CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG VAY MUA OTO TẠI NGÂN HÀNG

Ngân hàng

Dưới đây Thuctaptotnghiep chia sẻ cho các bạn về Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng chọn lọc từ các bài điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài báo cáo thực tập kế toán. Các bạn tham khảo các mẫu dưới đây để hoàn thành thật tốt bài làm của mình nha.

Lưu ý: Trong quá trình làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp, nếu các bạn gặp khó khăn về đề tài hay chưa có công ty thực tập các bạn có thể liên hệ với dịch vụ làm báo cáo thực tập trọn gói qua:

SĐT  / Zalo: https://zalo.me/0934536149


MỤC LỤC

CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG VAY MUA OTO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.Khái niệm và vai trò của hoạt động cho vay

Tín dụng là quan hệ vay mượn gồm cả đi vay và cho vay. Như vậy, cho vay cũng là một trong các hình thức tín dụng ngân hàng, theo quyết định số 1627/2001/QĐ NHNN về việc ban hành qui chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.

Hoạt động cho vay là hoạt động bao trùm của ngân hàng với tầm quan trọng và qui mô lớn, hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràng, được xác định và hoàn thiện qua nhiều năm, đó là chính sách tín dụng (chính sách cho vay). Chính sách cho vay phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong hoạt động phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời. Cho vay mang lại cho ngân hàng một khoản lợi nhuận không nhỏ do lãi suất cho vay thường lớn. Mặt khác, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu vay vốn của khách hàng ngày càng phát triển lên, tổng thu nhập từ hoạt động này là đáng kể.

2 Đặc điểm của hoạt động cho vay

    • Đối tượng cho vay

Khách hàng vay là khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ hợp tác, công ty hợp doanh, các tổ chức chính trị, xã hội khác trong nền kinh tế. Khách hàng muốn vay vốn phải có đủ năng lực pháp lý và đáp ứng đủ các điều kiện mà ngân hàng đưa ra. Nhu cầu vay vốn xuất phát từ nhu cầu tiêu dung hoặc nhu cầu kinh doanh.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

  • Quy mô cho vay

Quy mô của các khoản cho vay tùy thuộc vào nhu cầu của từng khách hàng, tài sản đảm bảo và khả năng trả nợ của từng khách hàng. Ngoài ra, quy mô cho vay còn phụ thuộc vào vốn điều lệ và khả năng huy động vốn của ngân hàng. Khách hàng doanh nghiệp thường có nhu cầu vay vốn lớn hơn khách hàng cá nhân, tài sản đảm bảo lớn thì nhu cầu vay vốn của khách hàng dược đáp ứng tốt hơn. Khi vốn điều lệ và nguồn huy động vốn của ngân hàng lớn thì ngân hàng sẽ mở rộng cho vay, quy mô các khoản cho vay tăng lên.

  • Rủi ro

Cho vay là hoạt động có khả năng mạng lại rủi ro lớn nhất cho ngân hàng. Rủi ro này xảy ra khi khách hàng không có khả năng hoàn trả gốc và (hoặc) lãi khi đến hạn. Tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm của từng khoản vay, khách hàng vay mà khả năng mang lại rủi ro cho ngân hàng khác nhau. Các món vay tiêu dùng thường chứa đựng rủi ro cao nhất.

  • Lãi suất và khả năng sinh lời

Lãi suất là tỉ lệ phần trăm khách hàng phải trả cho ngân hàng tính trên số tiền ngân hàng đã cho khách hàng vay trong một thời gian cụ thể. Lãi suất của mỗi khoản vay là khác nhau, tùy theo qui định và thời hạn vay. Ngoài ra lãi suất cho vay còn phụ thuộc vào quy định của NHNN.

Khả năng sinh lời của các món cho vay lớn, tùy thuộc vào từng món vay của lãi suất thỏa thuận của từng món vay. Các món vay có khả năng xãy ra rủi ro lớn thì khả năng sinh lời càng cao và ngược lại. Tuy nhiên, so với tất cả các hoạt động khác thì cho vay được xem như là hoạt động có khả năng sinh lời lớn nhất.

3 Các hình thức cho vay của NHTM

Cho vay là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng đồng thời cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng. Tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng ta có thể phân cho vay thành nhiều hình thức khác nhau. Việc phân loại này chỉ mang tính tương đối.

  • Phân loại theo thời gian

Cho vay ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống.

Cho vay trung hạn: từ 1 năm đến 5 năm.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Cho vay dài hạn: từ 5 năm trở lên.

  • Phân loại theo hình thức vay

Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi một phần thu nhập của khách hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn.

Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền của mình cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.

Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của mình trong trường hộp khách hàng không lam đúng qui định đã thỏa thuận với đối tác.

Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền của mình ra mua những tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định, khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.

  • Phân loại theo tài sản đảm bảo

Tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng trong trường hợp nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được. Phân theo tài sản đảm bảo có: cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

  • Phân loại theo mục đích sử dụng tiền vay

Cho vay sản xuất kinh doanh là cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của khách hàng như: mua sắm nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng…

Cho vay tiêu dùng là cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của khách hàng như: mua sắm nhà ở, mua ô tô để đi lại…

  • Các phương thức phân loại khác

Phân loại theo ngành nghề kinh tế, theo đối tượng tín dụng…

 4 Hoạt động cho vay mua ô tô tại NHTM

Khái niệm và đặc điểm của cho vay mua ô tô

Khái niệm cho vay mua ô tô

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự phát triển của khoa học kĩ thuật, ô tô là một phương tiện vận tải và đi lại không thể thiếu ở các nước phát triển. Trước đây, vào những năm đầu của thế kỉ 20, việc sản xuất và bán ô tô chỉ mang tính mùa vụ. Doanh số bán ra thường tăng đột biến vào mùa hè và mùa xuân. Tuy nhiên, vào mùa đông hoặc mùa thu, hoạt động này lại rất ế ẩm, các hãng sản xuất hầu như ngừng hoạt động vì không bán được hàng. Vào những tháng cao điểm, dây truyền sản xuất luôn phải hoạt động hết công xuất. Điều này làm cho máy móc hao mòn nhanh và chi phí khấu hao lớn. Tuy nhiên, nếu các hãng sản xuất vẫn duy trì sản xuất, để hàng tại kho chờ những tháng cao điểm bán ra thì lại không có đủ khả năng tài chính. Cho vay mua ô tô ra đời đã khắc phục được nhược điểm này của ngành ô tô. Nó vừa giúp các hãng sản xuất có thể duy trì sản xuất và bán hàng đều đặn, vừa giúp khách hàng có thể sử dụng ô tô khi chưa có đủ tiền mua.

Cho vay mua ô tô là một trong nhiều hình thức cho vay của NHTM. Hiện nay, cho vay mua ô tô đang được nhiều ngân hàng áp dụng và mở rộng vì đây là một thị trường tiềm năng đối với các NHTM. Cho vay mua ô tô được hiểu như là một hình thức cho vay của NHTM, theo đó ngân hàng có thể cho khách hàng sử dụng trước một khoản tiền với mục đích mua ô tô theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo thỏa thuận.

Xem thêm: Lời mở đầu hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng

  • Đặc điểm của hoạt động cho vay mua ô tô

Cho vay là một hình thức cấp tín dụng. Vì vậy nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của cho vay nói chung. Ngoài ra, hoạt động cho vay mua ô tô còn mang những đặc điểm riêng sau:( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

  • Đặc điểm về đối tượng, phạm vi và qui mô cho vay.

Đối tượng cho vay mua ô tô là giá trị hình thành lên chiếc xe. Giá trị của chiếc xe bao gồm nhiều chi phí khác nhau như: chi phí mua xe, chi phí bảo hiểm, chi phí nộp thuế,… Đối tượng cho vay mua ô tô có thể gồm hoặc không gồm các chi phí khác ngoài chi phí mua xe, tùy thuộc vào từng ngân hàng. Các ngân hàng thường cho vay với một tỉ lệ nhất định trên chi phí mua xe, thường là từ 60% – 80%. Mọi cá nhân, hộ gia đình và tổ chức có nhu cầu vay vốn mua xe đều được cho vay khi có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đáp ứng đủ yêu cầu của ngân hàng.

Nhóm khách hàng cá nhân, hộ gia đình: nhóm khách hàng này có thu nhập cao và ổn định, họ có nhu cầu mua ô tô để phục vụ cho việc đi lại hàng ngày, loại xe mà nhóm khách hàng này hướng tới thường là xe con, xe du lịch loại nhỏ, những xe sang trọng, hiện đại, có giá trị cao. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu đi lại bằng ô tô của người dân ngày càng phát triển, nhóm khách hàng này càng tăng lên, họ thường chỉ mua 01 chiếc xe.

Nhóm khách hàng là các hãng, các doanh nghiệp: nhóm khách hàng này thường có nhu cầu mua ô tô để phục vụ cho nhu cầu chung của doanh nghiệp như phục vụ cho việc đi lại của lãnh đạo, đưa đón cán bộ nhân viên, vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu của công ty. Họ thương mua ít xe nhưng là những loại xe đắt tiền, cỡ lớn. Với các doanh nghiệp chuyên kinh doanh trong lĩnh vực vận tải, nhóm khách hàng này thường hướng tới loại xe phục vụ cho hoạt động kinh doanh của họ. Họ thương mua một số lượng lớn xe có giá trị trung bình, vì vậy, số tiền họ vay là lớn.

  • Đặc điểm và thời gian cho vay mua ô tô.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Đối với các khoản vay theo món, thường là món vay có thời hạn ngắn hoặc trung hạn, tuy nhiên các khoản vay trả góp thường là các khoản vay trung hạn và dài hạn. Các ngân hàng thường qui định thời gian cho vay là từ 1 – 6 năm, tùy từng Ngân hàng, mục đích sử dụng vốn vay, tài sản đảm bảo, nguồn và kế hoạch trả nợ. Các món vay có thể được vay với thời hạn dài hơn. Nhưng ngân hàng không nên cho vay với thời hạn quá dài, vì như vậy thiện trí trả nợ của khách hàng sẽ bị giảm, việc thu hồi nợ của ngân hàng gặp khó khăn, khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng tăng lên.

  • Đặc điểm về rủi ro và lãi suất cho vay mua ô tô.

Khi mua ô tô khách hàng thường thế chấp bằng chính chiếc xe, mà giá trị của chiếc xe thường giảm theo thời gian sử dụng. Khách hàng sẽ trả nợ cho ngân hàng từ chính thu nhập của họ. Vì vây, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng sẽ giảm sút trong trường hợp thu nhập của khách hàng bị mất việc làm, thu nhập giảm,…Khi cho vay mua ô tô ngân hàng thường cầm bản chính của giấy tờ xe và bắt khách hàng phải mua bảo hiểm cho xe và người thụ hưởng trong trường hợp xảy ra tổn thất là ngân hàng. Nhưng thường thì các món vay mua ô tô có giá trị nhỏ nên phân tán được rủi ro cho ngân hàng. Hoạt động cho vay mua ô tô được xem như là hoạt động có rủi ro thấp.

5. Các phương thức cho vay mua ô tô

    • Phương thức cho vay trực tiếp đối với người mua

Phương thức cho vay trực tiếp đối với người mua là phương thức cho vay mà ngân hàng thực hiện cho vay trực tiếp đối với người mua. Theo phương thức này ngân hàng sẽ thay mặt khách hàng thanh toán số tiền mua ô tô của khách hàng cho các hãng sản xuất, doanh nghiệp, đại lý bán ô tô. Khi đến hạn thanh toán, khách hàng phải trả ngân hàng số tiền đã vay và lãi như đã kí trong hợp đồng vay. Phương thức này có thể khái quát thành sơ đồ sau:

  • Phương thức cho vay trả góp

Phương thức cho vay trả góp (trả nợ gốc làm nhiều kì, trả lãi hàng tháng): áp dụng trong trường hợp thời gian vay trên 12 tháng hoặc thời gian vay không quá 12 tháng nhưng đảm bảo bằng tài sản là chiếc xe ô tô hình thành từ vốn vay.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

  • Phương thức cho vay theo món

Phương thức cho vay theo món (trả nợ gốc vào cuối kì, lãi trả hàng tháng): áp dụng trong trường hợp thời gian vay dưới 12 tháng và khách hàng sử dụng tài sản đảm bảo khác để đảm bảo tiền vay.

  • Vai trò của hoạt động cho vay mua ô tô
    • Đối với khách hàng

Nhờ có hoạt động cho vay mua ô tô, khách hàng có thể sử dụng chiếc xe ô tô ưng ý khi chưa đủ tiền mua. Từ đó khách hàng có thể được những tiện ích mà xe mang lại, cũng có thể sử dụng chiếc xe vào mục đích kinh doanh mang lại thu nhập. Khách hàng có thể sử dụng chiếc ô tô sang trọng, tiện ích, phục vụ cho công viêc, tạo tinh thần hưng phấn, tạo động lực để khách hàng làm việc hiệu quả.

  • Đối với ngân hàng

Cho vay mua ô tô mang lại cho ngân hàng một khoản lợi nhuận lớn do lãi suất cho vay mua ô tô thường cao hơn các khoản cho vay khác của ngân hàng. Hơn nữa, cho vay mua ô tô vẫn là thị trường tiềm năng, có khả năng phát triển mạnh trong tương lai nên lợi nhuận dự kiến từ hoạt động này là khá lơn. Ngân hàng sẽ tạo được thói quen tiếp cận với các dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng, từ đó ngân hàng có thể mở thêm nhiều mối quan hệ khác với khách hàng và quảng bá được hình ảnh của mình đối với khách hàng. Ngân hàng có thể mở rộng mối quan hệ với các đại lí bán xe ô tô. Đây là một kênh thông tin tốt giúp ngân hàng có thể thu thập thông tin đa dạng, phong phú về nhiều khách hàng.

  • Đối với nền kinh tế

Hoạt động cho vay mua ô tô của ngân hàng làm tăng sức mua của khách hàng, có tác dụng kích cầu cho nền kinh tế. Khi cầu về ô tô tăng lên sẽ kích thích các hãng sản xuất ô tô mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Hoạt động cho vay mua ô tô đã gián tiếp tác động đến sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô, ngành giao thông vận tải, du lịch… khi số lượng ô tô lưu hành tăng thì đường giao thông được mở rộng, đi lại thuận tiện thì nhu cầu du lịch cũng sẽ tăng.

  • Các chỉ tiêu phản ánh hoạt động cho vay mua ô tô

Có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh hoạt động cho vay mua ô tô của ngân hàng. Tuy nhiên, cho vay mua ô tô cũng là một trong những hình thức của cho vay. Vì vậy, các chỉ tiêu phản ánh hoạt động cho vay nói chung cũng chính là các chỉ tiêu phản ánh hoạt động cho vay mua ô tô.

  • Một là doanh số cho vay mua ô tô.

Doanh số cho vay mua ô tô là tổng số tiền mà khách hàng đã vay của ngân hàng trong một kì nhất định (năm, quý, tháng). Doanh số cho vay mua ô tô là số tiền ngân hàng đã cho khách hàng vay nhằm mục đích mua ô tô. Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh qui mô cho vay mua ô tô của ngân hàng trong kì.

  • Hai là dư nợ cho vay mua ô tô.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Dư nợ cho vay chính là số tiền cộng dồn qua các thời kì mà ngân hàng hiện còn đang cho khách hàng vay tính đến một thời điểm nhất định. Dư nợ cho vay mua ô tô là số tiền cộng dồn qua các thời kì ngân hàng đang cho khách hàng vay tính đến thời điểm nhất định.

Xem thêm: Đề cương hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng

Dư nợ cho vay mua ô tô kì này = Dư nợ cho vay mua ô tô kì trước + Doanh số cho vay mua ô tô trong kì – Doanh số thu nợ vay mua ô tô trong kì

Nếu dư nợ cho vay mua ô tô trong kì tăng so với kì trước tức là doanh số cho vay mua ô tô trong lớn hơn kì trước. Điều này được hiểu là NHTM đã mở rộng cho vay mua ô tô. Còn trong trường hợp dư nợ cho vay mua ô tô trong kì tăng lên là do doanh số thu nợ cho vay trong kì giảm xuống, điều này không có nghĩa là NHTM mở rộng cho vay mua ô tô trong kì.

  • Ba là tỉ trọng dư nợ cho vay mua ô tô.

Đây là một trong những chỉ tiêu phản ánh qui mô cho vay mua ô tô. Khi tỉ trọng cho vay mua ô tô tăng lên tức là qui mô cho vay mua ô tô cũng tăng lên. Tỉ trọng dư nợ cho vay mua ô tô được tính theo công thức sau:

R = Dư nợ cho vay mua ô tô / Tổng dư nợ * 100%

Tỉ trọng cho vay mua ô tô tăng lên tức là hoạt động cho vay mua ô tô được mở rộng và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ tiêu này không phản ánh chính xác hoạt động cho vay mua ô tô được mở rộng hay không. Vì khi R tăng lên do tổng dư nợ giảm mà dư nợ cho vay mua ô tô giữ nguyên hoặc do cả dư nợ cho vay mua ô tô và tông dư nợ cùng giảm nhưng tốc độ giảm của tổng dư nợ nhiều hơn tốc độ giảm của cho vay mua ô tô thì tức là NHTM đã thắt chặt họat động tín dụng.

  • Bốn là tốc độ tăng của dư nợ cho vay mua ô tô.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh mức độ mở rộng của hoạt động cho vay mua ô tô:

K = (Dư nợ cho vay mua ô tô kì này – Dư nợ cho vay mua ô tô kì trước) / Dư nợ cho vay mua ô tô kì trước

Nếu K > 0: phản ánh hoạt động cho vay mua ô tô được mở rộng.

Nếu K < 0: phản ánh hoạt động cho vay mua ô tô không được mở rộng, nhưng nếu tỉ trọng dư nợ cho vay mua ô tô (R) tăng thì hoạt động cho vay mua ô tô vẫn được mở rộng.

  • Năm là số lượng khách hàng của hoạt động cho vay mua ô tô.

Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh hoạt động cho vay mua ô tô. Khi số lượng khách hàng tăng tức là hoạt động cho vay mua ô tô được mở rộng và ngược lại. khi số lượng khách hàng tăng không đồng nghĩa với dư nợ cho vay mua ô tô tăng vì còn phụ thuộc vào giá trị món vay. Số lượng khách hàng vay mua ô tô phản ánh qui mô của hoạt động cho vay mua ô tô, đồng thời cũng phản ánh chất lượng dịch vụ cho vay mua ô tô của NHTM. Số lượng khách hàng càng nhiều chứng tỏ chất lượng dịch vụ của ngân hàng tốt, đáp ứng được nhiều nhu cầu khác nhau của khách hàng.

  • Sáu là nợ quá hạn và tỉ lệ nợ quá hạn.

Nợ quá hạn của các khoản vay mua ô tô là các khoản nợ của khách hàng vay mua ô tô đã đến hạn thanh toán nhưng khách hàng không có khả năng trả nợ gốc và (hoặc) lãi mà không có quyết định cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Tỉ lệ nợ quá hạn của các khoản vay mua ô tô được tính theo công thức sau:

Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn cho vay mua ô tô / Tổng dư nợ cho vay mua ô tô * 100%

Hai chỉ tiêu này phản ánh chất lượng của hoạt động cho vay mua ô tô. Thường các NHTM luôn cố gắng duy trì tỉ lệ nợ quá hạn dưới mức 5%. Nếu chỉ tiêu này quá cao thì việc mở rộng cho vay mua ô tô có thể coi là không hiệu quả vì nó có thể dẫn tới ngân hàng bị thua lỗ.

  • Bảy là thị phần cho vay mua ô tô của ngân hàng.

Thị phần cho vay mua ô tô của ngân hàng ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay mua ô tô của ngân hàng. Khi thị phần cho vay mua ô tô của ngân hàng ngày càng mở rộng thì qui mô cho vay cũng tăng lên và ngược lại. Trong cùng một địa bàn có rất nhiều ngân hàng cùng hoạt động. Vì vậy, các ngân hàng sẽ cạnh tranh nhau về thị phần. Không những thế, các ngân hàng trong cùng hệ thống cũng cạnh tranh với nhau.

  • Tám là mức độ đa dạng hóa của các sản phẩm cho vay mua ô tô.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Đây là một chỉ tiêu phản ánh khả năng cung ứng dịch vụ của ngân hàng. Mức độ đa dạng hoá càng cao thì khách hàng càng có nhiều lựa chọn khi vay, ngân hàng càng thu hút được nhiều khách hàng.

Như vậy, khi đánh giá hoạt động cho vay mua ô tô của ngân hàng, ta phải dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, từ đó đưa ra được đánh giá tổng hợp nhất, chính xác nhất.

6. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay mua ô tô

    • Nhóm các nhân tố chủ quan

Đây là nhóm các nhân tố thuộc về ngân hàng, bắt nguồn từ ngân hàng, nó bao gồm các nhân tố sau:

  • Một là định hướng phát triển của ngân hàng.

Ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động của ngân hàng nói chung và ảnh hưởng tới hoạt động cho vay mua ô tô nói riêng. Vì vậy, hoạt động cho vay mua ô tô phải căn cứ vào định hướng phát triển của ngân hàng.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

  • Hai là chính sách tín dụng của ngân hàng.

Ảnh hưởng tất cả các hoạt động của ngân hàng trong đó có hoạt động cho vay mua ô tô. Chính sách tín dụng sẽ cho biết: qui mô, lãi suất, thời hạn tín dụng, các khoản bảo lãnh, chính sách đối với tài sản có vấn đề,… của ngân hàng trong một thời gian nhất định. Một chính sách tín dụng tốt sẽ thu hút nhiều khách hàng và mang lại hiệu quả cho ngân hàng. Tuy nhiên, một chính sách tín dụng chưa hợp lý chắc chắn sẽ cản trở sự phát triển của ngân hàng. Như vậy, chính sách tín dụng được coi như là kim chỉ nam cho tất cả mọi hoạt động tín dụng của ngân hàng.

  • Ba là chất lượng nhân viên tín dụng.

Người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, thẩm định khách hàng và hồ sơ xin vay của khách hàng. Nhân viên tín dụng có vai trò quan trọng trong việc ra quyết định cho hay không cho khách hàng vay vốn. Nhân viên tín dụng được coi như là bộ mặt của ngân hàng trong con mắt khách hàng. Một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, làm việc tận tình, chu đáo sẽ chiếm được cảm tình của khách hàng, tạo được uy tín và hình ảnh của ngân hàng với khách hàng. Đây là cách quảng bá thương hiệu tốt nhất đối với ngân hàng. Khi có được thương hiệu tốt, khách hàng sẽ tự tìm đến với ngân hàng. Đạo đức nhân viên có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay mua ô tô nói riêng. Khi nhân viên tín dụng không có đạo đức nghề nghiệp, họ sẵn sàng làm tổn hại đến lợi ích của ngân hàng để làm lợi riêng cho bản thân. Khi tổn thất xảy ra ngân hàng chính là người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả.

  • Bốn là qui trình cho vay mua ô tô.

Qui trình cho vay mua ô tô được hiểu là các bước để tiến hành cho vay mua ô tô. Nếu qui trình cho vay mua ô tô đơn giản, nhanh gọn, thủ tục không quá khó khăn, sẽ rút ngắn được thời gian đối với ngân hàng và khách hàng. Nhờ đó, ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn. Ngược lại, nếu qui trình cho vay mua ô tô quá phức tạp sẽ cản trở hoạt động cho vay mua ô tô của ngân hàng, chi phí cho vay cao lên, mục tiêu của hoạt động cho vay mua ô tô của ngân hàng không đạt được.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

  • Năm là tình hình huy động vốn của ngân hàng.

Ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách tín dụng của ngân hàng. Nếu khả năng huy động vốn của ngân hàng tốt thì sẽ mở rộng cho vay và ngược lại, nếu khả năng huy động vốn của ngân hàng không tốt thì sẽ thắt chặt tín dụng, điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động cho vay mua ô tô của ngân hàng.

  • Sáu là mạng lưới và lãi suất cho vay mua ô tô.

Ngân hàng càng có nhiều mạng lưới hoạt động thì khả năng tiếp cận với khách hàng càng được mở rộng, qui mô khách hàng ngày càng lớn và ngược lại. Lãi suất cho vay mua ô tô là chi phí mà khách hàng phải trả cho ngân hàng do đã chuyển cho khách hàng một khoản tiền để khách hàng mua ô tô. Lãi suất cho vay càng thấp thì khả năng cạnh tranh của ngân hàng càng cao. Lãi suất cho vay không phải là công cụ cạnh tranh hữu hiệu của ngân hàng vì lãi suất cho vay có thể giảm nhưng không thể thấp hơn lãi suất huy động.

7 Nhóm các nhân tố khách quan

Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng gồm có: nhu cầu vay vốn của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng và tài sản đảm bảo của khách hàng. Nhu cầu vay vốn của khách hàng phụ thuộc vào nhiều nhân tố như; nghề nghiệp, nơi sống, thu nhập, mục đích sử dụng xe,…Thường thì những khách hàng có thu nhập cao, ổn định và sống ở những thành phố lớn có nhu cầu mua ô tô đắt tiền nhiều hơn nhỡng người có thu nhập trung binh, sống ở nông thôn. Khả năng trả nợ của khách hàng: những khách hàng có khả năng trả nợ tốt sẽ được ngân hàng cho vay, ngân hàng cần phải đánh giá cẩn thận, chính xác khả năng trả nợ của khách hàng trước khi quyết định cho vay. Tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng trong trường hợp nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được. Các nhóm nhân tố khác gồm:

Môi trường kinh tế.

Ảnh hưởng tới hoạt động cho vay mua ô tô. Khi môi trường kinh tế ổn định, thu nhập cua người dân ổn định, họ có nhu cầu nâng cao mức sống của mình, nhu cầu mua ô tô đê di lại và vận chuyển hàng hoá tăng lên. Và ngược lại.

Môi trường văn hóa xã hội.

Ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động cho vay mua ô tô vì nó tác động đến quyết định đi vay mua ô tô. Nếu người dân không có thói quen đi ô tô thì hoạt động cho vay mua ô tô sẽ bị ảnh hưởng.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Môi trường pháp lí.

Tất cả các doanh nghiệp muốn hoạt động trong nền kinh tế đều phải tuân thủ đẩy đủ các qui định của pháp luật. Ngoài ra, ngân hàng còn phải tuân thủ luật các tổ chức tín dụng và luật NHNN Việt Nam. Nếu các qui định của pháp luât hợp lí, chặt chẽ và đi trước một bước sự phát triển của các ngân hàng thì sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển thuận lơi, hoạt động cho vay mua ô tô nhờ thế cũng phát triển theo.

Xem thêm: Thực trạng hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng


CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG VAY MUA OTO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1.- Khái niệm về Ngân hàng:

   Theo điều 20 luật TCTDVN (luật số 02/1997/QH) ban hành ngày 26/12/1997 thì :

  • Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với các nội dung như nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán
  • Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan, trong đó hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với những nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

1.1.2.- Đặc điểm kinh doanh của Ngân hàng thương mại:

Giống như các loại hình doanh nghiệp khác , NHTM cũng là một đơn vị hoạt động với mục tiêu sống còn là lợi nhuận . Tuy nhiên,do hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực khá là đặc biệt (lĩnh vực tiền tệ) nên nó có một số điểm khác biệt với những doanh nghiệp hoạt động trên những lĩnh vực, ngành nghề khác :

  • – Tiền vừa là phương tiện kinh doanh vừa là mục đích kinh doanh đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh.
  • – Vốn của ngân hàng chủ yếu là vốn của người khác, hoạt động theo cơ chế “đi vay để cho vay”.
  • – Hoạt động chứa nhiều rủi ro do quan hệ với nhiều khách hàng và trên nhiều lĩnh vực.
  • – Sản phẩm của ngân hàng về bản chất là sản phẩm dịch vụ trong đó có một số sản phẩm đặc biệt: tín dụng(quan hệ mua bán quyền sử dụng vốn) tạo ra nhiều điểm riêng có cho ngân hàng
  • – Tính liên kết của hệ thống trong quá trình kinh doanh giữa các ngân hàng luôn có mối quan hệ hợp tác liên kết
  • – Giữa các sản phẩm của ngân hàng có mối quan hệ hết sức chặt chẽ nên khó có thể tách riêng từng sản phẩm, từng nhóm sản phẩm để đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh trực tiếp ( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

1.1.3 Chức năng của Ngân hàng thương mại:

1.1.3.1  Trung gian tài chính

Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, hiện tượng thừa vốn nơi này, thiếu vốn nơi khác ngày càng trở nên phổ biến hơn. Xảy ra hiện tượng này, là do cơ chế hoạt động của mọi doanh nghiệp trong xã hội đều tuân theo công thức T-H-T’, do đó sẽ làm cho tại một thời điểm tiền sẽ thừa khi doanh nghiệp bán thành phẩm và thiếu khi mua nguyên vật liệu chuẩn bị sản xuất. Trước tình hình đó, NHTM xuất hiện trong vai trò là cầu nối giữa các đầu mối tài chính trong nền kinh tế, giữa nơi thừa vốn với nơi thiếu vốn đã giải quyết một cách hài hoà mâu thuẫn đó

Như vậy, NHTM không chỉ thực hiện chức năng này đối với các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế mà còn là một trong những phương tiện kết nối giữa NHTW với nền kinh tế trong việc đưa các chính sách tài chính, tiền tệ của chính phủ và NHTW vào điều tiết nền kinh tế, đồng thời ngược lại cũng thông qua các hoạt động của NHTM các thông tin từ nền kinh tế được phản hồi một cách trung thực và rõ ràng nhất tạo điều kiện cho các cơ quan hữu quan nhà nước có được những chính sách thích hợp trong việc điều tiết nền kinh tế, giúp đất nước đạt được những mục tiêu đề ra

NHTM với chức năng này đã góp phần thực thi các chính sách của NHTW của chính phủ, huy động tối đa mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế

  • Trung gian thanh toán

   Chức năng này được thể hiện thông qua các hoạt động thanh toán và chi trả giữa các khách hàng với nhau theo sự uỷ thác của họ như: thu hộ, chi hộ… .Khi thực hiện chức năng này, NHTM đã tạo nên các công cụ lưu thông tín dụng và quản lý các công cụ đó, như sec, UNT, UNC, thẻ thanh toán… góp phần giảm lượng thanh toán bằng tiền mặt từ đó sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí cho xã hôi có liên quan trong đó có chi phí phát hành, in ấn, vận chuyển tiền mặt

   Thực hiện chức năng này ngân hàng vừa là người cung cấp phương tiện thanh toán đặc biệt là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, trung gian thu chi hộ, thanh toán giữa người chi trả và người thụ hưởng đồng thời là người bảo quản tiền bạc cho khách hàng

  • Tạo tiền cho nền kinh tế

   Chức năng này là hệ quả dẫn tới của việc thực hiện hai chức năng trên của NHTM, các hoạt động “đi vay” để “cho vay” của hệ thống các NHTM mang lại khả năng tạo tiền cho nền kinh tế, thông qua các bút tệ tiền được nhân lên nhiều lần và khả năng tạo tiền của hệ thống được thể hiện thông qua hệ số nhân mức cung tiền.

1.1.4  Các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của Ngân hàng thương mại:

1.1.4.1  Các nghiệp vụ tài sản nợ (nguồn vốn):

Đây là các nghiệp vụ giúp hình thành nên nguồn vốn cho ngân hàng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình, bao gồm:

   – Vốn huy động: Là vốn của các cá nhân, tổ chức khác nhau trong nền kinh tế mà ngân hàng thu hút được để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình với trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi đúng thoả thuận. Đây là nguồn vốn chiếm tỉ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Bao gồm các nguồn :( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

+ Nguồn tiền gửi

* Từ các tổ chức kinh tế

** Tiền gửi không kỳ hạn : Là một khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng với thoả thuận là có thể rút ra bất cứ lúc nào và không xác định được thời hạn gửi, thường thì đây là các khoản khách hàng gửi vào chờ thanh toán, phục vụ cho việc kinh doanh tạo sự tiện lợi cho hoạt động thanh toán trong kinh doanh của đơn vị, cá nhân chứ không phải là một khoản tiền gửi với mục đích để dành

** Tiền gửi có kỳ hạn (3 tháng, 6 tháng, 9 tháng …): đây là loại tiền gửi mà khách hàng và ngân hàng đã có thoả thuận về thời gian gửi, lãi suất, số tiền gửi từ đó ngân hàng có thể chủ động được trong việc chi trả của mình. Đồng thời, đây là hình thức mà khách hàng thường chọn để gửi những khoản tiền tạm thời chưa sử dụng hay để dành nhằm mục đích sinh lời

** Tiền gửi ký quỹ : Đây là loại hình khách hàng gửi tiền vào nhằm mục đích thuận lợi cho hoạt động thanh toán sec, L/C …

** Tiền gửi chuyên dùng: Là nguồn tiền gửi do ngân sách cấp cho các đơn vị hành chính sự nghiệp mà ngân hàng phải để riêng theo yêu cầu với những mục đích xác định

* Từ cá nhân

** Tiền gửi trên tài khoản cá nhân : Mục đích gửi của khách hàng thường là để đảm bảo an toàn hay thuận lợi trong thanh toán bằng cách sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp

** Tiền gửi tiết kiệm : Bao gồm tiền gửi tiết kiệm có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm không kì hạn

   Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn : Giống như tiền gửi có kì hạn, đây là các khoản tiền mà các cá nhân gửi vào với mục đích hưởng lợi tức, kì hạn được xác định trước, thường là 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng …( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

    Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn Đây cũng là loại tiền gửi giúp khách hàng hưởng lợi tức nhưng kì hạn thì không xác định

** Tiền gửi có mục đích : Là loại tiền gửi được các cá nhân xác định mục đích trước khi gửi , tiền gửi tiết kiệm giáo dục, mua nhà, mua xe…

** Tiền gửi tiết kiệm có báo trước : Giống như loại tiền gửi không kì hạn nhưng khách hàng muốn rut ra phải báo trước cho ngân hàng một khoảng thời gian theo thoả thuận trước khi gửi, loại này có lãi suất cao hơn tiền gửi không kì hạn

 * Từ kho bạc nhà nước: Các chi nhánh của kho bạc thường có một phần vốn chưa sử dụng nên gửi vào ngân hàng để sinh lời và đảm bảo an toàn vốn

 * Từ các tổ chức tín dụng khác: Các ngân hàng cùng hệ thống hoặc khác hệ thống thường có quan hệ đại lí với nhau, mở tài khoản thanh toán nhằm thực hiện các khoản thu – chi hộ cho khách hàng, đặc biệt là sử dụng trong các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, UNT, UNC … hoặc thực hiện thanh toán liên ngân hàng

+ Nguồn vốn huy động thông qua các chứng chỉ tiền gửi

 * Phát hành kỳ phiếu: Đây là dạng huy động có tính chất không thường xuyên, có lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm có cùng kì hạn. Việc phát hành kì phiếu phải có kế hoạch và ngân hàng chỉ phát hàng khi thiếu vốn trong việc cân đối vốn

* Phát hành trái phiếu ngân hàng : Là dạng huy động có tính chất là một khoản đi vay của các thành phần dân cư trong xã hội với mục đích xác định trước. Việc xác định thời hạn dựa vào mục đích sử dụng và phương pháp trả lãi

+ Vốn vay từ ngân hàng trung ương và từ các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước nhằm mở rộng quy mô , bổ sung vốn dự trữ hay đảm bảo các khoản thanh toán

– Vốn tự có. Bao gồm :

+ Vốn điều lệ( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

+ Lợi nhuận chưa chia

+ Các quỹ dự phòng của ngân hàng

   Đây là khoản vốn chiếm tỉ trọng không lớn và được sử dụng để đầu tư vào tài sản cố định( như trụ sở của ngân hàng, trang thiết bị, máy móc…), tuy chiếm tỉ trọng không lớn nhưng đây là nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ, củng cố sự tồn tại của ngân hàng trước những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra, khẳng định vị thế. Đây là khoản vốn mà ngân hàng có thể toàn quyền sử dụng vào bất cứ lĩnh vực nào được pháp luật cho phép

– Vốn khác

+ Vốn uỷ thác :

  Là nguồn vốn của các cá nhân và tổ chức trong nước, nước ngoài trao cho ngân hàng và uỷ thác cho các ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh, tài trợ cho một đối tượng, chương trình, dự án theo những điều kiện mà người uỷ thác quy định

+ Vốn thanh toán :

  Thời hạn mà ngân hàng giữ khoản vốn này lại là rất ngắn nhưng thường xuyên trong các hoạt động thanh toán hộ ( thu hộ – chi hộ ).

1.1.4.2.- Các nghiệp vụ tài sản có (sử dụng vốn):

Đây là các nghiệp vụ sử dụng vốn ngân hàng có được để kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi.

  • Tài sản cố định của ngân hàng: Thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng tài sản có của ngân hàngnhư trụ sở, máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển …
  • Tài sản ngân quỹ : Quy mô của tài sản này thường phụ thuộc vào nhu cầu chi trả tiền gửi, cho vay, chi tiêu … Bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền dự trữ bắt buộc tại ngân hàng nhà nước , tiền gửi thanh toán tại ngân hàng nhà nước, tiền gửi thanh toán tại các tổ chức tín dụng khác
  • Các khoản cho vay: Đây là tài sản chủ yếu, sử dụng vốn nhiều nhất, tồn tại dưới dạng các khoản dư nợ cho vay với mục đích tìm kiếm lợi nhuận qua chênh lệch lãi suất nhưng xác suất rủi ro lớn
  • Các khoản đầu tư : Đây là các khoản đầu tư với mục đích là tăng tỉ suất sinh lợi của đồng vốn, phân tán rủi ro, như: đầu tư chứng khoán, kinh doanh vàng bạc đá quý …

1.1.4.3.- Các nghiệp vụ trung gian:

   Đây là những dịch vụ mở rộng của ngân hàng, sự đa dạng của nó cho phép hỗ trợ các hoạt đông cho ngân hàng, khai thác nguồn vốn , mở rộng nghiệp vụ đầu tư, tạo thu nhập cho ngân hàng bằng các khoản tiền lãi, hoa hồng … Bao gồm:

  • Thanh toán hộ( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )
  • Bảo lãnh
  • Mua bán ngoại tệ, vàng bạc đá quý, các tài sản khác
  • Tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty cổ phần trong việc phát hành cổ phiếu , trái phiếu …

1.2.- Khái niệm về tín dụng Ngân Hàng

1.2.1.- Khái niệm tín dụng:

Về hình thức: tín dụng là một quan hệ “vay – mượn” kinh tế(phân biệt với vay mượn dân sự)

Về nội dung: tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng vốn từ người cho vay sang người đi vay với những điều kiện nhất định để sau một khoản thời gian nhất định theo thoả thuận vốn sẽ được hoàn trả với một lượng giá trị danh nghĩa lớn hơn ban đầu (gồm cả gốc lẫn lãi). Chính vì vậy, một trong những nguyên tắc của tín dụng là cho vay có mục đích và người cho vay có quyền kiểm soát quá trình sử dụng vốn của người đi vay.

1.2.2.- Khái niệm tín dụng Ngân Hàng:

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng mà trong đó chủ thể tham gia có ít nhất một ngân hàng đóng vai trò là chủ thể đi vay (tín dụng đầu vào) hay chủ thể cho vay (tín dụng đầu ra). Do đó, trong một thời điểm ngân hàng có thể là người đi vay đồng thời cũng là người cho vay nên thường gọi là tín dụng hai đầu, được thể hiện thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

2.2.- Chức năng và vai trò của tín dụng Ngân Hàng

2.2.1.- Chức năng của tín dụng Ngân Hàng :

   Chức năng tập trung và phân phối các nguồn tài chính trong nền kinh tế thông qua quan hệ tập trung trong mua vốn và phân phối trong bán vốn.

Tín dụng là sự vận động của vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác, hay nói một cách cụ thể hợn là sự vận động của vốn từ những cá nhân, doanh nghiệp có vốn tạm thời chưa sử dụng sang những chủ thể cần vốn cho hoạt động kinh doanh. Nghĩa là nhờ sự vận động của tín dụng mà các chủ thể vay vốn nhận được một phần vốn tiền tệ để đáp ứng kịp thời cho những nhu cầu từ hoạt động sản xuất, tiêu dùng

Trong nền kinh tế thị trường, phân phối tín dụng qua các ngân hàng chiếm vị trí quan trọng nhất.Tín dụng ngân hàng huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong quá trình tái sản xuất và các khoản tiền để dành lẻ tẻ trong các tầng lớp dân cư trong xã hội, để hình thành nên quỹ cho vay, trên cơ sỏ đó cho vay đối với những nơi cần bổ sung thêm vốn. Cả hai mặt huy động và phân phối đều dựa trên nguyên tắc hoàn trả

  • Chức năng sinh lời :

Ngân hàng hoạt động theo định chế ngân hàng trung gian, đồng vốn được sử dụng nhiều lần dẫn đến lợi ích theo đó cũng tăng cao

Thông qua ngân hàng, đồng tiền sẽ luân chuyển nhanh hơn, tức là tốc độ vòng quay của vốn tăng lên dẫn tới hiệu quả sinh lời của đồng vốn tăng theo, hơn nữa làm cho chi phí tiền mặt cho lưu thông giảm. Ngoài những tác dụng trên thì ngân hàng còn là một đơn vị kinh doanh nên giống như các doanh nghiệp khác thì mục tiêu sinh lời luôn đặt lên hàng đầu và là yếu tố sống còn của ngân hàng mà mọi quyết định hay kế hoạch đều phải tính tới

  – Chức năng kiểm soát và phản ánh tổng hợp các mặt hoạt động của nền kinh tế.

Đứng trên giác độ vi mô : Thông qua tín dụng ngân hàng, ngân hàng có thể kiểm soát việc sử dụng vốn trước trong và sau khi vay của khách hàng để có những hành vi ứng xử, biện pháp xử lí kịp thời đem lại hiệu quả cao cho đồng vốn

Đứng trên giác độ vĩ mô : Thông qua cung tín dụng Chính Phủ biết được sự tăng trưởng sản lượng, công ăn việc làm và mức lạm phát của nền kinh tế, kiểm soát được sự lành mạnh về tài chính của các công dân.

2.2.2.- Vai trò của tín dụng Ngân Hàng :

  •  – Thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng thông qua việc cung ứng kịp thời, đầu tư nguồn vốn cho các đơn vị kinh tế
  • – Góp phần làm thay đổi cơ cấu sản xuất, xây dựng một nền kinh tế phát triển đồng đều theo đúng mục tiêu đã đặt ra
  •  – Góp phần củng cố kế hoạch quản lý kinh tế ở các đơn vị, tăng cường hoạt động hạch toán kinh tế
  •  – Góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông toàn xã hội
  • – Giúp mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

  Qua các yếu tố trên, chứng tỏ tín dụng ngân hàng đã và đang tạo điều kiện cho kinh tế nước ta phát triển, mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới, đồng thời góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới kinh tế, đáp ứng mọi yêu cầu của thời đại, nhất là khi nước ta đã là thành viên chính thức của tổ chức WTO

2.3.- Đặc điểm của tín dụng Ngân Hàng

  • Huy động vốn và cho vay đều dưới hình thức tiền tệ : Đây là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và phù hợp với mọi đối tưọng trong nền kinh tế quốc dân. Ngân hàng qua hoạt động huy động vốn đã tạo nên một quỹ vốn nhàn rỗi và sãn sàng cho vay với những ai cần vốn để bổ sung hay trả nợ … bằng những cơ chế thích hợp
  • Thông qua hoạt động này giúp nổi bật vai trò trung gian của ngân hàng trong quá trình huy động vốn và cho vay.
  • Vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, vốn tín dụng được xem là yếu tố tất yếu của của mọi doanh nghiệp, nó tham gia vào quá trình sản xuất như là một yếu tố đầu vào cần thiết phải có và nó cũng có thể là đầu ra mong muốn của mọi doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, vốn tín dụng lại không tham gia vào quá trình sản xuấ, tách rời với sản xuất tức là không có sản phẩm hữu hình, như hoạt động tái chiết khấu , cầm cố thế chấp các loại giấy tờ có giá, trái khoán, trái phiếu …

2.4.- Một số nguyên tắc cơ bản của tín dụng NHTM

  • Nguyên tắc cho vay có mục đích

Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng, một khoản tín dụng khi được cung ứng ra bên ngoài phải là một khoản tín dụng hợp pháp với mục đích rõ ràng, và có các bằng chứng chứng minh cụ thể, bởi vì đây không chỉ là vấn đề pháp luật mà nó còn là vấn đề rủi ro cho ngân hàng, Đảm bảo nguyên tắc này giúp ngân hàng có được căn cứ để thẩm định yêu cầu vay vốn, xem xét tính khả thi và khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

  • Nguyên tắc hoàn trả :

Vốn vay phải được hoàn trả cả vốn gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho các ngân hàng tồn tại và phát triển, bởi nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn huy động nên phải trả lãi và đúng hạn để giữ uy tín. Còn đối với các chủ thể vay vốn thì họ phải tính toán cân nhắc và có trách nhiệm đối với khoản vay

  • Nguyên tắc đảm bảo

   Việc đảm bảo tiền vay phải được thực hiện theo đúng quy định của Chính Phủ . Thường thì ngân hàng căn cứ mức độ tín nhiệm của khách hàng vay và tính chất của khoản vay để yêu cầu khách hàng vay vốn có hay không có tài sản đảm bảo, đây là nguồn trả nợ cuối cùng của khách hàng trong trường hợp ngân hàng không thu được nợ, có như vậy ngân hàng mới chủ động trong việc thu hồi nợ

2.5.- Phân loại tín dụng Ngân Hàng

2.5.1.- Theo thời hạn:

  • Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn dưới 12 tháng, dùng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
  • Tín dụng trung hạn: Thời hạn 1- 5 năm thường được sử dụng mua sắm tài sản cố định, mở rộng kinh doanh…
  • Tín dụng dài hạn: Thời hạn trên 5 năm nhằm đáp ững các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, mua sắm thiết bị, phương tiện có giá trị lớn …

2.5.2.- Theo mục đích sử dụng vốn:

  • Cho vay đầu tư: Cung cấp để phục vụ cho sản xuất kinh doanh( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )
  • Cho vay tiêu dùng: Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm, sửa chữa nhà cửa, xe cộ …

2.5.3.- Theo hình thức đảm bảo:

  • Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản : Là loại hình tín dụng được ngân hàng cung cấp trên cơ sở tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba bằng tài sản
  • Tín dụng không có đảm bảo bằng tài sản (tín chấp) : Ngược với tín dụng có đảm bảo tài sản bằng tài sản, việc cho vay được dựa vào uy tín, năng lực tài chính của khách hàng, tính khả thi của dự án

2.5.4.- Theo đối tượng của tín dụng:

  • Tín dụng bằng tiền, là loại tín dụng thông thường nhất, việc cho vay và trả nợ vay đều bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.
  • Tín dụng bằng tài sản, việc cấp tín dụng cho khách hàng được ngân hàng cấp bằng tài sản theo thoả thuận , hiện nay phổ biến là hình thức cho thuê tài chính.

Xem thêm: Kiến Nghị – Giải Pháp hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng


CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG VAY MUA OTO TẠI NGÂN HÀNG

Khái niệm

Ngân hàng là trung gian tài chính không thể thiếu trong sự phát triển của mỗi quốc gia, Nh là mạch máu của nên kinh tế. Tùy theo các cách tiếp cận khác nhau ta có các quan niệm khác nhau về Ngân hàng. Ta có thể tiếp cận khái niệm Ngân hàng thông qua chức năng, nhiệm vụ, hoạt động…của Ngân hàng

Xét trên quan niệm loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp, theo Peter Roes, “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán,…và thực hiện nhiều dich vụ tài chính nhất so với bất kì tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Dựa trên hoạt động chủ yếu của Ngân hàng, theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.

Tùy theo sự phát triển của hệ thống tài chính , Ngân hàng có thể bao gồm nhiều loại hình khác nhau như: NHTM, NH đầu tư, NH phát triển, NH hợp tác…trong đó NHTM chiếm tỉ trọng lớn nhất về số lượng, thị phần, qui mô. Theo pháp lệnh “NH, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính” ban hành năm 1990 thì “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”

Chức năng của Ngân hàng thương mại

Chức năng trung gian tài chính

NH là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc giữa hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế:

Một là, các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt qua thu nhập. Vì thế họ là những người cần bổ sung vốn

Hai là, các cá nhân và tổ chức tạm thời thặng dư chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư nhở hơn thu nhập. Vì thế họ là những người dư thừa vốn. Họ có tiền để tiết kiệm.

Thông qua NH, tiền được chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất vì quan hệ trực tiếp bị nhiều giứi hạn về qui mô, thời gian, không gian… Hơn nữa, NH sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành những chứng khoán ít rủi ro ch người gửi tiền (NH tham gia vào kinh doanh rủi ro).( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Tạo phương tiện thanh toán

Các Nh không tạo được tiền kim loại, không in được tiền giấy, nhưng các Nh có thể tạo ra được phương tiện thanh toán khi phát hành ra các giấy nhận nợ. Với những ưu điểm nhất định, giấy nhận nợ giấy nhận nợ đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi và được nhiều người chấp nhận.

Trong điều kiện phát triển thanh toán qua NH, các khách hàng có thể sử dụng số dư trên tài khoản tiền gứi thanh toán để chi trả và có được những hàng hóa dịch vụ theo yêu cầu. Khi NH cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hóa, dịch vụ. Như vậy Nh đã tạo ra phương tiện thanh toán.

Toàn bộ hệ thống NH cũng tạo được phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ NH này đến NH khác trên cơ sở cho vay.

Trung gian thanh toán

NH trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mạt khách hàng, NH thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa , dịch vụ. Ngoài ra , các NH còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua NHTW hoặ thông qua các trung tâm thanh toán.

Hoạt động của NHTM

NH là một doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ cho vông chúng vàn doanh nghiệp. Nh là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt cung cấp nhiều dịch vụ nhất so vưới bất kì doanh nghiệp nào. Theo luật các tổ chức tín dụng, hoạt động NH bao gồm các hoạt động cơ bản sau:

Hoạt động huy động vốn

Bao gồm các hình thức sau:

– Nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi có kì hạn, tiền gửi không kì hạn, tiền gửi khác.

– Huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thông qua phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác.

– Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và nước ngoài

– Vay vốn ngắn hạn của NHNN

– Các hình thức huy động khác phù hợp với qui định của NHNN

Hoạt động tín dụng

NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới nhiều hình thức: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, trong đó cho vay là hoạt động chiếm tỉ trọng lớn nhất.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Hoạt động thanh toán và ngân quĩ

Bao gồm các hoạt động sau:

  • – Cung cấp các phương tiện thanh toán
  • – Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế cho khách hàng khi được NHNN cho phép.
  • – Thực hiện thu hộ, chi hộ và phát tiền cho khách hàng.
  • – Tổ chức thực hiện thanh toán nội bộ và thanh toán qua hệ thống liên Nh trong nước.
  • – Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.

Hoạt động khác

  • – Góp vốn và mua cổ phần
  • – Tư vấn tài chính
  • – Ủy thác và nhận ủy thác
  • – Cung ứng dịch vụ bảo hiểm
  • – Bảo quản vật quý giá ( cho thuê két sắt)
  • – Kinh doanh ngoại hối

2.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động cho vay đối với Ngân hàng thương mại

2.1.1. Khái niệm

Tín dụng là quan hệ vay mượn gồm cả đi vay và cho vay. Tuy nhiên, khi gắn tín dụng với một chủ thể nhất định như NH (hoặc các trung gian khác) ví dụ nư tín dụng NH thì chỉ bao hàm nghĩa cho vay.

Theo luật các tổ chức tín dụng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 49 ghi: “tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân  dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo qui định của NHNN”.

Như vậy, cho vay cũng là một trong các hình thức tín dụng NH. Theo quyết định số 1627/2001/QĐ NHNN về việc ban hành qui chế cho vay của TCTD đối với khách hàng thì: “ Cho vay là một hình thức tấp tín dụng, theo đó  tổ chức tín dụng giaocho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.

2.1.2. Vai trò của hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay lầ hoạt động bao trùm của NH với tầm quan trọng và qui mô lớn, hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràng, được xác định và hoàn thiện qua nhiều năm, đó là chính sách tín dụng (chính sách cho vay). chính sách cho vay phản ánh cương lĩnh tài trợ của một NH , trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và nhân viên NH, tăng cường chuyên môn hóa trong hoạt động phân tích tín dụng, tọa sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.

Cho vay mang lại cho NH một khoản lợi nhuận không nhỏ do lãi suất cho vay thừng lớn. Mặt khác, cùng với sự phát triển của nền kính tế, nhu cầu vay vốn của khách hàng ngày càng phát triển lên, tổng thu nhập từ hoạt động này là đáng kể.

2.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay

2.2.1. Đặc điểm về đối tượng cho vay

Khách hàng vay là khách hàng cá nhân, hộ gia đình,doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hôi khác trong nền kinh tế. Khách hàng muốn vay vốn phải có đủ năng lực pháp lý và đáp ứng đủ các điều kiện mà NH đưa ra. Nhu cầu vay vốn xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng hoặc nhu cầu kinh doanh.

2.2.2. Đặc điểm qui mô cho vay

Qui mô của các khoản cho vay tùy thuộc vào nhu cầu vay của từng khách hàng, tài sản đảm bảo và khả năng trả nợ của từng khách hàng. Ngoài ra, qui mô cho vay còn phụ thuộc vào vốn điều lệ và khả năng huy động vốn của NH. Khách hàng doanh nghiệp thường có nhu cầu vay vốn lớn hơn khách hàng cá nhân, tài sản đảm bảo lớn thì nhu ầu vay vốn của khách hàng được đáp ứng tốt hơn. Khi vốn điều lệ và nguồn huy động vốn của NH lớn thì NH sẽ mở rộng cho vay, qui mô các khoản cho vay tăng lên.

2.2.3. Rủi ro

Cho vay là hoạt động có khả năng mang lại rủi ro lớn nhất cho NH. Rủi ro này xảy ra khi khách hàng không có khả năng hoàn trả gốc và (hoặc) lãi khi đến hạn. Tùy thuộc vào qui mô, đặc điểm của từng khoản vay, khách hàng vay mà khả năng mang lại rủi ro cho NH khác nhau. Các món vay tiêu dùng thường chứa đựng rủi ro cao nhất.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

2.2.4. Lãi suất và khả năng sinh lời

Lãi suất là tỉ lệ phần trăm khách hàng phải trả cho NH tính trên số tiền NH đã cho khách hàng vay trong một thời gian cụ thể do việc khách hàng đã nhường cho khách hàng dược sử dụng số đó trong khoảng thời gian nhất định. Lãi suất của mỗi khoản vay là khác nhau, tùy theo qui và thời hạn vay. Ngoài ra lãi suất cho vay con phụ thuộc vào qui định của NHNN. Ở Việt Nam hiện nay, lãi suất cho vay khoảng 1,3 – 1,6%.

Khả năng sinh lời của các món cho vay lớn, tùy thuộc vào từng món vay và lãi suất thỏa thuận của từng món vay. Các món vay có khả năng xảy ra rủi ro lớn thì khả năng sinh lời càng cao và ngược lại. Tuy nhiên, so với tất ả các hoạt động khác thì cho vay được xem như là hoạt động có khả năng sinh lời lớn nhất.

2.3. Các hình thức cho vay của NHTM

Cho vay là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất cho NH đồng thời cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất đối với NH. Tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của NH ta có thể phân cho vay thành nhiều hình thức khác nhau. Việc phân loại này chỉ mang tính tương đối.

2.3.1. Phân loại theo thời gian

Có cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn

– Cho vay ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống

– Cho vay trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm

– Cho vay dài hạn: Từ 5 năm trở lên

2.3.2. Phân loại theo hình thức cho vay

Đây là cách phân loại quan trọng nhất bao gồm: chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê

  • – Chiết khấu thương phiếu là việc NH ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi một phần thu nhập của khách hàng để sở hữu 1 thương phiếu chưa đến hạn
  • – Cho vay là việc NH đưa tiền của mính cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định
  • – Bảo lãnh là việc NH cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của mình trong trường hộp khách hàng không lam đúng qui định đã thỏa thuận với đối tác
  • – Cho thuê là việc NH bỏ tiền của mình ra mua những tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định, khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho NH( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

2.3.3. Phân theo tài sản đảm bảo

Tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ thứ hai của NH trong trương hợp nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được. Phân theo tài sản đảm bảo có: cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo

2.3.4. Phân theo mục đích sử dụng tiền vay

–  Cho vay sản xuất kinh doanh: là cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của khách hàng như: mua sắm nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng…

– Cho vay tiêu dùng: là cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của khách hàng như: mua sắm nhà ở, mua ô tô để đi lại…

2.3.5. Các phương thức phân loại khác

Phân loại theo ngành nghề kinh tế, theo đối tượng tín dụng

3.1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay mua ô tô

3.1.1. Khái niệm

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự phát triển của khoa học kĩ thuật, ô tô là một phương tiện vận tải và đi lại không thể thiếu ở các nước phát triển. Trước đây, vào những năm đầu của thế kỉ 20, việc sản xuất và bán ô tô chỉ mang tính mùa vụ. Doanh số bán ra thường tăng đột biến vào mùa hè và mùa xuân. Tuy nhiên, vào mùa đông hoặc mùa thu, hoạt động này lại rất ế ẩm, các hãng sản xuất hầu như ngừng hoạt động vì không bán được hàng. Vào những tháng cao điểm, dây truyền sản xuất luôn phải hoạt động hết công xuất. Điều này làm cho máy móc hao mòn nhanh và chi phí khấu hao lớn. Tuy nhiên, nếu các hãng sản xuất vẫn duy trì sản xuất, để hàng tại kho chờ những tháng cao điểm bán ra thì lại không có đủ khả năng tài chính. Cho vay mua ô tô ra đời đã khắc phục được nhược điểm này của ngành ô tô. Nó vừa giúp các hãng sản xuất có thể duy trì sản xuất và bán hàng đều đặn, vừa giúp khách hàng có thể sử dụng ô tô  khi chưa có đủ tiền mua.

Cho vay mua ô tô là một trong nhiều hình thức cho vay của NHTM. Hiện nay, cho vay mua ô tô đang được nhiều NH áp dụng và mở rộng vì đây là một thị trường tiềm năng đối với các NHTM. Cho vay mua ô tô được hiểu như là một hình thức cho vay của NHTM, theo đó NH có thể cho khách hàng sử dụng trước một khoản tiền với mục đích mua ô tô theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo thỏa thuận.

3.1.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay mua ô tô

Cho vay là một hình thức của cho vay. Vì vậy nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của cho vay nói chung. Ngoài ra, hoạt động cho vay mua ô tô còn mang những đặc điểm riêng sau:

Xem thêm: Lời kết luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng

3.1.2.1. Đặc điểm về đối tượng, phạm vi và qui mô của cho vay

Đối tượng cho vay mua ô tô( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Đối tượng cho vay mua ô tô là giá trị hình thành lên chiếc xe. Giá trị của chiếc xe bao gồm nhiều chi phí khác nhau như: chi phí mua xe, chi phí bảo hiểm, chi phí nộp thuế,…. Đối tượng cho vay mua ô tô có thể gồm hoặc không gồm các chi phí khác ngoài chi phí mua xe, tùy thuộc vào từng NH. Các Nh thường cho vay với một tỉ lệ nhất định trên chi phí mua xe, thường là từ 60% – 80%

Phạm vi và qui mô cho vay mua ô tô

Mọi cá nhân, hộ gia đình và tổ chức có nhu  cầu vay vốn mua xe đều được cho vay khi có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đáp ứng đủ yêu cầu của NH

– NHóm khách hàng cá nhân, hộ gia đình: Nhóm khách hàng nàu có thu nhập cao và ổn địn, họ có nhu cầu mua ô tô để phục vụ cho việc đi lại hàng ngay, loại xe mà nhóm khách hàng này hướng tới thường là xe co, xe du lịch loại nhỏ, những xe sang trọng, hiện đại, có giá trị cao. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu đi lại bằng ô tô của người dân ngày càng phát triển, nhóm khách hàng này càng tăng lên, họ thường chỉ mua 01 chiếc xe.

– Nhóm khách hàng là các hãng, các doanh nghiệp:

NHóm khách hàng này thường có nhu cầu mua ô tô để phục vụ cho nhu cầu chung của doanh nghiepj như phục vụ cho viecj đi lại của lãnh đạo, đưa đứn cán bộ nhân viên, vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu của công ty. Họ thương mua ít xe nhưng là những loại xe đắt tiền, cỡ lớn.

Với các doanh nghiệp chuyên kinh doanh trong lĩnh vực vận tải, tãi, nhóm khách hàng này thương hướng tới loại xe phục vụ cho hoạt động kinh doanh  của họ. Họ thương mua  một số lượng lớn xe có giá trị trung bình, vì vậy, số tiền họ vay là lớn.

3.1.2.2. Đặc điểm về thời gian cho vay mua ô tô

Đối với các khoản vay theo món, thường là món vay có thời hạn ngắn hoặc trung hạn, tuy nhiên các khoản vay trả góp thường là các khoản vay trung hạn và dài hạn. Các Nh thường qui đình thời gian cho vay là từ 1 – 6 năm, tùy từng NH , mục đích sử dụng vón vay, tài sản đảm bảo, nguồn và kế hoạch trả nợ. Các món vay có thể dược vay với thời hạn dài hơn.Nhưng NH không nên cho vay với thời hạn quá dài. Vì như vậy thiện trí trả nợ của khách hàng sẽ bị giảm, việc thu hồi nợ của NH gặp khó khăn, khả năng sxảy  ra rủi ro đối với NH tăng lên

3.1.2.3. Đặc điểm về rủi ro và lãi xuất cho vay mua ô tô

Khi mua ô tô khách hàng thường thế chấp bằng chính chiếc xe, mà giá trị của chiếc xe thường giảm theo thời gian sử dụng. Khách hàng sẽ trả nợ cho NH từ chính thu nhập của họ. Vì vây, khả năng thu hồi nợ của NH sẽ giảm sút trong trường hợp thu nhạp của khách hàng khách hàng bị mất việc làm, thu nhập giảm,…Khi cho vay mua ô tô NH thường cầm bản chính của giấy tờ xe và bắt khách hàng phải mua bảo hiểm cho xe và người thụ hưởng trong trường hợp xảy ra tổn thất là NH. Nhưng thường thì các món vay mua ô tô có giá trị nhỏ nên phân tán được rủi ro cho NH. Hoạt động cho vay mua ô tô cjcoi như là hoạt động có rủi ro thấp.

Ở Việt Nam lãi suất cho vay mua ô tô thường cao hơn so với các hình thức khác. Theo khung lãi suất cũ của NHNN thì lãi suất cho vay mua ô tô khoảng từ 1 – 1,2%/ tháng. Từ đầu năm 2008 là khoảng từ 1,3 – 1,7%/ tháng tuyg theo thời gian vay và món vay. Những món vay có thời gian vay < 12 tháng thì áp dụng lãi suất cố định, những món vay có thời gian trên 12 tháng thì ấp dụng lãi suất thả nổi.

3.1.3. Các phương thức cho vay mua ô tô

  • Khi xét đến phương thức cho vay mua ô tô, tùy theo từng góc độ khác nhau ta có các phương thức cho vay khác nhau. Việc phân chia này chỉ mang tính tương đối
  • Nếu xét về quan hệ giữa NH và khách hàng có phương thức cho vay trực tiếp và phương thức cho vay gián tiếp. Trong đó;
  • Phương thức cho vay trực tiếp đối với người mua là Phương thức cho vay mà NH thực hiện cho vay trực tiếp đối với người mua. Theo ph]ơng thức này Nh sẽ thay mặt khách hàng thanh toán số tiền mua ô tô của khách hàng cho các hãng sản xuât, doanh nghiệp , đại lý bán ô tô. Khi đến hạn  thanh toán, khách hàng phải trả Nh số tiền đã vay và lãi như đã kí trong hợp đồng vay.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )
  • Phương thức cho vay gián tiếp: Là phương thức cho vay mà theo đó NH se tài trợ một phần hoặc toàn bộ cho doanh nghiệp bán ô tô. Các doanh nghiệp sẽ nhận ngay số tiền sau khi bán hàng và làm đại lí thu tiền cho NH. Phương thức này có thẻ khái quát thành sơ đồn sau:
  • Phương  thức cho vay trả góp (trả nợ gốc làm nhiều kì, trả lãi hàng tháng): áp dụng trong trường hợp thời gian vay trên 12 tháng hoặc thời gian vay không quá 12 tháng nhưng đảm bảo bằng tài sản là chiếc xe ô tô hình thành từ vốn vay.

Phương thức cho vay theo món (trả nợ gốc vaoc cuối kì, lãi trả hàng tháng): Áp dụng trong trường hợp thời gian vay dưới 12 tháng và khách hàng sử dụng tài sản đảm bảo khác để đảm bảo tiền vay.

3.2. Vai trò của hoạt đông cho vay mua ô tô

3.2.1. Đối với khách hàng

 Hoạt động cho vay mua ô tô của NH đã mang lại cho khách hàng nhiều lợi ích, hoạt động này có vai trò quan trọng đối với khách hàng

  • – Nhờ có hoạt động cho vay mua ô tô, khách hàng có theer sử dụng chiếc xe ô tô ưng ý khi chưa đủ tiền mua. Từ đó khách hàng có thể được những tiện ích mà xe mang lại, cũng có thể sử dụng chiếc xe vào mục đích kinh doanh mang lại thu nhập
  • – Nhờ có hoạt động cho vay mua ô tô, khách hàng có thể sử dụng chiếc ô tô sang trong, tiện ích, phục vụ cho công viêc, tạo tinh thần hưng phấn, tạo động lực để khách hàng làm việc hiệu quả.
  • – Nhờ có hoạt động cho vay mua ô tô của NH, khách hàng sẽ có thêm một nguồn để huy tài trợ cho chi tiêu và kinh doanh.
  • – Nhờ có hoạt động cho vay mua ô tô của NH, các đại lí và các hãng sản xuất ô tô kí hợp đồng liên kết với Nh có thể bán được nhiều xe hơn, góp phần làm tăng doanh thu cho các hãng này.

3.2.2. Đối với NH

Cho vay mua ô tô cũng là hoạt động có vai trò quan trọng đối với bản thân NH

  • – Cho vay mua ô tô mang lại cho Nh một khoản lợi nhuận lớn do lãi suất cho vay mua ô tô thường cao hơn các khoản cho vay khac của NH. Hơn nữa, cho vay mua ô tô vẫn là thị trường tiêm năng, có khả năng phát triển mạnh trong tương lai nên lợi nhuận dự kiến từ hoạt động này là khá lơn.
  • – Thông qua hoạt động cho vay mua ô tô, NH sẽ tạo được thói quen tiếp cận với các dịc vụ Nh cho khách hàng . Từ đó NH có thể mở thêm nhiều mồi quan hệ khác với khách hàng và quảng bá được hình ảnh của mình đối với khách hàng.
  • – Thông qua hoạt động cho vay mua ô tô, NH có thể mở rộng mối quan hệ với các đị lí bản xe ô tô. Đây la một kênh thông tin tốt giúp NH có thể thu thập thông tin đa dạng , phong phú về nhiều khách hàng. ( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

3.2.3. Đối với nền kinh tế

Hoạt động cho vay mua ô to  không chỉ có vai trò quan trọng đối với người đi vay, đối với NH mà cón có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.

Hoạt động cho vay mua ô tô của Nh làm tăng sức mua của khách hàng, có tác dụng kích cầu cho nền kinh tế. Khi cầu về ô tô tăng lên sẽ kích thích các hãng sản xuất ô tô mở rộng snr xuaart, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Hoạt động cho vay mua ô tô đã gián tieps tác động đên sự phát triển cua ngành công nghieẹp ô tô, ngành giao thông vận tải, du lịch…khi số lượng ô tô lưu hành tăng thì đương giao thông được mở rộng, đi lại thuận tiện thì nhu cầu du lịch tăng…

3.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt dộng cho vay mua ô tô

Nhóm nhân tố khách quan

Cho vay mua ô tô chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, bên cạnh những nhân tố chủ quan thuộc về phía NH còn có nhữn g nhân tố thuộc về khách hàng và môi trương kinh tế vĩ mô.

Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng gồm có: nhu cầu vay vốn của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng và tài sản đảm bảo của khách hàng.

Nhu cầu vay vốn của khách hàng phụ thuộc vào nhiều nhân tố như; nghề nghiệp, nơi sống, thu nhập, mục đichsử dụng xe,…Thường thì những khách hàng có thu nhập cao, ổn định và sống ở những thành phố lớn có nhu cầu mua ô tô đắt tiền nhiều hơn nhỡng người có thu nhập trung binh, sống ở nông thôn. Nhu cầu vay vốn của khách hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị món vay, từ đó ảnh hưởng đến qui mô, dư nợ của hoạt động cho vay mua ô tô.

Khả năng trả nợ của khách hàng: những khách hàng có khả năng trả nợ tốt sẽ được NH cho vay. Mở rộng cho vay không só nghĩa là NH sẽ cho khách hàng vay khi khả năng trả nợ của Nh là không tốt. Vì vậy, NH cần phải đánh giá cẩn thận, chính xác khả năng trả nợ của khách hàng trước khi quyết định cho vay.

Tài sản đảm bảo là nguồn thu nơk thứ hai của NH trong trương hợp nguồn thu nợ thứ nhất của NH không thực hiện được. Khi khách hàng đến vay mua ô tô, khách hàng phải có tài sản đảm bảo. Tài sản đảm bảo có thể là chính chiếc xe ôtô khách hàng vay tiền để mua, cũng có thể là những tài sản khác thuộc quyền sở hữucủa khách hàng. Ngân hàng chỉ cho vay với những khách hàng được đánh giá là có tài sản đảm bảo tốt.

Nhóm nhân tố khác bao gồm:

Môi trương kinh tế

Môi trương kinh tế ảnh hưởng tới hoạt động cho vay mua ô tô. Khi môi trường kinh tế ổn định, thu nhập cua người dân ổn định, họ có nhu cầu nâng cao mức sống của mình, nhu cầu mua ô tô đê di lại và vận vhuyển hàng hoá tăng lên. Và ngược lại, khi môi trường kinh tế không ổn định, nười dân chỉ mong muốn giữ được mức sông ổn định như hiện tại là chính, nhu cầu mua ô tô bị giảm sút.

Môi trương văn hoá xã hội

Môi trương văn hoá xã hội có ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động cho vay mua ô tô vì nó tác động đến quýêt định đi vay mua ô tô. Môi trương văn hoá xã hội tác động tới thói quen, tâm lí, tập quán của người dân. Nếu người dân không có thói quen đi ô tô thì hoạt động cho vay mua ô tô của NH cũng bị ảnh hưởng.( Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng )

Môi trường pháp lí

NH cũng là một doanh nghiệp, nó là một doanh nghiệp đặc biệt. Tất cả các doanh nghiệp muốn hoạt động trong nền kinh tế đều phải tuân thủ đẩy đủ các qui định của pháp luật. Vì vây, NH tất yếu cũng phải tuân thủ những qui định chung của pháp luật. Ngoài ra, NH còn phải tuân thủ luật các tổ chức tín dụng và luật NHNN việt Nam. Nếu các qui định của pháp luât hợp lí, chặt chẽ và đi trước một bước sự phát triển của các NH thì sẽ tạo điều kiện cho NH phát triẻn thuận lơi, hoạt động cho vay mua ô tô nhờ thế cũng phát triển theo. Ngược lại nó sẽ là rào cản của các NH nói chung và lầ rào cản của hoạt động cho vay mua ô tô nói riêng.

Đối thủ cạnh tranh trên địa bàn của các NH khong chỉ là các NH khác hệ thống mà con có cả các NH trong cùng một hệthông nhưng khác chi nháh, khác phòng giao dịch. Chính điều này đã làm cho thị phần của các NH bị chia sẻ.

DOWNLOAD

Xem thêm: ==> Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập 

Xem thêm: Kho 999+ báo cáo thực tập quản trị nguồn nhân lực

Lời kết: Trên đây Thuctaptotnghiep đã chọn lọc cho các bạn Cơ sở lý luận hoạt động cho vay mua oto tại ngân hàng từ những bài đạt điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài. Hy vọng với bài viết này có thể giúp cho các bạn có thêm tài liệu tham khảo để hoàn thành thật tốt bài luận của mình. Ngoài ra, trong quá trình làm bài các bạn gặp khó khăn trong vấn đề thiếu tài liệu hoặc không có thời gian viết bài luận cần thuê người viết, các bạn liên hệ qua zalo: 0934.536.149 để được hỗ trợ làm tốt bài luận của mình nhé.

Chúc các bạn hoàn thành thật tốt bài báo cáo thực tập của mình!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *