Cơ sơ lý luận về rủi ro tài chính doanh nghiệp

Cơ Sở lý luận Tài Chính Doanh Nghiệp

Sau đây là mẫu cơ sở lý luận báo cáo thực tập Ngành Tài Chính Doanh Nghiệp với đề tài Cơ sơ lý luận về rủi ro Tài Chính Doanh Nghiệp. Tài liệu này được Thực Tập Tốt Nghiệp sưu tầm từ nhiều nguồn báo cáo thực tập đạt điểm cao của các công trình sinh viên khóa trước, hy vọng với nội dung bài viết Cơ sơ lý luận về rủi ro tài chính doanh nghiệp này sẽ hỗ trợ cho các bạn sinh viên làm Báo cáo thực tập về Tài Chính Doanh Nghiệp có thêm nguồn tài liệu tham khảo. Trên website còn có nhiều nội dung khác tương tự về cơ sở lý luận, thực trạng khái niệm và những bài mẫu hoàn chỉnh về rủi ro tài chính doanh nghiệp, các bạn có thể tham khảo những bài viết tại đây.

====>  KHO 99 + Cơ Sở Lý Luận

1 Khái niệm chung về rủi ro

Trong kinh tế học, có nhiều trường phái định nghĩa về rủi ro khác nhau như trường phái tiêu cực trong từ điển Oxford xem “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại …”. Theo trường phái trung hoà xem “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo luờng được” và theo cách nhìn của trường phái này, rủi ro luôn có tính hai mặt, rủi ro có thể gây ra tổn thất nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội nếu như chúng ta tích cực nghiên cứu để tiến hành quản trị rủi ro. Với tác giả, Rủi ro là thuật ngữ mô tả khả năng xảy ra sự kiện ngoài dự kiến gây ra những tổn thất dưới mọi hình thức.

Trong chừng mực nào đó, chúng ta có thể nhận dạng và đo lường khả năng xảy ra rủi ro đó để có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những thiệt hại khi rủi ro xảy ra. Tuy nhiên, có những Rủi ro mặc dù khả năng xảy ra hầu như không có nhưng khi xảy ra sẽ gây ra những tổn thất nghiêm trọng. Khủng hoảng nợ công tại châu Âu hiện nay là một minh chứng sinh động nhất từ hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (2007-2009) mà bắt nguồn từ thị trường cho vay bất động sản ở Mỹ. Rủi ro từ hoạt động mua bán chứng khoán phái sinh trên tài sản cơ sở là các hợp đồng cho vay bất động sản dưới chuẩn đã được cảnh báo từ trước.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khả năng xảy ra rủi ro là rất thấp nên vì mục tiêu lợi nhuận các tổ chức tài chính bất chấp tất cả. Trong Luận văn này, tác giả chọn quan điểm xem rủi ro là khả năng xảy ra sự kiện ngoại ý tác động lên nguồn lực của doanh nghiệp gây ra những tổn thất hiện tại cũng như trong tương lai. Dễ nhận thấy nhất về rủi ro của doanh nghiệp là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại về tài chính như thu nhập hoặc vốn đầu tư. Rủi ro xảy ra khi có sự hiện diện của những tình huống không chắc chắn, mà nguyên nhân chủ yếu có thể là do lạm phát, do biến động lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa, hoặc do đánh giá sai các khả năng tình huống xảy ra, hoặc do quyết định đầu tư không thích hợp, hoặc cũng có thể do các yếu tố chính trị, xã hội, môi trường kinh doanh thay đổi…

Nếu chúng ta xem xét rủi ro trong khả năng xuất hiện thường xuyên, chúng ta có thể đo lường rủi ro dựa trên tỷ lệ với một bên là mức độ chắc chắn xảy ra với bên còn lại là mức độ chắc chắn không xảy ra.

2. Rủi ro kiệt giá tài chính và rủi ro tài chính:

  • Rủi ro kiệt giá tài chính: là rủi ro liên quan đến sự thay đổi của những nhân tố thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá hàng hóa, giá cổ phiếu.
  • Rủi ro tài chính: là rủi ro liên quan đến dòng tiền, độ nhạy cảm của các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa, giá cổ phiếu và những rủi ro do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính – sử dụng nguồn vốn vay trong kinh doanh, tác động đến thu nhập của doanh nghiệp hoặc làm chậm, mất khả năng thanh toán các khỏang nợ vay đến hạn.
  • “Rủi ro tài chính chỉ tính khả biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần và xác suất mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí tài chính cố định, như nợ và cổ phần ưu đãi, trong cấu trúc vốn của mình”. (Tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB Thống kê năm 2005 [149-150]).

3. Các loại rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp:

3.1 Rủi ro lãi suất:

Trong hoạt động kinh doanh, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng vốn vay. Khi lập kế hoạch kinh doanh, tuy lãi suất tiền vay đã được dự tính, song có rất nhiều nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp tác động đến lãi suất tiền vay. Chẳng hạn khi lạm phát xảy ra, lãi suất tiền vay tăng đột biến, những tính toán, dự
kiến trong kế hoạch kinh doanh ban đầu bị đảo lộn. Tùy thuộc vào lượng tiền vay của doanh nghiệp, mức độ tổn thất của rủi ro lãi suất cũng sẽ khác nhau

3.2 Rủi ro tỷ giá:

Rủi ro tỷ giá là sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ mà doanh nghiệp không thể dự báo trước. Trong trường hợp các giao dịch của doanh nghiệp thực hiện trên cơ sở tỷ giá ngoại tệ mà hàng hóa đã được định giá trước, khi tỷ giá có sự biến động có thể tạo ra rủi ro dẫn đến thua lỗ. Tùy theo quy mô sử dụng ngoại tệ, doanh nghiệp có thể gánh chịu số lỗ do rủi ro về tỷ giá nghiêm trọng hay không.

3.3 Rủi ro biến động giá cả hàng hóa :

Đối với các doanh nghiệp có các giao dịch mua, bán hàng hóa theo hợp đồng cố định giá trong một thời gian dài, rủi ro biến động giá cả hàng hóa có thể sẽ là một rủi ro lớn. Đặc biệt trong trường hợp nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, giá cả hàng hóa thay đổi hàng ngày. Đối với đa số doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm đầu ra thường được ký hợp đồng theo đơn hàng trước khi sản xuất, khi giá cả biến động, nguyên vật liệu đầu vào tăng, nhưng giá bán sản phẩm đã cố định từ trước, nguy cơ thua lỗ là rất lớn.

3. 4 Rủi ro nguồn tín dụng:

Rủi ro nguồn tín dụng là tính không chắc chắn về khả năng huy động vốn tài trợ cho các kế hoạch kinh doanh đúng hạn, lãi suất hợp lý và quy mô phù hợp. Tiềm lực tài chính mỗi DN còn thể hiện ở khả năng mở rộng các kênh huy động vốn và nhân tố này ngày càng trở thành một trong những lợi thế quan trọng trong quá trình cạnh tranh.

3.5 Rủi ro dòng tiền:

Rủi ro dòng tiền ngày càng phổ biến trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế như hiện nay. Các luồng tiền vào doanh nghiệp (dòng thu) và các luồng tiền ra khỏi doanh nghiệp (dòng chi) diễn ra một cách thường xuyên liên tục. Trên thực tế, tại những thời điểm nhất định có thể xảy ra, hiện tượng lượng tiền vào doanh nghiệp (số thu) nhỏ hơn lượng tiền ra khỏi doanh nghiệp (số chi) đến hạn. Khi đó, tình trạng mất cân đối về dòng tiền đã xẩy ra. Sự mất cân đối này tiềm ẩn một rủi ro lớn đối với hoạt động kinh doanh.

Do thiếu tiền, việc mua nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu… phục vụ cho sản xuất kinh doanh có thể bị dừng lại, dẫn đến ngừng sản xuất, kinh doanh; tiền lương của công nhân và các khoản vay (nếu có) không được trả đúng hạn ảnh hưởng lớn tới uy tín của doanh nghiệp.

Sự mất cân đối dòng tiền được chia thành: mất cân đối tạm thời và mất cân đối dài hạn. Có thể nói, ở bất kỳ doanh nghiệp nào cũng xảy ra mất cân đối tạm thời do việc thu hồi các khoản nợ phải thu không đúng kế hoạch; việc góp vốn không được thực hiện đúng cam kết… Mất cân đối tạm thời về dòng tiền có thể khắc phục được bằng nhiều biện pháp và hậu quả thường không lớn. Mất cân đối dài hạn xảy ra do những nguyên nhân quan trọng như: phần định phí trong tổng chi phí của doanh nghiệp quá lớn; vốn lưu động tự có quá ít; nợ khó đòi tăng lên; doanh thu chưa bù đắp đủ các khoản chi phí thường xuyên, v.v… Khi lạm phát xảy ra trong nền kinh tế, do tác động dây chuyền giữa các doanh nghiệp, số nợ phải thu, đặc biệt là nợ phải thu khó đòi tăng lên, mất cân đối tạm thời rất dễ chuyển thành mất cân đối dài hạn. Mất cân đối dài hạn về dòng tiền có thể làm cho doanh nghiệp bị phá sản.

Trên đây một số khái niệm về rủi ro, Rủi ro kiệt giá tài chính và rủi ro tài chính, và Các loại rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp, để làm Cơ sơ lý luận về rủi ro tài chính doanh nghiệp nội dung dưới đây là trình bày về Rủi ro và hoạt động của doanh nghiệp, các bạn có thể dùng báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình.

===> Báo cáo thực tập rủi ro tín dụng

4. Rủi ro và hoạt động của doanh nghiệp

4.1. Rủi ro, quản trị rủi ro, tỷ suất sinh lợi và quyết định đầu tư

Tỷ suất sinh lợi là thước đo bằng số của thành quả đầu tư. Tỷ suất sinh lợi đại diện cho tỷ lệ phần trăm gia tăng trong tài sản của nhà đầu tư từ kết quả đầu tư. Khi đầu tư, tất cả các nhà đầu tư đều mong muốn hoạt động đầu tư của mình có tỷ suất sinh lợi cao nhất có thể.

Trong kinh doanh, rủi ro là bạn đồng hành của tỷ suất sinh lợi. Rủi ro là sự không chắc chắn của tỷ suất sinh lợi trong tương lai. Rủi ro và tỷ suất sinh lợi có mối quan hệ cùng chiều mà người ta thường gọi là sự đánh đổi giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi. Tỷ suất sinh lợi nhà đầu tư mong đợi sẽ nhận được khi quyết định đầu tư được gọi là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Người đầu tư có lý trí chỉ quyết định đầu tư khi tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn mức rủi ro có thể chấp nhận.

Độ lớn của rủi ro phụ thuộc vào mức độ biến đổi tỷ suất lợi nhuận và biên độ dao động của tỷ suất lợi nhuận.

Hai doanh nghiệp có cùng mức độ biến đổi tỷ suất lợi nhuận nhưng doanh nghiệp nào có mức độ dao động của tỷ suất lợi nhuận cao hơn thì rủi ro cao hơn và ngược lại.

Rủi ro, quản trị rủi ro, tỷ suất sinh lợi và quyết định đầu tư có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Theo các chuyên gia về quản trị rủi ro, có thể ví quyết định đầu tư như một cổ xe, trong đó tỷ suất sinh lợi là động cơ còn rủi ro là những sự cố có thể xảy ra trên đường khi xe đang chạy như đường hỏng, tránh né xe khác, . . . và quản trị rủi ro là phanh để hãm lại khi cần thiết. Nếu cổ xe mà không có phanh thì khi tai nạn xảy ra sẽ càng nghiêm trọng. Như vậy, trong một chừng mực nào đó rủi ro có tác dụng cảnh tỉnh nhà đầu tư cần phải hành động tỉnh táo, có lý trí.

4.2. Rủi ro và khánh kiệt tài chính:

Với cách tiếp cận rủi ro thường dẫn đến kết quả thiệt hại về tài chính ở mức độ khác nhau đối với doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Việt Nam do đặc thù đi lên từ những cơ quan chuyên trách, các đại lý phân phối nên quy mô vốn nhỏ bé, khi gặp rủi ro, bị sụt giảm giá trị tài sản, có thể sẽ dẫn đến tổn thất phần lớn vốn kinh doanh thậm chí mất hoàn toàn vốn; khi đó doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khánh kiệt tài chính. Với tình trạng này khiến doanh nghiệp Việt Nam mất khả năng thanh toán ngắn hạn, dài hạn hoặc có thể dẫn đến phá sản. Việc thực thi các giải pháp để cứu doanh nghiệp như tái cấu trúc tài sản, thu hẹp quy mô, bán tài sản, bán nợ, mua bán hoặc sáp nhập sẽ gây ra những tổn thất đáng kể cho cổ đông. Với áp lực giám sát từ các chủ nợ, việc đưa ra quyết định đầu tư hợp lý cũng không dễ dàng cho doanh nghiệp do mâu thuẫn về quyền lợi từ chủ nợ và cổ đông.

4.3. Rủi ro và phá sản doanh nghiệp:

Phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ, không thể đa dạng hoá được danh mục đầu tư mà phần lớn chỉ tập trung vào một hoạt động. Giải pháp cứu doanh nghiệp khỏi nguy cơ phá sản cũng không đạt được, phá sản là điều tất yếu nhưng “tiền mất tật mang” các chi phí thủ tục là gánh nặng đáng kể. Việc định giá và thanh lý tài sản là một vấn đề lớn đối với các doanh nghiệp khi tiến hành thủ tục phá sản. Các cổ đông sẽ gánh chịu tổn thất nghiêm trọng nếu phá sản doanh nghiệp chưa kể các doanh nghiệp này phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên chủ yếu vay mượn vốn từ cá nhân người thân gia đình vì vậy mô hình trách nhiệm hữu hạn trong doanh nghiệp cũng mất đi phần nào tính chất ngăn chặn rủi ro cho chủ doanh nghiệp.

Để làm được một bài báo cáo thực tập đạt điểm cao với ngành Tài chính doanh nghiệp, các bạn sinh viên có thể lựa chọn đề tài rủi ro về tài chính, đây là một đề tài ít bạn sinh viên lựa chọn bởi vì mức độ đề tài này là trung bình khó, dành cho các bạn sinh viên học lực khá trở lên. Tuy nhiên các bạn sinh viên có thể đạt điểm cao, nếu cố gắng nghiên cứu tập chung viết bài, tham khảo các nguồn bổ ích với tài liệu sau. Trên đây là bài viết Cơ sơ lý luận về rủi ro tài chính doanh nghiệp cho các bạn tham khảo, trên website còn nhiều tài liệu khác về đề tài này.

Ngoài ra, sử dụng vụ viết thuê báo cáo thực tập bên mình đây cũng là một cách giúp các bạn có thể làm bài báo cáo thực tập điểm cao, để tham khảo quy trình, bảng giá công việc các bạn có thể tham khảo tại bài viết dưới đây.

===>>> Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập giá rẻ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *