán thẻ cho khách hàng chịu trách nhiệm thanh toán số tiền do người sử dụng thẻ trả cho người thụ hưởng. Ngân hàng phát hành thẻ có thể ủy nhiệm cho một số chi nhánh Ngân hàng phát hành và quản lý thẻ.

– Người sử dụng thẻ là người trực tiếp mua thẻ tại Ngân hàng và dùng thẻ để mua hàng hóa, dịch vụ hay lĩnh tiền mặt tại ATM

– Người tiếp nhận thẻ là các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người sử dụng thẻ. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

– Ngân hàng đại lý thanh toán là các chi nhánh Ngân hàng làm đại lí thanh toán thẻ cho Ngân hàng phát hành thẻ và do Ngân hàng phát hành thẻ lựa chọn, Ngân hàng đại lý thanh toán có trách nhiệm thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ khi nhận được biên lai thanh toán.

Xem thêm: Đề cương hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

Xem thêm: Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt


CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại

*Khái niệm

Theo Điều 1 của pháp lệnh số 38/LCT – HDDNH pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính, định nghĩa về ngân hàng thương mại như sau: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu thường xuyên của ngân hàng là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997, định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thưc hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”.

*Chức năng       

– Ngân hàng là trung gian tín dụng: Ngân hàng đóng vai trò là “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người cần vốn. Với nhiệm vụ của một ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống xã hội, Ngân hàng thương mại là nơi giao dịch giữa các đơn vị phát hành chứng khoán và đầu tư chứng khoán.

– Trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán: ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng các phương tiện thanh toán trong và ngoài nước, tiết kiệm lượng tiền trong lưu thông, tiết kiêm chi phí trong giao dịch, thanh toán nhanh chóng, tiện lợi.  Dịch vụ ngân quỹ cho khách hàng  là nơi quản lý các tài khoản của khách hàng và khi có các hoạt động kinh tế phát sinh thì các chủ tài khoản yêu cầu ngân hàng chuyển khoản. Việc các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế.

– Chức năng tạo tiền: Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch. Từ khoản dự trữ tăng lên ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng có khả năng tạo nên số tiền gửi lớn gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu.

– Chức năng làm nhiệm vụ tài chính và dịch vụ khác.

* Vai trò của ngân hàng thương mại

– Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế.

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức kinh tế cần có vốn. Vốn được coi như nguồn thức ăn” chính thức cho họat động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại chính là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Nhờ có hoạt động tín dụng của ngân hàng đã tạo điều kiện cho cho doanh nghiệp khả năng mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ, nâng cao năng suất lao động đem lại hiệu quả kinh tế, cũng có nghĩa là đưa doanh nghiệp lên những nấc thang cạnh tranh cao hơn

– Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Thị trường ở đây được hiểu ở hai góc độ, thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tiếp cận mạnh mẽ vào thị trường đầu ra, tìm kiếm lợi nhuận. Quy trình đó được bắt đầu khi doanh nghiệp trang bị được đầy đủ vốn cần thiết. Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng về tài chính. Do vậy, buộc họ phải tìm kiếm nguồn vốn để phục vụ cho quá trình họat động kinh doanh. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng thương mại sẽ giúp các doanh nghiệp giải quyết những khó khăn đó, tạo cho doanh nghiệp có đủ khả năng thõa mãn tối đa nhu cầu của thị trường trên mọi phương diện: giá cả, chủng lọai, chất lượng, khối lượng, thời gian, địa điểm…ngân hàng thương mại sẽ là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường giúp doanh nghiệp tìm kiếm được đầu vào, bôi trơn họat động sản xuất kinh doanh làm cho nó phát huy hiệu quả một cách tốt nhất trên thị trường, giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả về không gian và thời gian.

– Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

Hệ thống ngân hàng thương mại họat động có hiệu quả sẽ thực sự là công cụ hữu hiệu để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

 Họat động ngân hàng góp phần chống lạm phát. Khi xảy ra lạm phát, ngân hàng Trung ương sẽ tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu hoặc tham gia vào thị trường mở để thông qua các ngân hàng thương mại thay đổi lại lượng tiên trong lưu thông. Các ngân hàng thương mại sẽ kiểm soát lạm phát thông qua các họat động tín dụng, bão lãnh. Từ đó ngân hàng xác định được hướng đầu tư vốn và đề ra các biện pháp xử lý những tác động xấu ảnh hương đến nền kinh tế, góp phần điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát.

– Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế

Trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay thì vai trò này ngày càng thể hiện rõ rệt hơn, áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực về tài chính. Nhưng làm thế nào để có thể hòa nhập nền tài chính của một quốc gia với phần còn lại của thế giới? Câu hỏi đó sẽ được giải đáp nhờ vào hệ thống các ngân hàng thương mại vì hệ thống này có khả năng cung cấp nhiều lọai hình dịch vụ khác nhau hỗ trợ cho việc đầu tư nước ngoài vào trong nước theo các hình thức: thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hối đoái, cho vay ủy thác đầu tư…giúp cho các luồng vốn ra, vào một cách hợp lý, đưa nền tài chính nước nhà bắt kịp với nền tài chính quốc tế.

2.1.2 Lý luận cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường

2.1.2.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt và các khái niệm khác liên quan

– Tiền mặt: Tiền mặt theo nghĩa hẹp, đó là tiền do ngân hàng Trung ương phát hành ra và nằm trong tay công chúng hay ngoài hệ thống ngân hàng. Còn theo nghĩa rộng nhất, tiền mặt có thể được hiểu là những thứ có thể sử dụng trực tiếp để thanh toán các giao dịch và bao gồm cả tiền gửi ngân hàng. Như vậy, trong trường hợp này khái niệm tiền mặt được dùng để chỉ dạng có khả năng thanh toán cao nhất của tài sản, bao gồm các đồng tiền do ngân hàng Trung ương phát hành ra và được công chúng giữ để chi tiêu, tiền gửi ở tài khoản vãng lai hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, có thể rút ra bất cứ lúc nào bằng cách viết séc

Tiền mặt trong trường hợp chúng ta đang tìm hiểu, là hình thức tiền tệ, theo đó, trong thời gian giao dịch, chức năng lưu thông và cất trữ giá trị được thực hiện mà không cần sự tham gia của các định chế tài chính trung gian đặc thù.

– Thanh toán: Thanh toán, trong các mối quan hệ kinh tế, được hiểu một cách khái quát nhất là việc thực hiện chi trả bằng tiền giữa các bên trong những quan hệ kinh tế nhất định. Tiền ở đây được hiểu là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc trong việc trả nợ [9].

– Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là cách thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích từ tài khoản của người chi trả để chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng, hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của ngân hàng [9].

TTKDTM còn được định nghĩa là phương thức thanh toán không trực tiếp dùng tiền mặt mà dựa vào các chứng từ hợp pháp như giấy uỷ nhiệm thu, giấy ủy nhiệm chi, séc… để trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của đơn vị này sang tài khoản của đơn vị khác ở ngân hàng. TTKDTM gắn với sự ra đời của đồng tiền ghi sổ.

2.1.2.2 Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt

Trong TTKDTM, sự vận động của tiền tệ độc lập với sự vận động của hàng hóa cả về thời gian lẫn không gian và thường không có sự ăn khớp nhau. Đây là đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất của hình thức TTKDTM.

Trong TTKDTM, vật trung gian trao đổi không xuất hiện như trong hình thức thanh toán dùng tiền mặt theo kiểu hàng – tiền – hàng mà chỉ xuất hiện dưới dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách kế toán. Đây là đặc điểm riêng của TTKDTM.

Trong TTKDTM, ngân hàng vừa là người tổ chức vừa là người thực hiện các khoản thanh toán. Chỉ có ngân hàng, người quản lý tài khoản tiền gửi của các khách hàng mới được quyền trích chuyển những tài khoản này theo các nguyên tắc chuyên môn đặc thù như là một nghiệp vụ riêng của mình. Với nghiệp vụ này, ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán đối với các khách hàng của mình.

Với những đặc điểm nêu trên, TTKDTM nếu được tổ chức và thực hiện tốt sẽ phát huy được tác dụng tích cực của nó. Trong tương lai, theo đà phát triển của xã hội và theo nhu cầu của thị trường, TTKDTM sẽ giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc lưu chuyển tiền tệ và trong thanh toán giá trị của nền kinh tế.

2.1.2.3 Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt

            Thanh toán là khâu mở đầu và cũng là khâu kết thúc của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá. Chính vì vậy mà các phương tiện thanh toán luôn luôn được đổi mới hiện đại để phù hợp với nhịp độ tăng trưởng không ngừng của sản xuất – lưu thông hàng hoá. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Cùng với sự phát triển của xã hội, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển mạnh mẽ, lưu thông hàng hoá ngày càng được mở rộng về cả qui mô, phạm vi lẫn tính thường xuyên, liên tục thì thanh toán bằng tiền mặt cũng dần dần không đáp ứng được nhu cầu của thanh toán nữa,vì thanh toán bằng tiền mặt có dộ an toàn không cao, với khối lượng hàng hóa, dịch vụ giao dịch lớn thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt sẽ không an toàn cho cả người trả tiền và người nhận tiền. Tiếp đó, khi quan hệ thanh toán mở rộng ra phạm vi quốc tế thì chi phí về thủ tục chuyển đổi tiền để thanh toán, chi trả sẽ rất lớn vì khoảng cách giữa người mua và người bán nhiều khi ở rất xa nhau trong khi thời gian để người mua mang tiền đến trả bị khống chế. Điều này dẫn đến sự kìm hãm sản xuất- lưu thông hàng hóa.

Nền sản xuất hàng hoá càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao và khối lượng hàng hoá, dịch vụ ngày càng đa dạng cả về khối lượng và chất lượng, các quan hệ thương mại được mở rộng ra trên phạm vi quốc tế . Từ thực tế khách quan này, và trong thời kỳ nền kinh tế chuyển sang một một giai đoạn phát triển mạnh mẽ tiền mặt không thể đáp ứng nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế đòi hỏi phải có những hình thức thanh toán mới ra đời tiên tiến hơn, hiện đại hơn phù hợp đáp ứng nhu cầu sản xuất lưu thông hàng hoá. Hình thức TTKDTM ra đời đã khắc phục những hạn chế của thanh toán dùng tiền mặt, đồng thời thúc đẩy sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế.

2.1.2.4 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, TTKDTM có một vai trò hết sức quan trọng đối với từng cá nhân, từng đơn vị kinh tế và đối với toàn bộ nền kinh tế. Nó đáp ứng được đòi hỏi của sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường, làm cho ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán của nền kinh tế. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt được thể hiện:

a) Đối với ngân hàng.

  TTKDTM góp phần tăng nhanh nguồn vốn của ngân hàng, mở rộng nghiệp vụ kinh doanh. Khi khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng, số dư trên các tài khoản tiền gửi thanh toán sẽ tăng lên, tăng nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, sẽ mang lại cho ngân hàng một nguồn vốn lớn để cho vay, đầu tư, phát triển kinh tế. Từ đó, nó giúp cho ngân hàng tập trung được nguồn vốn trong xã hội phục vụ cho quá trình phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

 TTKDTM góp phần giải quyết được tình trạng thiếu tiền mặt trong ngân quỹ làm cho hoạt động của ngân hàng được thực hiện trong suốt, hoàn thiện chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại.

TTKDTM tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại thực hiện chức năng “tạo tiền”. TTKDTM sử dụng tiền ghi sổ, thực hiện thanh toán bằng cách trích chuyển từ tài khoản người phải trả sang tài khoản người thụ hưởng hoặc bù trừ giữa các ngân hàng thương mại với nhau. Do đó, TTKDTM luôn tạo ra một lượng tiền nhàn rỗi mà ngân hàng có thể sử dụng cho vay. Đây chính là cơ sở để ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền của mình.

b) Đối với chủ thể thanh toán.

Thanh toán qua ngân hàng mang lại lợi ích to lớn cho khách hàng, nhờ việc tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn, tiết kiệm được các chi phí phát sinh (chi phí vận chuyển, chi phí kiểm đếm) từ đó, giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Sự đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trong lĩnh vực thanh toán (nhất là các loại thẻ ngân hàng), tạo điều kiện cho khách hàng có nhiều sự lựa chọn trong việc sử dụng dịch vụ sao cho có lợi nhất: tiện ích và chi phí giao dịch thấp.

Đối với khách hàng là doanh nghiệp, thanh toán không dùng tiền mặt sẽ đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn và quá trình tái sản xuất trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo an toàn về vốn và tài sản, tránh được rủi ro.

Xét trên góc độ quản lý vĩ mô của nhà nước.

 Mở rộng TTKDTM góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước: việc mở rộng hình thức TTKDTM sẽ giảm được khối lượng lớn tiền mặt trong lưu thông và làm tăng khối lượng tiền ghi sổ, điều đó giúp cho ngân hàng Trung ương có thể sử dụng hữu hiệu các công cụ của chính sách tiền tệ.

 TTKDTM góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, giảm chi phí lưu thông xã hội. Công tác TTKDTM gắn liền với công tác kế hoạch hoá lưu thông tiền tệ. Thực hiện tốt công tác TTKDTM tức là tăng nhanh tỷ trọng TTKDTM trong chu chuyển tiền tệ, sẽ làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm được các chi phí cần thiết phục vụ cho lưu thông tiền mặt, tác động trực tiếp đến thị trường giá cả, kiềm chế lạm phát tiến tới ổn định tiền tệ. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

            Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tạo điều kiện để giảm chi phí lưu thông tiền mặt, tiết kiệm lao động xã hội: việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm tăng khối lượng tiền ghi sổ và giảm khối lượng  tiền  mặt trong lưu thông, từ đó sẽ tiết giảm được chi phí cho toàn xã hội.

           Hoạt động TTKDTM được thực hiện thông qua việc mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng của các chủ thể kinh tế, do đó giúp cho việc quản lý của Nhà nước tốt hơn, giúp tăng cường hiệu quả cho công tác thu thuế, kiểm soát tốt hơn các tệ nạn tham ô, tham nhũng, chống nạn rửa tiền…

2.1.3.4 Nội dung của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt

a) Thanh toán bằng séc (Cheque)

* Khái niệm: Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản, được lập theo quy định của pháp luật, yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trích một số tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc trả cho người cầm séc [7].

*  Các loại séc thông dụng

  • Phân loại theo tính chất chuyển nhượng:

+ Séc vô danh hay séc người cầm (Cheque to Bearer):

Là loại séc không ghi tên người được hưởng lợi, mà chỉ ghi là “ trả cho người cầm séc”. Do vậy bất cứ ai cầm séc này cũng có thể nhận được số tiền trên tờ séc ở ngân hàng. Loại này được quyền tự do chuyển nhượng theo hình thức trao tay.

+ Séc đích danh (Norminal cheque): Là séc ghi rõ tên người được hưởng lợi, để chi trả riêng cho người thụ hưởng, ngân hàng không chi trả cho ai khác ngoài người thụ hưởng.

  • Phân loại theo đặc điểm sử dụng:
  • + Séc tiền mặt: Là loại séc mà ngân hàng thanh toán sẽ trả tiền mặt, và người phát hành séc phải chịu rủi ro khi mất séc hoặc bị đánh cắp
  • + Séc chuyển khoản hay séc tài khoản người thụ hưởng: Là séc mà người ký phát hoặc người cầm séc không muốn ngân hàng trả tiền mặt mà muốn trả vào tài khoản người thụ hưởng bằng cách viết trên mặt tờ séc cụm từ “trả vào tài khoản” hoặc những cụm từ có nội dung tương tự. Séc chuyển khoản không thể chuyển nhượng.
  • + Séc bảo chi: Là loại séc được tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán xác nhận khả năng thanh toán trước khi người chi trả trao séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hóa, dịch vụ. Người phát hành phải lưu trước số tiền ghi trên tờ séc vào một tài khoản riêng để ngân hàng làm thủ tục bảo chi trước khi giao séc cho khách hàng.          
  •  + Séc du lịch: ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Là séc do một ngân hàng phát hành bán cho du khách mua khi ra nước ngoài mang theo để chi dùng thay cho ngoại tệ.

b) Thanh toán bằng ủy nhiệm chi

* Khái niệm: Uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi là phương tiện thanh toán mà người trả tiền lập lệnh thanh toán theo mẫu do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định, gửi cho tổ chức cúng ứng dịch vụ thanh toán nơi mình mở tài khoản yêu cầu tổ chức đó trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng 

c) Thanh toán bằng ủy nhiệm thu

* Khái niệm: Uỷ nhiệm thu hoặc nhờ thu là phương tiện thanh toán mà người thụ hưởng lập lệnh thanh toán theo mẫu do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định, gửi cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ủy thác thu hộ mình một số tiền nhất định

d) Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C)

* Khái niệm: Thư tín dụng là một sự thỏa thuận trong thanh toán, trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của người nhập khẩu tiến hành mở và chuyển đến cho chi nhánh hay đại lý của ngân hàng này ở nước ngoài (ngân hàng thông báo thư tín dụng) một thư tín dụng để trả cho người được hưởng (người xuất khẩu) một số tiền nhất định, trong phạm vi và thời gian xác định, với điều kiện người được hưởng phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với những nội dung đã ghi trong thư tín dụng

e) Thanh toán bằng thẻ thanh toán

*Khái niệm: Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phát hành và cấp cho người sử dựng dịch vụ thanh toán để sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, thanh toán công nợ và để lĩnh tiền mặt tại ngân hàng đại lý thanh toán hay quầy trả tiền tự động.

* Phân loại: Tùy theo mục đích sử dụng khác nhau, thẻ ngân hàng được phân chia thành những loại sau đây:

– Phân loại theo công nghệ sản xuất:

  • + Thẻ khắc chữ nổi (Embossing card): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi. Hiện nay người ta không sử dụng công nghệ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ và dễ bị giả mạo.
  • + Thẻ băng từ (Magnetic Strip): dựa trên kỹ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin phía sau mặt thẻ
  • + Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo.
  • – Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ
  • + Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được ngân hàng phát hành cấp một hạn mức tín dụng theo quy định và được sử dụng một hạn mức tín dụng đó mà không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số trả số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn) để mua sắm hàng hóa dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay… chấp nhận loại thẻ này. Là phương tiện thanh toán toán tiện lợi, an toàn đối với những người thường xuyên đi nước ngoài.
  • + Thẻ ghi nợ (Derbit Card): Thẻ ghi nợ được sử dụng để rút tiền tại các máy rút tiền tự động, thanh toán hàng hóa, dịch vụ  trên cơ sở số tiền có trong tài khoản của chủ thẻ tại ngân hàng.
  • + Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là một hình thức thẻ ghi nợ song loại thẻ này chỉ có một chức năng là rút tiền tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng.

* Phân loại theo phạm vi lãnh thổ

  • + Thẻ nội địa: là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi của một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ của quốc gia đó.
  • + Thẻ quốc tế: là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán.

* Phân loại theo hạn mức tín dụng

  • + Thẻ vàng (gold card): là loại thẻ được phát hành cho những đối tượng “cao cấp”, những khách hàng có mức sống, thu nhập và nhu cầu tài chính cao.
  • + Thẻ thường (standard card): là loại thẻ căn bản nhất, mang tính phổ biến đại chúng. Hạn mức tối thiểu tùy theo ngân hàng phát hành quy định.

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1  Sơ lược về quá trình phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam

a) TTKDTM trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung

Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, ngân hàng luôn là trung tâm thanh toán của nền kinh tế, TTKDTM chỉ được mở rộng trong lĩnh vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nhằm tập trung nguồn vốn phục vụ sản xuất, hướng theo kế hoạch của nhà nước đã đề ra.

Trong thời kỳ này mặc dù chưa hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp nhưng vẫn có nhiều cải tiến về công tác TTKDTM nhằm nâng cao hiệu quả, đáp ứng cho nhu cầu thanh toán vốn, chuyển vốn cho nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập chung và đáp ứng chuyển tiền phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ.

Tuy vậy TTKDTM ở thời kì này còn bộc lộ một số nhược điểm làm hạn chế kết quả của hoạt động TTKDTM:

– TTKDTM chủ yếu tập trung phục vụ cho khu vực kinh tế quốc doanh, tập thể, các cơ quan đoàn thể. TTKDTM chưa được sử dụng trong dân cư, từ đó làm cho việc thanh toán trong dân cư diễn ra hoàn toàn dưới hình thức tiền mặt.

– Cơ chế thanh toán cứng nhắc với việc quy định các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chỉ được mở tài khoản tại Ngân hàng nơi doanh nghiệp đóng trụ sở. Các hình thức thanh toán mới chỉ tập chung vào một số hình thức truyền thống như: Séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán liên hàng. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

-Kỹ thuật thanh toán lạc hậu, chủ yếu làm bằng tay nên thanh toán chậm trễ, sai sót nhiều gây mất lòng tin đối với những người tham gia sử dụng tiện ích thanh toán.

Xem thêm: Kiến nghị – Giải Pháp hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

Xem thêm: Lời kết luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

b) TTKDTM trong thời kỳ ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường

Có thể nói TTKDTM ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã có sự chuyển biến tích cực.

Trước hết về xây dựng cơ chế chính sách và cơ chế nghiệp vụ: Về phía Chính phủ đã ban hành nghị định 91/1990/NĐ-CP (1990) và tiếp đến là nghị định 64/2001/NĐ-CP (2001) để thay thế nghị định 91/1990/NĐ-CP về tổ chức hoạt động thanh toán trong nền kinh tế. Riêng về séc chính phủ đã ban hành nghị định 30/CP để điều chỉnh công cụ thanh toán séc ở Việt Nam sang năm 2003 chính phủ đã ban hành

Về công nghệ thanh toán thì đã có bước nhảy vọt là chuyển từ kỹ thuật thanh toán thủ công sang kỹ thuật thanh toán điện tử đặc biệt là khâu chuyển tiền.

Về tổ chức bộ máy và cán bộ: Các ngân hàng thương mại là các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được sắp xếp lại theo từng hệ thống để xây dựng hệ thống thanh toán của từng hệ thống, về tổ chức thanh toán liên ngân hàng (thanh toán bù trừ liên Ngân hàng và chuyển tiền điện tử liên ngân hàng). Về đội ngũ cán bộ được bố trí đủ về số lượng và nâng cao trình độ nghiệp vụ thông qua các khoá đào tạo lại đặc biệt là các lớp học chuyên đề về thanh toán, về tin học.

Về các hình thức thanh toán thì ngoài việc hoàn thiện các hình thức truyền thống còn ban hành thêm thẻ thanh toán.

Với những cố gắng của các ngân hàng thương mại trong thời kỳ đổi mới đã làm cho hoạt động của các ngân hàng thương mại nói chung và hoạt động thanh toán nói riêng có sự chuyển biến đáng khích lệ. Đã đảm bảo được khâu thanh toán nhanh, chính xác, an toàn tài sản nên khách hàng không còn phàn nàn về thanh toán chậm trễ, thiếu chính xác như thời kỳ bao cấp. Riêng khâu thanh toán trong dân cư đang được triển khai mạnh mẽ và thu được những kết quả bước đầu.

2.2.2 Tình hình chung về việc thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay

* Những thành tựu đạt được trong công tác TTKDTM

Để thúc đẩy TTKDTM, ngành ngân hàng đã tăng cường đầu tư phát triển mạnh cơ cở hạ tầng về công nghệ thông tin: Với nguồn vốn vay 106 triệu USD của ngân hàng Thế giới, trong tiểu dự án ngân hàng Nhà nước đã khai trương Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn 2 vào ngày 28/2/2009, đáp ứng nhu cầu thanh, quyết toán tức thời và dung lượng ngày càng cao.

Các ngân hàng thương mại đã hoàn thành dự án thanh toán điện tử nội bộ kết nối giao dịch thanh toán trong hệ thống giữa các chi nhánh, đẩy mạnh triển khai hệ thống Core Banking (hệ thống các phân hệ nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng như tiền gửi, tiền vay, khách hàng) để hiện đại hóa hệ thống thanh toán nội bộ, mở rộng mạng lưới, không ngừng đầu tư vào cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thanh toán. ( Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Nhiều phương tiện TTKDTM mới, hiện đại, tiện ích ứng dụng công nghệ cao như thẻ ngân hàng, thanh toán qua Internet, điện thoại di động, ví điện tử… được các ngân hàng thương mại cung ứng, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước đã trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất”, qua đó thực hiện kết nối các hệ thống ATM của các liên minh thẻ hiện hành thành một hệ thống thống nhất trên toàn quốc nhằm tăng tính thuận tiện cho người sử dụng dịch vụ thẻ ngân hàng, thúc đẩy thanh toán bằng thẻ ngân hàng, góp phần thực hiện chủ trương của Chính phủ phát triển TTKDTM.

* Một số hạn chế:

Từ năm 2001 đến nay, tỷ trọng tiền mặt được sử dụng trong thanh toán so với tổng phương tiện thanh toán năm 2001 là 23,7%; năm 2004 là 20,3%; năm 2005 là 19%; năm 2006 là 17,21%, năm 2007 là 16,36%, năm 2008 là 14,6%; tuy tỷ trọng hàng năm đã giảm nhưng còn ở mức cao hơn so với thế giới; tỷ trọng này ở các nước tiên tiến như Thụy Điển là 0,7%, Na Uy là 1%, còn Trung Quốc là nước phát triển trung bình nhưng cũng chỉ ở mức là 10%.

Một trong các phương tiện thanh toán khá phổ biến hiện nay là thẻ thanh toán giao dịch qua máy ATM, máy POS; tuy số lượng thẻ, máy ATM, máy POS do các ngân hàng thương mại phát hành, lắp đặt ngày càng tăng nhưng tác dụng giảm khối lượng tiền mặt vào lưu thông còn rất khiêm tốn. Trong buổi giao lưu trực tuyến do Thời báo Kinh tế Sài Gòn tổ chức ngày 8/6/2009, TS.Dương Hồng Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán thuộc Ngân hàng Nhà nước cho biết, theo thống kê, khoảng 80% giao dịch qua ATM là để rút tiền mặt. Hệ thống POS lắp đặt tại các cửa hàng, siêu thị của các ngân hàng hiện nay chưa được kết nối với các hệ thống của ngân hàng khác, dẫn đến ít tiện ích cho các thẻ ATM nội địa của các ngân hàng Việt Nam.

Nhìn chung lại, tuy các hình thức TTKDTM đã và đang phát huy được những ưu điểm hết sức tích cực, nhưng nó vẫn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam. Điều này đòi hỏi cần có những hành động tích cực từ phía Nhà nước, các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư, để hoạt động TTKDTM có thể phát huy những hiệu quả tích cực của nó, đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

*  Những định hướng trong việc thanh toán không dùng tiền mặt của chính phủ:

Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg (ngày 29-12-2006) phê duyệt Đề án TTKDTM giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 tại Việt Nam. Đề án là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thanh toán đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam hiện nay. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, toàn ngành ngân hàng đang tập trung nhiều nguồn lực đẩy nhanh tiến độ triển khai Đề án TTKDTM. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ngành trong năm 2010:

  • Trước mắt cần khai thác tốt hạ tầng công nghệ hiện có, đẩy nhanh việc ứng dụng một số thành tựu công nghệ thông tin – thanh toán mới và khai thác có hiệu quả hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng quốc gia, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức được hưởng dịch vụ thanh toán gần như tức thời trên toàn lãnh thổ Việt Nam với dịch vụ thuận tiện và chi phí rẻ
  • Các tổ chức tín dụng sẽ tập trung phát triển hạ tầng công nghệ thông tin ngân hàng, phát triển các kênh dịch vụ ngân hàng hiện đại như: Mobile-banking, Internet-banking, thẻ ATM, nâng cao chất lượng dịch vụ. Tăng cường bảo đảm an ninh, quản lý rủi ro công nghệ, bảo đảm an toàn hệ thống, an toàn tài sản của khách hàng và của ngân hàng.
  • Về mặt nhà nước, sẽ từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động triển khai ứng dụng công nghệ mới. Ngân hàng Nhà nước sẽ sớm ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật, dịch vụ để chuẩn hoá dịch vụ, hỗ trợ kết nối các thiết bị đầu cuối như ATM, POS và các thiết bị thông tin di động thông qua trung tâm chuyển mạch. 
  • Nhà nước ưu tiên mở rộng mạng lưới các máy POS online và offline để mở rộng dịch vụ, mạng lưới chấp nhận thẻ và giảm giá thành. Phát triển các loại hình dịch vụ thanh toán mới dựa trên công nghệ truyền thông thế hệ mới 3G. 
  • Mặt khác, ngân hàng Nhà nước sẽ tăng cường tuyên truyền, giới thiệu về tiện ích của sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại đến đông đảo công chúng trong toàn xã hội, kết hợp với các đòn bẩy kinh tế, hành chính để từng bước thu hút và hình thành thói quen mới thanh toán không dùng tiền mặt trong dân cư…
  • DOWNLOAD

Xem thêm: ==> Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập 

Lời kết: Trên đây Thuctaptotnghiep đã chọn lọc cho các bạn Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt từ những bài đạt điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài. Hy vọng với bài viết này có thể giúp cho các bạn có thêm tài liệu tham khảo để hoàn thành thật tốt bài luận của mình. Ngoài ra, trong quá trình làm bài các bạn gặp khó khăn trong vấn đề thiếu tài liệu hoặc không có thời gian viết bài luận cần thuê người viết, các bạn liên hệ qua zalo: 0934.536.149 để được hỗ trợ làm tốt bài luận của mình nhé.

Chúc các bạn hoàn thành thật tốt bài báo cáo thực tập của mình!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *