KIÊN NGHỊ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH THANH TOÁN THẺ

Ngân hàng
Rate this post

Dưới đây Thuctaptotnghiep chia sẻ cho các bạn về Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành, thanh toán thẻ tại ngân hàng chọn lọc từ các bài điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài báo cáo thực tập kế toán. Các bạn tham khảo các mẫu dưới đây để hoàn thành thật tốt bài làm của mình nha.

Lưu ý: Trong quá trình làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp, nếu các bạn gặp khó khăn về đề tài hay chưa có công ty thực tập các bạn có thể liên hệ với dịch vụ làm báo cáo thực tập trọn gói qua:

SĐT  / Zalo: https://zalo.me/0934536149


MỤC LỤC

KIÊN NGHỊ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH THANH TOÁN THẺ

Định hướng phát triển hoạt động thanh toán thẻ của DongA Bank:

Nếu so sánh lợi nhuận thu được từ hoạt động phát hành và thanh toán thẻ với lợi nhuận của toàn ngân hàng có thể thấy rõ đây chưa phải là một nghiệp vụ lớn tại DongA Bank. Tuy nhiên, ban lãnh đạo ngân hàng vẫn luôn coi đây là một nghiệp vụ quan trọng trong chiến lược phát triển của ngân hàng. Chính vì thế, trong những năm tới, công tác phát hành và thanh toán thẻ sẽ tiếp tục được đẩy mạnh ở DongA Bank. Điều này được thể hiện trên các mặt:

1. Đối với nghiệp vụ phát hành thẻ

Nhiệm vụ trọng tâm của ngân hàng là tập trung nỗ lực để đẩy mạnh công tác phát hành thẻ, phối hợp phòng thẻ với các phòng ban khác như phòng tín dụng, phòng hối đoái, nhằm tạo nên sự nhịp nhàng trong phát hành thẻ, nhằm cải tiến cả về chất lượng và số lượng của hoạt động này.

Nhằm giới thiệu rộng rãi hình thức thanh toán tiên tiến này, các chương trình tiếp thị, quảng cáo, khuyến mại lớn cần được xúc tiến cả về chiều rộng và chiều sâu.

Bên cạnh việc củng cố các sản phẩm hiện có, việc đưa ra các sản phẩm mới cũng là điều kiện tiên quyết để chiếm lĩnh thị trường đầy tiềm năng này. Hiện nay, ngân hàng đang nghiên cứu để có thể đưa ra thị trường thêm nhiều loại thẻ có thêm những tiện ích cho người sử dụng.

2. Đối với nghiệp vụ thanh toán thẻ

Đảm bảo cho các phần mềm quản lý và xử lý cấp phép, thanh toán hoạt động ổn định, tăng cường phối hợp với bưu điện và các đối tác nước ngoài có liên quan nhằm khắc phục các lỗi hệ thống, khai thác toàn diện hệ thống thẻ chuẩn quốc tế Sema, giảm các chương trình giao diện để nâng cao khả năng an toàn và ổn định của hệ thống công nghệ thẻ.

Duy trì và phát triển các cơ sở chấp nhận thẻ (CSCNT) song song với việc tự động hóa và nâng cao chất lượng phục vụ thanh toán thẻ tại các cơ sở này. Hợp tác với các ngân hàng chưa thanh toán thẻ để mở rộng mạng lưới CSCNT. Giảm phí cho các CSCNT có doanh số thanh toán lớn và ổn định, trang bị thêm một số máy EDC, CAT cho các CSCNT.

Nghiên cứu kết hợp thanh toán thẻ với các nghiệp vụ khác của ngân hàng nhằm đảm bảo cung cấp các sản phẩm ngân hàng một cách đồng bộ và có sức cạnh tranh nhất.

Việc chấp nhận thanh toán trên mạng Internet, E-commerce được triển khai với các đối tác như Công ty CP Tập Đoàn VINA (VNG), CP Dịch vụ Trực tuyến Cộng Đồng Việt (VietUnion)…và ngày càng phát triển hơn.

3. Về tổ chức, con người

Tổ chức tập huấn trong và ngoài nước cho đội ngũ cán bộ nhân viên để đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của sự thay đổi công nghệ thẻ trên thế giới.

Gây dựng tinh thần đoàn kết, học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau vì mục tiêu chung là hoàn thành tốt công việc giữa các nhân viên.

4. Về công nghệ, kỹ thuật

Đầu tư thêm một số máy móc hiện đại kết hợp với nâng cấp và hoàn thiện tiếp hệ thống máy móc hiện có. Dần dần đồng bộ hóa hệ thống mày móc kỹ thuật dùng trong lĩnh vực thẻ. Định kỳ mời chuyên gia nước ngoài sang bảo dưỡng các thiết bị phục vụ phát hành và thanh toán thẻ. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

  1. Những thuận lợi và khó khăn

1.Thuận lợi:

  • DongA Bank có mạng lưới kênh phân phối rộng lớn: Bên cạnh mạng lưới bao phủ rộng khắp gồm Hội sở, 1 Sở giao dịch, hơn 200 chi nhánh và PGD, DongA Bank còn mở rộng các kênh giao dịch ngân hàng tự động với hệ thống hơn 1.300 máy ATM, 800 máy POS, cùng nhiều tiện ích của ngân hàng Điện tử với các dịch vụ Internet banking, Mobile banking, phone banking, SMS banking đem đến sự thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả cho khách hàng
  • Từ năm 2003, DongA Bank đã khởi động dự án hiện đại hoá công nghệ và chính thức đưa vào áp dụng phần mềm quản lý mới (Core-banking) trên toàn hệ thống từ tháng 6/2006. Phần mềm này do tập đoàn I-Flex cung cấp.
  • Là thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế: Visa, MasterCard.
  • Cơ sở chấp nhận thẻ: DongA Bank sở hữu hơn 1.300 máy giao dịch tự động ATM và gần 1.500 điểm chấp nhận thanh toán bằng Thẻ ATM (POS). Hiện tại, DongA Bank đã kết nối thành công với hơn 20 ngân hàng. Do đó, Khách hàng sở hữu thẻ Đa năng Đông Á còn có thể dễ dàng giao dịch tại hơn 8.000 máy ATM trên cả nước. DongA Bank triển khai lắp đặt máy cà thẻ tại nhiều siêu thị, cửa hàng, nhà sách, bệnh viện… để các khách hàng sử dụng Thẻ Đa năng Đông Á có thể thanh toán khi mua hàng hoá, dịch vụ hoặc cần ứng tiền mặt (triển khai riêng ở một số điểm) hoàn toàn miễn phí.
  • Các giải thưởng nổi tiếng: Thương hiệu nổi tiếng Quốc gia & Doanh nhân xuất sắc Đất Việt 2010 , Thương hiệu Việt yêu thích nhất 2010, Doanh nghiệp Sài Gòn tiêu biểu 2010 ; Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2003, 2005, 2007, 2008, 2010…

2.Khó khăn:

  • Sự cạnh tranh từ các ngân hàng thương mại khác.
  • Thói quan của người tiêu dung chưa quen hoàn toàn với hình thức thanh toán qua thẻ mà vẫn quen với việc sử dụng tiền mặt.
  • Mức thu nhập của người dân đang tăng dẫn đến đối tượng khách hàng tăng lên và những nhu cầu cũng thay đổi và phát triển hơn. Do đó, ngân hàng phải cải tiến không ngừng để đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng.
  • Rủi ro trong việc bảo mật thông tin và những gian lận trong thanh toán bằng thẻ xuất hiện ngày càng nhiều. Điều này đòi hỏi ngân hàng cần phát triển hơn nữa hệ thống cở sở vật chất và công nghệ của mình.

II: Một số giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện hệ thống thanh toán thẻ tại ngân hàng Đông Á

Thực tế của hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại EAB đã cho thấy còn rất nhiều việc cần làm để đạt được những mục tiêu mà ngân hàng đề ra trong định hướng phát triển của mình. Cần thiết phải có một loạt các giải pháp trên tất cả các mặt.

1. Giải pháp vĩ mô từ phía các cơ quan nhà nước

  • Ngân hàng Nhà nước nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.
  • Tổng công ty Bưu chính Viễn thông cần đầu tư xây dựng và giảm chi phí thuê bao đường truyền thanh toán trực tuyến cho các cửa hàng.
  • Chính phủ nên có quy định bắt buộc các cơ sở bán hàng, dịch vụ có số vốn lớn, như các siêu thị, phải trang bị thiết bị thanh toán thẻ. Xét trên khía cạnh tài chính chống thất thu thuế, đây có thể là giải pháp rất hiệu quả.
  • Trước mắt phía tài chính nên miễn khoản thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh thanh toán cho các ngân hàng thương mại.
  • Ngân hàng Nhà nước không nên chỉ để cho ngân hàng thương mại quốc doanh độc quyền kinh doanh hoạt động thanh toán thẻ. Theo kinh nghiệm điển hình của Nhật Bản, Công ty Dịch vụ Tiết kiệm của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

2. Giải pháp từ phía ngân hàng Đông Á

2.1 Giải pháp về kỹ thuật công nghệ

Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hết sức hiện đại với sự trợ giúp của những công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới. Chính vì vậy đầu tư cho kỹ thuật công nghệ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển hoạt động thanh toán này, đây cũng là chiến lược nhằm đem lại hiệu quả cao. Trình độ công nghệ là yếu tố quyết định chất lượng của dịch vụ thanh toán thẻ và là nhân tố quan trọng trong việc cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác. Đây cũng là vũ khí để chống lại bọn tội phạm chuyên giả mạo thẻ. Ngân hàng cần lựa chọn những công nghệ hiện đại, những công nghệ đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới và phù hợp với ngân hàng để quản lý hệ thống thông tin, nâng cao chất lượng và số lượng của hoạt động thanh toán thẻ đồng thời có thể phát hiện và ngăn chặn những giả mạo thẻ của bọn tội phạm.

2.2 Giải pháp về con người

Kỹ thuật công nghệ phát triển nhưng không có đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn đủ đáp ứng thì cũng không thể thực hiện tốt nghiệp vụ kinh doanh thẻ được. Bên cạnh nâng cao trình độ chuyên môn, các nhân viên cũng cần được trang bị vốn ngoại ngữ thành thạo kết hợp với việc bổ sung kịp thời những cán bộ trẻ có năng lực và phẩm chất tốt làm nòng cốt cho tổ chức nhân sự của trung tâm thẻ VCB.

Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng là nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên CSCNT để đảm bảo an toàn và phòng chống rủi ro vì đây là đầu mối quan trọng trong toàn bộ quy trình thanh toán. Đội ngũ nhân viên của CSCNT có đặc điểm là thường xuyên thay đổi, các nhân viên mới khó có thể nắm bắt ngay các nghiệp vụ thanh toán thẻ nên việc phát hiện những giao dịch giả mạo là rất khó. Chính vì vậy, ngân hàng nên thường xuyên giám sát các CSCNT và tổ chức các khóa tập huấn về các kỹ năng nghiệp vụ thanh toán thẻ và cập nhật thường xuyên những thay đổi trong quá trình thanh toán thẻ.

2.3 Giải pháp về hoạt động Marketing

Sự tiến bộ của khoa học công nghệ khiến cho thị trường thẻ không có ranh giới về không gian và thời gian, vì vậy chiến lược Marketing của ngân hàng trong lĩnh vực này cũng cần có những thay đổi để thúc đẩy hoạt động này phát triển.

A – Lựa chọn thị trường mục tiêu

Trong hoạt động kinh doanh của tất cả các ngành kinh doanh, việc lựa chọn thị trường mục tiêu đóng vai trò rất quan trọng. Khi xác định đúng khách hàng mục tiêu, người ta có thể đưa ra các đối sách kinh doanh phù hợp nhằm phục vụ tốt hơn yêu cầu của nhóm khách hàng đã chọn và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Hiện nay, cùng với xu hướng đẩy mạnh việc phát triển các công ty liên doanh liên kết với nước ngoài, bộ phận dân cư làm việc trong các công ty có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng. Bộ phận công nhân viên làm trong những ngành có thu nhập cao và ổn định như: dầu khí, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không… và các chủ doanh nghiệp tư nhân cũng dần chiếm số lượng lớn. Đây là những người có thu nhập khá và ổn định, có nhu cầu và có điều kiện thường xuyên đến các siêu thị, nghỉ lại khách sạn, đi máy bay, đi du lịch… Đây là nhóm khách hàng đầy tiềm năng và có xu hướng ngày càng tăng mà ngân hàng cần phải tập trung khai thác. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Một đối tượng khác cũng có nhu cầu sử dụng thẻ thực sự và khá đông đảo là người nước ngoài, bao gồm cả người cư trú và người đầu tư nước ngoài vào Việt Nam…, những người không cư trú bao gồm Vệt kiều về thăm tổ quốc, khách du lịch, thương gia nước ngoài đến làm việc ngắn ngày. Số lượng đối tượng này lên tới hơn 1 triệu người/năm. Mặc dù nhóm này thường sử dụng thẻ do nước ngoài phát hành xong nếu đẩy mạnh công tác quảng cáo, tiếp thị và gây dựng uy tín, đây sẽ là một đối tượng quan trọng mà ngân hàng cần quan tâm.

B – Đa dạng các hình thức thẻ, phù hợp với điều kiện Việt Nam

Với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, mục đích tiêu dung của họ rõ rang là khác nhau. Do đó, ngân hàng cần đa dạng các hình thức thẻ để có thể đáp ứng được các nhu cầu khác nhau đó. Bên cạnh việc phát hành thêm thẻ ghi nợ, ngân hàng cần tăng cường việc triển khai phát hành thẻ liên kết giữa ngân hàng và các doanh nghiệp lớn như bưu điện, hàng không, taxi, các trung tâm thương mại…Việc phát hành loại thẻ này đem lại lợi ích cho các bên liên quan. Về phía khách hàng, họ sẽ nhận được những ưu đãi đặc biệt khi thanh toán tại các doanh nghiệp liên kết. Các doanh nghiệp liên kết và ngân hàng sẽ có thêm một lượng khách hàng truyền thống của bên đối tác. Ngân hàng góp phần tiếp thị khách hàng, tăng doanh số cho doanh nghiệp liên kết, ngược lại, doanh nghiệp liên kết góp phần quảng bá dịch vụ thẻ của ngân hàng.

C – Đẩy mạnh công tác quảng cáo, giới thiệu dịch vụ thẻ

Để giúp cho khách hàng làm quen với khái niệm thẻ, ngân hàng cần đẩy mạnh quảng cáo, giới thiệu dịch vụ thẻ để đông đảo dân chúng biết đến lợi ích kinh tế và sự tiện lợi khi dùng thẻ thông qua các biện pháp khác nhau như là quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức các buổi giới thiệu về thẻ cho các doanh nghiệp, công sở nơi nhân viên có thu nhập cao và ổn định, đồng thời có các chương trình khuyến mại và chăm sóc khách hàng.

D – Giải pháp nhằm mở rộng mạng lưới cơ sở chấp nhận thẻ

DongA Bank cần phải tăng nhanh mạng lưới CSCNT vì đây là một chủ thể quan trọng trong quy trình thanh toán thẻ. Số lượng CSCNT là cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhằm đẩy mạnh doanh số thanh toán cũng như số thẻ phát hành. Với sự mở rộng của các cơ sở chấp nhận thẻ, các khách hàng sẽ thấy được sự tiện lợi và sử dụng ngày càng nhiều các dịch vụ thẻ của DongA Bank.


KIÊN NGHỊ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH THANH TOÁN THẺ NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á – C HI NHÁNH HÀ NỘI

3.1. Cơ hội và thách thức của Ngân hàng TMCP Đông Á trong việc phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại Việt Nam

3.1.1. Cơ hội và thách thức chung của hệ thống NHTM

3.1.1.1. Cơ hội

Thứ nhất, cơ hội để tiếp cận với một thị trường tiềm năng

Phát triển hoạt động thanh toán thẻ mang lại cho các NHTM cơ hội để tiếp cận với một thị trường tiềm năng đang cần được khai thác. Với dân số 86 triệu người, Việt Nam đang xếp thứ 13 trong số những quốc gia đông dân nhất thế giới. Cùng với quá trình đổi mới, phát triển theo hướng kinh tế thị trường, đời sống dân cư ngày một được cải thiện. Dù thu nhập bình quân trên đầu người mới thuộc vào nhóm có thu nhập thấp (theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới), nhưng tốc độ tăng thu nhập bình quân của Việt Nam cũng đạt mức tương đối cao trong những năm gần đây. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Đời sống vật chất được nâng cao kéo theo nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và sử dụng dịch vụ cũng tăng lên tương ứng, kèm theo đó là nhu cầu sử dụng một hình thức thanh toán tiên tiến. Tính tiện dụng, an toàn của thẻ đã thu hút được người tiêu dùng và được xem như một trong những phương tiện thanh toán hiện đại nhất. Chỉ tính riêng trong giai đoạn từ năm 2002 tới cuối năm 2007, số lượng thẻ phát hành trong cả nước đã đạt mức tăng kỷ lục (từ 40 nghìn thẻ lên tới 8,25 triệu thẻ), cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thanh toán thẻ không ngừng lớn mạnh với tổng số 4.280 máy ATM, 22.959 thiết bị ngoại vi (POS, EDC)[1] tính đến thời điểm đầu năm 2008; dự kiến đến cuối năm 2010 toàn thị trường đạt mức phát hành 15 triệu thẻ, trong đó 70% các trung tâm thương mại, siêu thị, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng tự chọn v.v. lắp đặt các thiết bị chấp nhận thanh toán thẻ, phấn đấu đến năm 2020 đạt lần lượt là 30 triệu thẻ và 95%.

Bảng 3.1. Tổng thu  nhập quốc dân (GNI) trên đầu người của Việt Nam
Đơn vị: USD
Năm 2003 2004 2005 2006 2007
430 470 540 620 700 790
% thay đổi theo năm      
  9.30% 14.89% 14.81% 12.90% 12.86%
Nguồn: Ngân hàng Thế giới

Tuy vậy, những con số đã đạt được cho tới thời điểm hiện tại vẫn còn quá khiêm tốn đối với một thị trường đông dân và đang ngày một phát triển như Việt Nam, nguyên nhân một phần do hoạt động thanh toán thẻ ở Việt Nam mới đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, cơ sở vật chất tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị mà chưa phổ biến trong mọi tầng lớp dân cư; đồng thời, những hạn chế của hoạt động này ở Việt Nam vẫn còn khiến nhiều khách hàng e ngại khi sử dụng. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Trong thời gian tới, thị trường thẻ Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh, là một thị trường đầy tiềm năng, hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng và lợi nhuận cho các tổ chức trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Nếu các NHTM phát triển mạnh hoạt động thanh toán thẻ, khắc phục những hạn chế đang tồn tại thì việc tiếp cận và khai thác thị trường này là không quá khó khăn.

Xem thêm: Đề cương hoạt động phát hành, thanh toán thẻ tại ngân hàng

Thứ hai, cơ hội hội nhập và học hỏi kinh nghiệm quốc tế

Việc các NHTM đẩy mạnh phát triển hoạt động thanh toán thẻ sẽ tạo ra cơ hội hội nhập và học hỏi kinh nghiệm triển khai của các nước trên thế giới, đây là một cơ hội tốt và nó hứa hẹn sẽ mang lại cho các ngân hàng tham gia rất nhiều lợi ích.

Bảng 3.2. Tình hình thị trường thẻ ngân hàng ở Việt Nam qua các năm
Đơn vị: Nghìn thẻ
Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007
15000 40 230 560 1250 4500 8250
% thay đổi theo năm
  166.67% 475.00% 143.48% 123.21% 260.00% 83.33%
Nguồn: Hiệp hội ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như ngày nay, những ngân hàng muốn phát triển hoạt động thanh toán thẻ bắt buộc phải tham gia vào các tổ chức thẻ quốc tế, từ đó mở rộng phạm vi thanh toán thẻ, tham gia vào những hoạt động liên kết với nhiều ngân hàng và tổ chức khác trên toàn thế giới mà không còn bó hẹp trong phạm vi Việt Nam. Điều này không những giúp các ngân hàng Việt Nam có cơ hội được hỗ trợ, sử dụng những công nghệ thanh toán tiên tiến mà còn đem lại kinh nghiệm để kinh doanh hiệu quả cũng như phương thức quản lý rủi ro trong thanh toán thẻ của những quốc gia đi trước. Đây là những tài sản quan trọng không những cho hoạt động thanh toán thẻ mà còn đối với nhiều loại hình dịch vụ khác của ngân hàng, bởi thông qua đó, các NHTM có nền tảng để tiếp tục phát triển những mảng dịch vụ thanh toán áp dụng công nghệ cao như dịch vụ Homebanking, Internet banking, Mobile banking…

3.1.1.2. Thách thức

Thứ nhất, thách thức về áp lực cạnh tranh

Việc phát triển hoạt động thanh toán thẻ sẽ mang đến cho các ngân hàng cơ hội được học hỏi, hội nhập với quốc tế nhưng đồng thời cũng mang lại áp lực cạnh tranh gay gắt, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và một số ngân hàng nước ngoài như HSBC và ANZ đã chính thức thành lập các chi nhánh ngân hàng ở Việt Nam. Những ngân hàng nước ngoài này có tiềm lực về vốn, công nghệ và đặc biệt là kinh nghiệm lâu năm trong hoạt động thẻ sẽ có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong tương lai khi sự phân biệt đối xử bị loại bỏ căn bản. Áp lực trên đòi hỏi các ngân hàng trong nước cần không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường hoạt động liên kết để tạo sự thống nhất trong tổ chức thanh toán thẻ.

Thứ hai, thách thức về những rủi ro khi thanh toán qua thẻ

Một khi dịch vụ thanh toán thẻ có những bước phát triển mới thì kéo theo nó cũng là sự xuất hiện của các loại tội phạm thẻ, đặc biệt là tội phạm công nghệ cao. Thách thức này cũng khiến các NHTM phải có phương thức phòng chống những rủi ro này, đem lại sự an toàn cao cho người sử dụng thẻ cũng như ngân hàng.

3.1.2. Cơ hội và thách thức của Ngân hàng TMCP Đông Á

3.1.2.1. Cơ hội

Cũng như hệ thống NHTM, việc phát triển hoạt động thanh toán thẻ cũng mang lại cho NHĐA những cơ hội và thách thức:

  • Cơ hội khẳng định vị trí, tên tuổi là một trong những NHTM đi đầu trong lĩnh vực thanh toán thẻ trên nền tảng ứng dụng công nghệ cao.
  • Cơ hội chiếm lĩnh thị trường tiêu dùng với số dân đông và phát triển nhanh chóng.
  • Cơ hội học hỏi kỹ thuật và kinh nghiệm của các ngân hàng đi trước tron nước cũng như quốc tế. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

3.1.2.2. Thách thức

  • Thách thức về áp lực cạnh tranh, hoạt động thẻ càng phát triển thì áp lực cạnh tranh càng lớn, nhất là những ngân hàng đã có kinh nghiệm và vốn, nếu không có một định hướng đúng đắn thì ngân hàng sẽ không trụ vững nổi trong lĩnh vực này.
  • Hoạt động thanh toán thẻ càng phát triển thì những rủi ro tiềm tàng càng có cơ hội bộc lộ, đây cũng là một thách thức cho NHĐA.

3.2. Định hướng phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại ngân hàng TMCP Đông Á – chi nhánh Hà Nội trong thời gian tới

Trong thời gian tới, NHĐA nói chung và Chi nhánh  Hà Nội nói riêng đề ra những định hướng cho hoạt động thanh toán thẻ sau đây:

  • Thứ nhất, phát triển mở rộng mạng lưới hệ thống máy POS tại các trung tâm mua sắm, thương mại, dịch vụ. Đặc biệt là hệ thống siêu thị và các cửa hàng mua sắm hàng hóa tiêu dùng, sinh hoạt.
  • Thứ hai, hoàn thành kết hợp tất cả các lĩnh vực thanh toán: thanh toán dịch vụ (điện nước; phí bảo hiểm; chi trả lương; chuyển tiền qua thẻ.) và thanh toán mua hàng hóa bán lẻ tại hệ thống phân phối siêu thị.
  • Thứ ba, phát triển dịch vụ thẻ theo hướng ứng dụng công nghệ mới, hiện đại theo tiêu chuẩn của quốc tế và tương thích với hệ thống trong nước.
  • Thứ tư, triển khai hoạt động marketing hiệu quả, nâng cao vị trí thương hiệu Ngân hàng Đông Á trong mắt người tiêu dùng.

3.3. Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Đông Á – chi nhánh Hà Nội

3.3.1. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong phát triển mạng lưới

NHĐA chi nhánh Hà Nội hiện đang phải đối mặt với vấn đề sử dụng vốn không hiệu quả, dẫn tới sự không đồng bộ trong phát triển mạng lưới, tốc độ tăng của số lượng máy POS và ATM tương đối cao trong khi tốc độ tăng của doanh số còn nhỏ. Vì vậy, trong hoàn cảnh hiện nay, Chi nhánh cần có ngay một kế hoạch, theo đó vốn được đầu tư một cách hiệu quả và hợp lý nhất vào mục tiêu phát triển mạng lưới, cụ thể như sau:

3.3.1.1. Đầu tư  mở rộng mạng lưới ĐVCNT

Trước hết Chi nhánh cần triển khai các phương tiện chấp nhận thẻ đa dạng để khách hàng có nhiều sự lựa chọn trong thanh toán. Trong kế hoạch mở rộng mạng lưới, đầu tư cho việc lắp đặt thêm POS cần được xem là giải pháp bước đầu trong giai đoạn hiện nay vì chi phí lắp đặt rẻ, hiệu quả hoạt động cao. Nếu mạng lưới  POS được mở rộng thì khách hàng có thể lựa chọn trong thanh toán các hóa đơn hàng hóa dịch vụ thay vì sử dụng tiền mặt. Giải quyết vấn đề này, về phía NHĐA nói chung và Chi nhánh Hà Nội nói riêng cần thực hiện những biện pháp sau đây:

  • Giải quyết vấn đề phí: điều chỉnh giảm phí dịch vụ này để khuyến khích, kích cầu sử dụng thẻ tại các POS, bù đắp cho tỷ lệ giảm của mức phí và nhận được những lợi ích có được khi thanh toán qua POS (giảm sự quá tải của hệ thống ATM, không tốn kém quá nhiều chi phí..).
  • Tăng cường hoạt động quảng cáo, khuyến mại: khuyến khích các đơn vị bán hàng chấp nhận trở thành ĐVCNT của ngân hàng bằng cách giới thiệu những lợi ích họ có được khi chấp nhận thanh toán bằng thẻ, đồng thời đưa ra những chương trình khuyến mại hợp lý, tùy theo từng loại hình kinh doanh, mùa hay sự kiện kinh tế xã hội mà Chi nhánh có thể có các hình thức khuyến mại nhất định (chẳng hạn theo tổng giá trị thanh toán bằng thẻ, theo số lượng khách hàng thanh toán bằng thẻ).
  • Hỗ trợ kỹ thuật: Chi nhánh cũng cần tạo sự thuận tiện nhất cho ĐVCNT trong quá trình thanh toán bằng cách hỗ trợ chi phí lắp đặt thiết bị đọc thẻ, hỗ trợ về kỹ thuật sử dụng, bảo dưỡng thiết bị cùng đào tạo nhân viên cách thức thanh toán thẻ. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )
  • Quản lý và hạn chế rủi ro: ngăn ngừa và hạn chế tối đa những rủi ro trong thanh toán thẻ mà ĐVCNT có thể phải gánh chịu, luôn cập nhật danh sách những thẻ hết hạn, thẻ mất cắp, thông báo các thủ đoạn lừa đảo bằng thẻ để ĐVCNT có thể cảnh giác phòng ngừa.

3.3.1.2. Đầu tư vào hệ thống ATM một cách đồng bộ và hợp lý

Hiện nay do mạng lưới POS vẫn chưa phủ sóng rộng khắp nên nhu cầu sử dụng ATM vẫn ngày một gia tăng tạo áp lực buộc ngân hàng phải đầu tư vào ATM. Theo đó ngân hàng không những tốn kém về chi phí đầu tư mua mới mà còn tốn kém cả về nhân lực, vật lực để duy trì hoạt động của ATM. Mặt khác, sự mở rộng về mạng lưới POS và  mạng lưới ATM còn có mâu thuẫn với nhau. Vì vậy, trong tương lai, ngân hàng cần xem xét lại chiến lược phát triển mạng lưới ATM hiệu quả thông qua một số biện pháp sau:

  • Trước hết cần tái bố trí lại mạng lưới ATM với sự hợp tác chặt chẽ với các ngân hàng khác trên địa bàn, tránh tình trạng nơi thì quá nhiều, nơi thì quá ít máy.
  • Giảm dần hạn mức rút tiền mặt trong ngày để khách hàng chỉ sử dụng giao dịch rút tiền mặt tại các ATM đáp ứng những nhu cầu sử dụng nhỏ lẻ.
  • Tiến tới áp dụng phí rút tiền đối với thẻ ghi nợ.

3.3.1.3. Tăng cường hoạt động liên kết trong liên minh thẻ và với các TCTQT

Với những hạn chế về tiềm lực vốn so với nhiều ngân hàng lớn khác trên cùng địa bàn, NHĐA cần tiếp tục mở rộng hoạt động liên kết trong liên minh thẻ VNBC để tận dụng được cơ sở hạ tầng của các ngân hàng bạn. Điều này sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí mở rộng mạng lưới cho ngân hàng.

Bên cạnh đó, việc xúc tiến làm thành viên của các TCTQT như MasterCard, American Express, JCB, Discovery, Diners Club cần được tiến hành ngay để ngân hàng có thể mở rộng mạng lưới thanh toán thẻ của các tổ chức này.

3.3.2. Đầu tư đổi mới công nghệ

Công nghệ là yếu tố cốt lõi cho thành công của hoạt động thanh toán thẻ tại ngân hàng, nếu công nghệ tốt sẽ đem lại tính thuận tiện, an toàn và nhanh chóng trong giao dịch với ngân hàng, thu hút đông đảo người sử dụng, nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng và ngược lại. Vấn đề đổi mới công nghệ cần phải được thực hiện bằng cách phối hợp chặt chẽ giữa Chi nhánh, Hội sở NHĐA và các đối tác có liên quan, cụ thể như sau:

  • Ứng dụng những thành tựu tiên tiến của công nghệ thẻ thế giới phù hợp với điều kiện về vốn, khả năng vận hành, quản lý của NHĐA.
  • Phát triển hệ thống kỹ thuật một cách đồng bộ bao gồm việc trang bị các thiết bị đọc thẻ, ATM phù hợp với loại thẻ từ đang được sử dụng rộng rãi cũng như loại thẻ chip sắp phát triển trong tương lai.
  • Hợp tác với các bên có liên quan để hoàn thiện hệ thống xử lý số liệu, dự phòng để hạn chế rủi ro, giảm bớt trục trặc kỹ thuật và tình trạng nghẽn mạng.

3.3.3. Hoàn thiện chính sách Marketing và chăm sóc khách hàng

3.3.3.1. Thực hiện chính sách đa dạng hóa sản phẩm

Ngân hàng có thể đưa ra các biện pháp nhằm đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ thanh toán thẻ bằng cách: ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

  • Nghiên cứu và phân tích thị trường, xác định đặc điểm của thị trường để cung ứng dịch vụ cho từng nhóm khách hàng riêng biệt.
  • Tìm ra hạn chế của các dịch vụ đang cung cấp và giải quyết những hạn chế đó.
  • Kết nối các nhà cung cấp dịch vụ bao gồm các nhà vận hành hệ thống điện thoại di động, điện thoại cố định, truyền hình, Internet, điện, nước, bảo hiểm, hàng không, game… với các ngân hàng để các cá nhân, hộ gia đình có thể dễ dàng thanh toán cước phí, hóa đơn trên hệ thống máy ATM. Và trong tương lai, khi đã có quy định cụ thể về pháp lý của hoạt động thương mại điện tử, NHĐA sẽ tiến hành dịch vụ thanh toán bằng thẻ qua các website bán hàng.
  • Xây dựng hình ảnh riêng, đồng bộ cho hệ thống ATM và POS về màu sắc thiết kế – đẹp và dễ nhận biết.

3.3.3.2. Thực hiện chính sách giá cạnh tranh

Đây không phải là yếu tố hàng đầu, nhưng cũng là một yếu tố quan trọng quyết định việc dịch vụ thanh toán của ngân hàng có được sử dụng nhiều  hay không:

  • Trước mắt, cần có chính sách giảm một phần phí thanh toán đối với các ĐVCNT để khuyến khích các điểm bán hàng, nhà hàng, khách sạn chấp nhận ký hợp đồng, từ đó nâng cao doanh số thanh toán thẻ và có thể bù đắp phần phí đã giảm.
  • Áp dụng chiết khấu, hoa hồng đối với những ĐVCNT (doanh số thanh toán lớn, số lượng khách hàng thanh toán thẻ nhiều…) để khuyến khích họ.

3.3.3.3. Tăng cường công tác Marketing về thanh toán thẻ

Thứ nhất, về quảng cáo

  • In tài liệu quảng cáo, tờ rơi có thông tin về nội dung của các dịch vụ thanh toán thẻ, vừa đem lại hiệu quả cao vừa tiết kiệm chi phí.
  • Mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm xây dựng và phát triển một hình ảnh hay một mối quan hệ tốt đẹp giữa NHĐA và công chúng – khách hàng, những nhân viên, cơ quan địa phương và chính phủ.  Các phương tiện truyền thông có thể sử dụng trong các chiến dịch quảng cáo như báo chí, truyền hình, truyền thanh, Internet, tạp chí, quảng cáo ngoài trời…
  • Đặc biệt, trong bối cảnh Internet phát triển như hiện nay thì các website cũng là một kênh truyền thông quảng bá hình ảnh của ngân hàng một cách hiệu quả, nhất là website của chính NHĐA (cần được hoàn thiện hơn cả về hình thức lẫn nội dung để khách hàng có thể tìm hiểu)

Thứ hai, về dịch vụ chăm sóc khách hàng

  • Ngân hàng cần chú trọng chăm sóc khách hàng và đào tạo nhân viên có tác phong làm việc chuyên nghiệp bằng cách lập các đường dây điện thoại nóng, cách thức sử dụng thẻ, những tiện ích của dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt để khách hàng hiểu và sử dụng.
  • Hướng dẫn cách thức thanh toán thẻ cho nhân viên thanh toán tại các ĐVCNT.
  • Tổ chức các buổi tiếp xúc với khách hàng để giải đáp băn khoăn thắc mắc của họ và thăm dò ý kiến về chất lượng dịch vụ.

3.3.4. Nâng cao hiệu quả tổ chức nhân sự và trình độ  cán bộ làm công tác thẻ

NHĐA cần có chiến lược nâng cao hiệu quả tổ chức nhân sự, tránh sự chồng chéo trong hoạt động của các đơn vị từ các PGD đến Chi nhánh và Hội sở. Đồng thời, nâng cao trình độ cán bộ làm công tác thẻ (xử lý nghiệp vụ, marketing, quản lý rủi ro) cũng là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra, có như vậy Chi nhánh mới có khả năng không những phát triển dịch vụ thanh toán thẻ mà còn hạn chế được rất nhiều rủi ro trong giao dịch. Các giải pháp cụ thể như sau: ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

3.3.4.1. Nâng cao hiệu quả tổ chức nhân sự 

Thứ nhất, về tổ chức nhân sự

  • Tăng cường nhân sự cho phòng thẻ của Chi nhánh và các Phòng giao dịch.
  • Các cán bộ phòng thẻ phải được phân chia nhiệm vụ rõ ràng: Marketing, quản lý rủi ro, kỹ thuật…, tránh hiện tượng chồng chéo kém hiệu quả trong hoạt động thẻ.

Thứ hai, về chính sách nội bộ

  • Khen thưởng các đơn vị vượt chỉ tiêu kế hoạch về dịch vụ thẻ.
  • Xử phạt nghiêm các trường hợp thiếu trách nhiệm trong công việc (như chậm trễ trong việc xử lý sự cố, tiếp quỹ, có thái độ không đúng mực với khách hàng…)

3.3.4.2. Nâng cao trình độ cán bộ làm công tác thẻ

  • Tổ chức các lớp đào tạo kiến thức cơ bản về thẻ, dịch vụ thẻ và cách xử lý nghiệp vụ liên quan đến thẻ cho các nhân viên làm công tác thẻ trong toàn Chi nhánh.
  • Cung cấp đầy đủ các văn bản và tài liệu có liên quan tới hoạt động thanh toán thẻ để các cán bộ thẻ cập nhật thông tin, chính sách về phát triển dịch vụ thẻ trên cả nước.
  • Tạo điều kiện cho một số cán bộ có năng lực được tham gia các khóa đào tạo về công nghệ, công tác Marketing thẻ ngân hàng, các hoạt động quản lý rủi ro về thẻ ở trong và ngoài nước.

3.3.5. Nâng cao hiệu hoạt động quản lý rủi ro thanh toán thẻ

Hiệu quả hoạt động quản lý rủi ro thanh toán thẻ sẽ được nâng cao khi Chi nhánh ngân hàng áp dụng những biện pháp cụ thể sau:

3.3.5.1. Chủ động ngăn ngừa rủi ro thanh toán thẻ

Thứ nhất, đối với rủi ro do giả mạo

Rủi ro giả mạo thường xảy ra do sự thiếu cảnh giác của chủ thẻ để lộ các thông tin cá nhân liên quan đến thẻ, hoặc bị kẻ gian sao chép lấy thông tin cá nhân trong quá trình chi tiêu hoặc do các ĐVCNT chưa thực hiện đầy đủ các quy định, quy trình trong quá trình chấp nhận thanh toán thẻ. Do đó để chủ động ngăn ngừa loại rủi ro trên, ngân hàng cần phải:

  • Cung cấp đầy đủ cho khách hàng những thông tin về thẻ, cách thức sử dụng và bảo quản thẻ an toàn thông qua tờ rơi, áp phích, Internet (đặc biệt là website của NHĐA). Đặc biệt, Chi nhánh có thể xuống tận nơi hướng dẫn tại những doanh nghiệp có số lượng đông đảo cán bộ công nhân viên nhận lương qua thẻ tại Hà Nội.
  • Chi nhánh cần thường xuyên kiểm tra và hướng dẫn công tác thanh toán thẻ tại các ĐVCNT, giúp những đơn vị này có thể nhận biết các giả mạo thẻ, từ đó có biện pháp phòng tránh và xử lý kịp thời.
  • Luôn luôn cập nhật thông tin từ Trung tâm thẻ để theo dõi báo cáo hoạt động thẻ và chương trình quản lý rủi ro toàn cầu của các TCTQT. Thông qua đó kịp thời ghi nhận những khả năng gian lận có thể xẩy ra.

Thứ hai, đối với rủi ro kỹ thuật

Bên cạnh việc trang bị một hệ thống công nghệ thông tin tốt, ít gặp trục trặc, Chi nhánh cũng cần liên tục bảo quản và sửa chữa kịp thời những hư hỏng để kẻ gian không lợi dụng xâm nhập vào hệ thống đánh cắp dữ liệu cũng như đảm bảo tính an toàn thuận tiện cho khách hàng khi giao dịch. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Thứ ba, đối với rủi ro đạo đức

Rủi ro đạo đức là một loại rủi ro có thể mang lại hậu quả rất nghiêm trọng, vì thế, để chủ động phòng ngừa loại rủi ro này, Chi nhánh cần liên tục bồi dưỡng và đào tạo các cán bộ làm công tác thẻ, không những giỏi về chuyên môn mà còn phải có tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức tốt. Đồng thời, xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng chức vụ và quyền hạn để thu lợi cá nhân, gây thiệt hại cho ngân hàng và khách hàng.

3.3.5.2. Kịp thời phát hiện và xử lý rủi ro thanh toán thẻ

Bên cạnh việc ngăn ngừa và phòng chống rủi ro, Chi nhánh cũng cần chú trọng tới công tác phát hiện và xử lý rủi ro thanh toán thẻ:

  • Tạo điều kiện để tiếp nhận và giải quyết nhanh chóng những thắc mắc, khiếu nại của khách hàng trong thanh toán thẻ.
  • Kết hợp với những TCTQT khi gian lận xảy ra có quy mô toàn cầu và nghiêm trọng.
  • Thường xuyên bảo dưỡng và kiểm tra máy móc để phát hiện nhanh chóng những hỏng hóc và kịp thời sửa chữa.
  • Theo dõi các báo cáo giao dịch thanh toán thẻ, sử dụng thẻ để phát hiện sớm các trường hợp có nghi ngờ giả mạo, đề ra các biện pháp xử lý thích hợp nhằm hạn chế tổn thất cho ngân hàng
  • Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để xử lý khi rủi ro xảy ra.

3.3.5.3. Tăng cường phối hợp với Trung tâm thẻ trong hoạt động quản lý rủi ro thanh toán thẻ

  • Báo cáo kết quả hoạt động quản lý rủi ro cho Trung tâm thẻ.
  • Thường xuyên cập nhật các thông tin quản lý rủi ro từ các TCTQT do trung tâm thẻ gửi đến.
  • Yêu cầu về mặt hỗ trợ kỹ thuật và nhân sự trong trường hợp cần thiết.

3.4. Những kiến nghị

Phát triển dịch vụ thanh toán thẻ cần được thực hiện trọn gói các giải pháp đồng bộ không chỉ giới hạn trong phạm vi một ngân hàng để tạo ra những bước chuyển mới: bước chuyển trong tư duy của công chúng, bước chuyển trong môi trường pháp lý, môi trường công nghệ, bước chuyển trong chất lượng dịch vụ thẻ để đáp ứng ngày một tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng. Dịch vụ thẻ không nên và cũng không phải chỉ là sử dụng thẻ để rút tiền từ ATM, mà còn phải là một công cụ thanh toán hữu ích nhờ các giá trị gia tăng mà nó tạo ra qua sự tăng trưởng về chất lượng dịch vụ thẻ. Có như thế, hoạt động thanh toán thẻ mới trở nên phổ biến và thật sự cần thiết trong đời sống xã hội. Vì những lý do như vậy, tác giả xin đưa ra những kiến nghị để hoạt động thanh toán thẻ ngày một tốt hơn như sau: ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Xem thêm: Lời mở đầu hoạt động pháp hành, thanh toán thẻ tại ngân hàng

3.4.1. Kiến nghị đối với Chính phủ

Thực tế cho thấy, hiện nay thị trường dịch vụ thẻ của Việt Nam chưa có sự phát triển bước ngoặt về chất một phần do không có được một môi trường pháp lý – kỹ thuật thuận lợi. Do vậy, song song với các giải pháp đã nêu trên, Chính phủ cần thực hiện các giải pháp hỗ trợ bằng cách hoàn thiện hành lang pháp lý và hạ tầng kỹ thuật viễn thông.

3.4.1.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ

Thứ nhất, cần tạo lập hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

Trước tiên, song song với việc phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt, Chính phủ nên có những nghị định, thông tư hướng dẫn cụ thể hoặc hỗ trợ cho việc thực hiện Đề án để khuyến khích và dần đi vào bắt buộc đối với việc thanh toán bằng thẻ. Điều này chẳng những khuyến khích hoạt động thanh toán thẻ phát triển mà còn giúp Chính phủ kiểm soát được nền kinh tế, đồng thời thu được một nguồn thu đáng kể cho Ngân sách thông qua công cụ thuế.

Thứ hai, cần ban hành các quy định cụ thể về hoạt động thanh toán thẻ để các ngân hàng có thể áp dụng những hình thức thanh toán qua thẻ mới

 Hiện tại, Chính phủ đã ban hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005 song mới chỉ tạo nền tảng pháp lý cho các giao dịch điện tử trong thương mại, Luật Giao dịch điện tử vẫn không thể hiện hết những đặc trưng riêng của thương mại điện tử, do vậy cần có các văn bản dưới luật và thông tư hướng dẫn thi hành. Vì thế nên nhiều ngân hàng vẫn chưa áp dụng hình thức thanh toán thẻ qua mạng vì lo ngại rủi ro.

Thứ ba, bổ sung khung hình phạt cho tội phạm thẻ

Chính phủ cần phải có quy định tội danh và khung hình phạt nghiêm khắc trong Bộ Luật Hình sự đối với loại tội phạm thẻ. Các hoạt động giả mạo thẻ thường có liên quan đến yếu tố nước ngoài nên Chính phủ có thể tham khảo luật và quy định của các tổ chức thẻ quốc tế cũng như các quy định của luật pháp quốc tế để ban hành các điều khoản có tính thực thi cao, phù hợp với thông lệ quốc tế, tránh những tranh chấp quốc tế có thể xảy ra mà không mâu thuẫn với hệ thống pháp luật Việt Nam.

3.4.1.2. Hoàn thiện hành lang kỹ thuật

Chính phủ phải có những biện pháp nhằm nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật để đáp ứng cho sự phát triển của công nghệ ngân hàng ứng dụng trong hoạt động thanh toán bằng cách tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vự cơ sở hạ tầng, công nghệ viễn thông, đồng thời khuyến khích, thu hút các nguồn vốn khác đầu tư vào lĩnh vực này. Có như vậy hạ tầng kỹ thuật mới theo kịp và đáp ứng tốt cho sự phát triển thanh toán bằng thẻ trong cuộc sống.

Bên cạnh đó, Chính phủ nên xem xét, hỗ trợ các ngân hàng như giảm thuế nhập khẩu máy móc phục vụ cho hoạt động thẻ, tạo điều kiện thành lập các cơ sở, nhà máy sản xuất máy móc linh kiện thay thế cho các thiết bị như ATM, POS.. nhằm giảm giá thành, giúp ngân hàng có khả năng tự trang bị và mở rộng mạng lưới thanh toán hơn nữa.

3.4.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

3.4.2.1. Hoàn thiện các văn bản pháp quy về thanh toán thẻ

Hiện tại, cơ sở pháp lý cho việc phát triển thanh toán thẻ ngân hàng do NHNN ban hành mới chỉ có Quyết định 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 về Quy chế phát hành, sử dụng, thanh toán và cung cấp dịch vụ hỗ trợ thẻ ngân hàng. Theo đó, môi trường kinh doanh thẻ nói chung và thanh toán thẻ nói riêng đã thông thoáng hơn với việc loại bỏ giấy phép con đối với các ngân hàng tham gia, nhưng vẫn phải đáp ứng những điều kiện cụ thể được Quy chế quy định, và NHNN sẽ đánh giá sự tuân thủ của các tổ chức đó.            

Thời gian tới, NHNN tiếp tục củng cố hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán thẻ, nhất là các chế tài áp dụng xử lý đối với các hành vi giả mạo, lừa đảo trong giao dịch thẻ phù hợp với thông lệ quốc tế; hành vi tội phạm thẻ, tiết lộ thông tin, ăn cắp thông tin khách hàng sử dụng vào mục đích gian lận trong thanh toán thẻ; hay cá nhân, đơn vị gây thất thoát dữ liệu thẻ; các đối tượng gian lận trong thanh toán thẻ. Đồng thời xây dựng quy định về dự phòng rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ, về phí thanh toán và đề xuất xây dựng các tổ chức chuyên trách tập hợp và cung cấp thông tin liên quan đến các phương tiện thanh toán bị mất cắp, bị gian lận…; tăng cường vai trò giám sát của NHNN đối với các phương tiện thanh toán và hệ thống thanh toán. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Đồng thời, NHNN cần nhanh chóng ban hành các thông tư hướng dẫn cụ thể những nghị định của Chính phủ ban hành liên quan đến hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt để sớm đưa chúng vào cuộc sống.

3.4.2.2. Hỗ trợ về tài chính kỹ thuật để giúp các ngân hàng nhanh chóng kết nối vào trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất

Năm 2006, Trung tâm Chuyển mạch thẻ thống nhất Banknetvn đã chính thức đi vào hoạt động và đến năm 2008 đã kết nối thành công với liên minh thẻ Smartlink. Tuy thế, hiện nay trên thị trường vẫn chưa thống nhất và chưa kết nối được hết hệ thống ngân hàng với nhau dẫn đến sự phát triển không đồng bộ của thị trường, gây ra tình trạng đầu tư không hiệu quả. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường trong nước đã có sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài thì vấn đề thống nhất hệ thống giữa các ngân hàng là một vấn đề cấp thiết cần làm ngay.

Bên cạnh đó, NHNN cũng nên tham khảo các kinh nghiệm thực tiễn, yêu cầu về mặt kỹ thuật và hợp tác với các tổ chức thẻ quốc tế (đặc biệt là các trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất tại Trung Quốc hay Singapore) để đưa ra phương hướng thực hiện cụ thể.

3.4.3. Kiến nghị đối với Hiệp hội thẻ Việt Nam

Hiệp hội thẻ Việt Nam được thành lập với vai trò là nơi hợp tác trao đổi giữa các ngân hàng tham gia hoạt động thẻ tại Việt Nam, đồng thời là đầu mối tổ chức, nghiên cứu và kiến nghị những biện pháp nhằm phát triển thị trường thẻ với các cơ quan chức năng. Trong thời gian tới, Hiệp hội nên thực hiện những biện pháp sau:

  • Hiệp hội thẻ cần đưa ra các quy định đối với các thành viên trong việc cung cấp thông tin và là đầu mối phối hợp hành động phòng chống các hành vi gian lận trong lĩnh vực kinh doanh thẻ ngân hàng trên thị trường. Hiệp hội thẻ cũng là đầu mối tổ chức, nghiên cứu đưa ra các đề xuất hạn chế rủi ro trong kinh doanh thẻ, đầu mối liên lạc với các tổ chức thẻ quốc tế trong hoạt động phòng chống giả mạo thẻ và tổ chức các khoá học bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho các ngân hàng thành viên trong hoạt động phòng chống rủi ro kinh doanh thẻ.
  • Thường xuyên tổ chức các hình thức trao đổi thông tin về kinh nghiệm, giải pháp giải quyết những hạn chế trong hoạt động thẻ giữa các ngân hàng; xem xét và thành lập đơn vị quản lý rủi ro và có cơ chế trao đổi thông tin kịp thời, hiệu quả.
  • Làm đầu mối tập hợp các phản ánh của các ngân hàng thành viên về những khó khăn vướng mắc của cac ngân hàng thành viên trong hoạt động thẻ để kiến nghị với NHNN.
  • Đầu mối phôi hợp và kiến nghị với NHNN xây dựng hành lang pháp lý để các ngân hang có căn cư pháp lý và thống nhất thực hiện hoạt động thanh toán thẻ.

3.4.4. Kiến nghị đối với các Bộ ngành có liên quan

3.4.4.1. Kiến nghị với Bộ Thông tin và Truyền thông

Bộ thông tin và truyền thông cần tham gia với tư cách là đơn vị truyền thông, đóng góp vào việc thay đổi nhận thức của người dân về thói quen sử dụng thẻ cũng như ích lợi của việc thanh toán thẻ thay vì thanh toán bằng tiền mặt bằng tuyên truyền phổ biến, nâng cao hiểu biết của đại bộ phận dân chúng. Trong bối cảnh tội phạm thẻ ngày càng phát triển với những hình thức tinh xảo hơn, thì nếu người dân được tiếp cận với các thông tin hướng dẫn về thao tác sử dụng thẻ, vấn đề an toàn, bảo mật thông tin thẻ qua các phương tiện thông tin đại chúng liên tục thì họ sẽ dần có thói quen sử dụng thẻ an toàn và tránh được những rủi ro không đáng có. Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí khi đưa tin cũng cần nghiên cứu đầy đủ, có chiều sâu, để tránh gây tâm lý bất an khi sử dụng thẻ để thanh toán trong dân cư. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

3.4.4.1. Kiến nghị với các cơ quan Điện lực, Bảo hiểm, Viễn thông

Những cơ quan này cần có sự phối hợp chặt chẽ với các ngân hàng để tiến tới thu phí điện nước, bảo hiểm, điện thoại cố định, Internet đều qua thẻ, góp phần thúc đẩy các ngân hàng đưa ra những loại hình thanh toán đa dạng hơn, qua đó thu  hút thêm khách hàng, đẩy mạnh phát triển hoạt động thanh toán.


KIÊN NGHỊ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH THANH TOÁN THẺ NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU

1/ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN THẺ TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM VÀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH THẺ CỦA ACB

1.1. Triển vọng phát triển thẻ trên thị trường Việt Nam.

Thẻ thanh toán là một trong những phương thức thanh toán không dùng tiền mặt được lưu hành trên toàn cầu và rất phổ biến ở các nước ngay từ những năm 1970. Tại Việt Nam, hoạt động thanh toán thẻ lần đầu tiên được triển khai vào năm 1990 do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện. Tiếp sau đó là 3 ngân hàng thương mại khác là Ngân hàng thương mại cổ phần á châu (ACB), Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam, Ngân hàng FistVina. Cho đến thời điểm hiện tại con số các ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ thẻ với tư  cách làm đại lí cho các NHPHT và cho các tổ chức thẻ quốc tế như Master Card, Visa, Amex, JCB… là rất nhiều. Trong thời gian gần đây, tình hình hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng tại thị trường Việt Nam có sự phát triển đáng kể: ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

 Đối với hoạt động thanh toán thẻ, nếu như doanh số hoạt động thanh toán thẻ trước nâm 1998 chưa bao giờ vượt quá 160 triệu USD/ năm thì trong năm 1999 đã đạt được 194 triệu USD, và đến năm 2000 đã đạt được 200 triệu USD

Đối với hoạt động phát hành thẻ, tình hình cũng tương tự, theo đó doanh số phát hành thẻ trong 3 năm gần đây (từ năm 1998 đến năm 2000) lần lượt là 110 tỷ đồng, 170 tỷ đồng và 280 tỷ đồng.

Cùng với việc tăng nên của doanh số phát hành thẻ và thanh toán thẻ, hoạt động mở rộng mạng lưới các cơ sở chấp nhận thẻ ngày càng mạnh mẽ. Đến cuối năm 1998, tổng số các đơn vị chấp nhận thẻ trên phạm vi toàn quốc là khoảng3500 đơn vị so với gần 2000 đơn vị vào cuối năm 1996 và con số này là trên 5000 đơn vị tính đến cuối năm 2002 vừa rồi. Với đà phát triển như hiện nay cho thấy thị trường thẻ Việt Nam là một thị trường đầy triển vọng.

Có thể nói trong tương lai, với môi trường xã hội, pháp lý ổn định và phát triển sẽ tạo ra nhiều nhân tố tích cực thúc đẩy quá trình phát triển dịch vụ thẻ, phạm vi sử dụng và thanh toán thẻ sẽ ngày càng được mở rộng, công nghệ thẻ sẽ phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu. Điều đó có nghĩa là dịch vụ thương mại điện tử đã phát triển và thẻ chính là phương tiện thanh toán thuận lợi nhất trong loại hình giao dịch này.

1.2. Chiến lược phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của ACB trong thời gian tới:

Bên lề thiên niên kỷ mới, ACB đang có những kế hoạch phát triển đầy tham vọng, đó là ACB đang thực hiện kế hoạch phát hành 10.000 thẻ tín dụng cho thị trường nội địa trong vòng vài tháng cuối năm này và 40.000 thẻ tín dụng đến năm 2005. Kế hoạch của ACB được phối hợp với Saigon Tourist và Saigon Coop để phục vụ chiến dịch”Việt Nam điểm hẹn thiên niên kỷ mới”. Kế hoạch mở rộng thẻ tín dụng của ACB là bước tiến tích cực thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam phù hợp với chủ trương của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Trong thực tế, một số khách hàng còn ngần ngại sử dụng thẻ tín dụng và cho rằng chi phí thanh toán thẻ còn cao, thời gian thanh toán chưa thật nhanh chóng. Nhưng theo tôi, phương thức thanh toán nào cũng có giá thành của nó. Vấn đề là phải làm sao để có giá thành phù hợp và được xã hội chấp nhận. Trong thời gian vừa qua, ACB đã có nhiều nỗ lực trong việc hạ thấp chi phí thậm chí có khi còn phải chịu lỗ trong đầu tư trang thiết bị kỹ thuật mới về thanh toán thẻ. Tương lai để hướng tới tất cả khách hàng, ACB đã có những định hướng tích cực trong việc mở rộng thanh toán thẻ tín dụng trên toàn đất nước, đưa sản phẩm thẻ đến với mọi người dân Việt Nam. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Với mục đích đa dạng hoá phương thức thanh toán nhằm đem lại lợi ích tối đa cho kháhc hàng, trong thời gian tới, ACB tiếp tục phát hnành các loại thẻ tín dụng quốc tế và nội địa, đặc biệt là ACB e-Card, MasterCard Electronic hướng tới khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ bằng thu nhập của mình mà không cần đến hạn mức tín dụng của ngân hàng. Bên cạnh đó, ACB tiếp tục triển khai chương trìmh chấp nhận thanh toán thẻ Visa Electron và MasterCard Electronic. Để đem lại tiện ích tối đa cho khách hàng, ACB còn trang bị hệ thống máy rút tiền tự động ATM tại các chi nhánh và trung tâm thương mại ở các thành phố lớn.

Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tế hoạt động kinh doanh thẻ, tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại ACB.

Xem thêm: Cơ sở lý luận hoạt động phát hành, thanh toán thẻ tại ngân hàng

2/ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU.

2.1.1. Giải pháp về lĩnh vực công nghệ:

Tiếp tục tăng cường nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin vào hoạt động phát hành và thanh toán thẻ. ACB phải coi công nghệ là khâu then chốt, làm tốt công tác này sẽ tạo ra những bước phát triển đột phá trong hoạt động kinh doanh thẻ. Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài do được sự giúp đỡ của các ngân hàng mẹ, với nguồn lực tài chính và công nghệ dồi dào, đang có nhiều lợi thế trong quá trình cạnh tranh so với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam. Tuy vậy, trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển nhanh, ACB có thể lựa chọn ngay cho mình những giải pháp công nghệ hiện đại nhất, hiệu quả nhất phù hợp với ngân hàng của mình, góp phần tạo ra những sản phẩm tốt nhất, có chất lượng cao nhất đem lại tiện ích tối đa cho khách hàng và bạn hàng trong và ngoài nước. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

2.1.2. Giải pháp về xây dựng và hoàn thiện chiến lược kinh doanh tổng quát cho dịch vụ thẻ

Việc xây dựng một chiến lược tổng thể cho hoạt động kinh doanh thẻ là một điều hết sức cấp bách và cần thiết. Trước hết phải tiến hành xem xét thực trạng của ngân hàng, phân tích những điểm mạnh, yếu của bản thân cũng như của các đối thủ kinh doanh và đề ra mục tiêu chiến lược trong thời gian nhất định, có thể là 5, 10 năm hoặc xa hơn nữa. Trên cơ sở đó hoạch định một chiến lược Marketing tổng thể để có thể ứng dụng trong thời gian thực hiện chiến lược, trong đó phải đưa ra giải pháp và lộ trình thời gian cụ thể để thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra. Đồng thời dự trù các nguồn lực cần thiết và đề ra kế hoạch phân phối, giám sát các nguồn lực đó trong thời gian thực hiện chiến lược.

2.1.3. Làm tốt công tác nghiên cứu, phân tích và dự báo thị trường

Công tác nghiên cứu, phân tích và dự báo thị trường phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và có hiệu quả. Muốn vậy, ACB phải có một đội ngũ cán bộ chuyên sâu về thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, đồng thời phải thiết lập một mạng lưới cộng tác viên nhiệt tình và có năng lực ở nhiều địa phương. Thông qua đó thực hiện việc thu thập thông tin một cách thường xuyên về những biến động trên thị trường. Đó là việc thu thập các thông tin về khách hàng, thông tin về các đối thủ cạnh tranh và các thông tin về sự biến động kinh tế, chính trị, tình hình tăng trưởng của nền kinh tế cũng  như các chỉ số quan trọng về tiêu dùng và đầu tư…Trên cơ sở đó, tiến hành công tác nghiên cứu và đưa ra những dự báo về những biến động trong tương lai và ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp đến hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng.

Việt Nam là một nước đông dân nên có thị trường tiềm năng để phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Đại bộ phận dân cư trong nước chưa được hưởng các dịch vụ ngân hàng. Bộ phận dân cư đựơc hưởng dịch vụ ngân hàng lại chỉ đơn giản ở nghiệp vụ gửi tiền tiết kiệm. Chính vì vậy, việc phát triển dịch vụ ngân hàng hướng vào khu vực tư  nhân, trong đó có dịch vụ thẻ là một chiến lược thị trường mà ACB rất nên thực hiện. Trong thời gian tới, nên chú trọng hơn nữa vào việc phát triển dịch vụ cho khối doanh nghiệp tư nhân, cán bộ công  nhân viên, doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh, người dân thành thị. Sau đó sẽ dần mở rộng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng sinh sống ở nông thôn.

2.1.4. Xây dựng và triển khai đồng bộ các chiến lược Marketing cho dịch vụ thẻ.

Trước hết là đưa thẻ tiếp cận với mọi người dân, làm cho nó thực sự là một bộ phận thiết thực của đời sống. ACB cần đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo để đông đảo dân chúng biết về lợi ích kinh tế, sự tiện lợi khi dùng thẻ. Hoạt động này được thực hiện qua nhiều phương tiện thông tin đại chúng nhằm tác động mạnh mẽ vào nhận thức của mọi người, phá vỡ rào cản tâm lý ngần ngại của người dân trước một loại hình dịch vụ mới mẻ, để họ thấy rằng chi tiêu bằng thẻ là kinh tế, an toàn và tiện lợi nhất.

ACB có thể kết hợp với các ngân hàng bạn tổ chức chương trình quốc gia giới thiệu về thẻ và lợi ích của thẻ đến với dân cư, tổ chức hội nghị khách hàng, tập huấn nghiệp vụ cho các cơ sở chấp nhận thẻ, có chương trình khuyến mại và chăm sóc khách hàng, cung cấp các dịch vụ kèm theo. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Ngoài ra ACB cũng cần nghiên cứu sửa đổi mẫu mã thẻ, mẫu hợp đồng, tờ rơi, quảng cáo hấp dẫn, dễ hiểu và khoa học; xem xét chỉnh sửa các điều kiện phát hành thẻ thuận lợi, phù hợp với khả năng sử dụng thẻ của khách hàng; trích một phần thu dịch vụ thẻ để tạo nguồn công tác Marketing như chế độ thưởng, khuyến mại, tặng quà cho khách hàng chủ thẻ và các cơ sở chấp nhận thẻ đạt doanh số thanh toán cao, phát hành thẻ trong toàn thể cán bộ công nhân viên ACB để làm hạt nhân tuyên truyền, quảng cáo sử dụng thẻ.

2.1.5. Thiết lập mối quan hệ phối hợp hoạt động giữa các bộ phận.

Hoạt động kinh doanh của một ngân hàng luôn cần có sự phối hợp giữa các chức năng cũng như giữa các bộ phận khác nhau trong hệ thống cũng như với tất cả các bên liên quan. Tránh tình trạng phòng kế hoạch đề ra các chỉ tiêu quá cao gây áp lực cho các bộ phận thực hiện, hay bên quản lý nhãn hiệu không thống nhất được với bên quảng cáo về một nhãn hiệu sản phẩm của ngân hàng mình. Cũng như vậy, bộ phận kế toán giao dịch phải hiểu rằng việc mình thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác các yêu cầu của khách hàng đã làm cho họ có cái nhìn thiện cảm với ngân hàng, thậm chí bộ phận bảo vệ thực hiện tốt nhiệm vụ cũng tạo cho khách hàng cảm giác tin tưởng vào ngân hàng và tiếp tục lựa chọn dịch vụ do ngân hàng cung cấp. Khi xây dựng cũng như thực hiện chiến lược kinh doanh cho dịch vụ thẻ ngân hàng, cần thiết lập giữa các bộ phận từ Trung tâm quản lý thẻ đến các chi nhánh cũng như giữa các bộ phận tham gia quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ.

2.1.6. Giải pháp về cơ cấu tổ chức bộ máy.

ACB nên có một cơ cấu tổ chức tập trung quản ký hoạt động thẻ của toàn bộ hệ thống thông qua các chi nhánh và ngân hàng đại lý với Trung tâm thẻ ACB. Nhiệm vụ của Trung tâm thẻ là đề ra các chính sách chiến lược phát triển kinh doanh thẻ của ngân hàng và phổ biến đến các chi nhánh, thực hiện chủ yếu các nhu cầu phát hành và thanh toán thẻ trong khu vực mà mình phụ trách, phổ biến các tài liệu nghiệp vụ có liên quan đến hoạt động dịch vụ thẻ đến các đại lý, tổ chức đào tạo, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn của nhân viên thực hiện dịch vụ thẻ; thực hiện báo cáo hoạt động dịch vụ thẻ của toàn ngân hàng đến ban giám đốc, Hội sở và Hội đồng quản trị.

2.2. Một số giải pháp cụ thể.

2.2.1. Nâng cao tiện ích của thẻ do ACB phát hành

Thẻ do ACB phát hành đã phát triển đựoc gần 10 năm nhưng trên thực tế khách hàng vẫn chưa thực sự được hưởng tất cả các tiện ích trong sử dụng thẻ. Cho nên để có thể cạnh tranh trên thị trường, đòi hỏi ngân hàng phải có biện pháp để khách hàng được hưởng nhiều hơn nữa những tiện ích của  thẻ. Ngân hàng nên xem xét phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng mà không cần phải ký quỹ như hiện nay với hạn mức tín dụng mà ngân hàng cho phép căn cứ vào nhu cầu của khách hàng và thu nhập hàng tháng họ nhận được trên tài khoản của mình mở tại ngân hàng, đặc biệt với những khách hàng là bác sĩ, giảng viên đại học, nhân viên các doanh nghiệp nhà nước, công ty nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh… như vậy lượng khách hàng đến với ngân hàng có thể tăng lên rất nhiều so với lượng khách hiện taị.

Ngân hàng cũng nên xem xét hạ thấp các khoản phí cho khách hàng như phí thường niên, phí rút tiền mặt, lãi suất cho vay nhưng trên cơ sở ngân hàng vẫn có lãi. Giám sát và khuyến khích các đại lý chấp hành nghiêm chỉnh những việc tính thêm phí khi khách hàng thanh toán bằng thẻ tín dụng. Ngoài ra, nâng cao sự tiện ích của thẻ không có nghĩa là chỉ nâng cao chất lượng của những sản phẩm thẻ đã có mà đòi hỏi ngân hàng phải đa dạng hoá các sản phẩm thẻ phục vụ nhu cầu đa dạng của khách hàng, không ngừng cung ứng thêm những dịch vụ kèm theo nhằm tăng thêm sự thuận tiện của khách hàng khi sử dụng thẻ. Vậy nên, ngân hàng nên có chiến lược mở rộng việc cung ứng thêm những sản phẩm thẻ mới đến khách hàng như phát hành thêm những sản phẩm thẻ mới bên cạnh những sản phẩm thẻ mà ngân hàng đang phát hành. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

2.2.2. Đơn giản hoá quy trình, thủ tục phát hành thẻ.

 Ngân hàng á Châu đã và đang có nhiều cải cách trong thủ tục phát hành thẻ, rút ngắn thời gian phát hành thẻ xuống rất nhiều, từ 5-7 ngày so với 12-15 ngày như trước đây, nhưng nói chung thủ tục làm thẻ vẫn còn rất phức tạp, yêu cầu chủ thẻ phải xuất trình quá nhiều chứng từ chứng minh. Hiện nay, việc phát hành thẻ cho khách hàng vẫn do Trung tâm thẻ ACB quyết định, các chi nhánh chỉ làm nhiệm vụ tiếp nhận yêu cầu phát hành thẻ của khách hàng gửi vào Trung tâm thẻ, nếu Trung tâm thẻ đồng ý, khách hàng sẽ cung cấp tiếp các chứng từ khác. Như vậy rất mất thời gian, không tạo được sự chủ động cho các chi nhánh trong hoạt động phát hành thẻ. Vậy nên chăng, Trung tâm thẻ ACB nên để việc thẩm định cho phép phát hành thẻ cho các chi nhánh tự quyết định. Bởi vì họ có sự am hiểu tình hình khu vực hoạt động hơn dẫn đến sẽ có nhiều linh động phù hợp với nhu cầu của chủ thẻ. Hơn nữa, như vậy sẽ góp phần rút ngắn thời gian phát hành thẻ cho khách hàng. Trong tương lai gần có thể cho phép các chi nhánh hoàn toàn chủ động trong hoạt động phát hành thẻ, đặc biệt chi nhánh lớn như Hà Nội có thể trang bị thêm một máy dập thẻ và tự quản lý hoạt động phát hành thẻ, còn Trung tâm thẻ ACB sẽ chỉ cần tiếp nhận nhu cầu làm thẻ từ chi nhánh fax vào, đưa vào file quản lý chủ thẻ tiện cho việc quản lý chung và đáp ứng các yêu cầu tra soát từ phía tổ chức thẻ quốc tế.

2.2.3. Cải tiến mẫu mã và công nghệ thẻ phát hành.

Như chúng ta đã biết, để phát hành thẻ đảm bảo chất lượng quốc tế tránh giả mạo đòi hỏi một công nghệ phát hành phải thật sự hiện đại, đặc biệt là máy dập thẻ, một sự hỏng hóc nhỏ của thiết bị này có thể dẫn đến cả một quy trình phát hành thẻ bị đình trệ. Mặt khác, hiện nay trên thị trường Việt Nam vẫn chưa có các thiết bị, linh kiện thay thế. Chính vì vậy bất cứ một sự hỏng hóc nào dù nhỏ xảy ra thì thiệt hại về mặt kinh tế đối với ngân hàng khi khách hàng có nhu cầu làm thẻ mà không thể đáp ứng được là rất lớn. Nên chăng ngân hàng nên liệt kê trước các hỏng hóc có thể xảy ra cho máy dập thẻ và dự liệu trước các phương pháp giải quyết cùng thời gian ước lượng để chuẩn bị sẵn sàng khi việc hư hỏng xảy ra.

Việc thiết kế mẫu thẻ do ngân hàng phát hành ngoài việc đảm bảo các tiêu chuẩn của tổ chức thẻ quốc tế thì việc tìm sự sáng tạo nổi bật trong mẫu thẻ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt thẩm mỹ và khả năng chống giả mạo. Hiện nay, thẻ do ACB phát hành được khách hàng thích thú hơn nhiều vì so với thẻ do VCB phát hành, thẻ của ngân hàng có in hình chủ thẻ và chữ ký trên nền thẻ. Như vậy, tạo cảm giác yên tâm cho chủ thẻ khi dùng thẻ do có thể chống được sự giả mạo. Việc học hỏi về thiết kế các loại thẻ hiện hành trên thị trường để qua đó nâng cao tính thẩm mỹ của thẻ do ACB phát hành là một việc làm cần thiết hiện nay của ngân hàng. Chẳng hạn như hình thức mẫu mã của thẻ Amex hiện nay rất đáng cho ACB học tập về sự bắt mắt và tính thẩm mỹ của nó. Nếu nhìn xa hơn cho tương lai của Trung tâm thẻ ACB, việc phát động một cuộc thi thiết kế cho mặt nền của thẻ trong công chúng đặc biệt là trong giới trẻ không những giúp cho ngân hàng lựa chọn được một kiểu dáng thẻ thích hợp mà còn khuyến khích được những tiềm năng chủ thẻ tương lai này học hỏi về thẻ tín dụng và họ sẽ là những công cụ hữu hiệu tuyên truyền những thông tin kiến thức về thẻ đến với công chúng. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

2.2.4. Mở rộng chủng loại thẻ chấp nhận thanh toán.

Hiện nay, ACB mới chỉ chấp nhận thanh toán 2 loại thẻ tín dụng quốc tế là Visa và Mastercard và các loại thẻ tín dụng nội địa do ngân hàng phát hành. Như vậy, chủng loại thẻ chấp nhận thanh toán của ngân hàng là quá ít, chính điều này tạo nên điểm yếu trong cạnh tranh mở rộng đại lý chấp nhận thanh toán thẻ tăng doanh số thanh toán thẻ giữa ACB và các ngân hàng khác. Khiến cho đại lý thanh toán thẻ thực sự không hài lòng vì trên thực tế nhiều đại lý phàn nàn rằng khi thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho họ khách hàng thường chi trả nhiều loại thẻ khác nhau nhưng phổ biến là Amex, JCB và Séc du lịch trong khi đó ngân hàng lại chỉ thanh toán thẻ Visa và Mastercard điều này làm cho họ mất rất nhiều thời gian trong việc đi lại giữa ngân hàng này và ngân hàng khác để thanh toán các loại thẻ khác nhau. Vì vậy, trước mắt trong thời gian tới ngân hàng nên xúc tiến chuẩn bị các điều kiện về bộ máy nhân sự, kỹ thuật tiến tới ký kết hợp đồng thanh toán các thẻ với các tổ chức thẻ quốc tế Amex và JCB.

Trong thời gian trung tâm chuyển mạch thanh toán thẻ liên ngân hàng chưa thành lập ngân hàng có thể phối hợp với những ngân hàng hoạt động mạnh trong phát hành và thanh toán thẻ hiện nay như VCB hay ANZ triển khai chương trình thanh toán bù trừ liên ngân hàng để mở rộng chủng loại thẻ nhận thanh toán, đồng thời tạo điều kiện phát triển hệ thống đại lý cho thẻ nội địa của ngân hàng.

2.2.5. Phát triển mạng lưới đại lý chấp nhận thẻ  của ngân hàng

Phát triển mạng lưới các đại lý chấp nhận thanh toán thẻ, tăng doanh số thanh toán là một vấn đề chiến lược trong phát triển nghiệp vụ thanh toán thẻ của ngân hàng, Đây còn được coi là môt yếu tố rất quan trọng trong chương trình khuyếch trương hoạt động dịch vụ thẻ của ngân hàng hiện nay.

Vậy những viêc ngân hàng cần làm ngay lúc này để phát triển mạng lưới đại lý chấp nhận thẻ là:

– Trang bị đầy đủ các máy móc thiết bị (chủ yếu là các thiết bị đọc thẻ điện tử EDC ) cho các đại lý chấp nhận thẻ nhằm tránh tạo ra những khoảng trống cho các Ngân hàng khác xâm nhập. Thực tế chỉ vì thiếu máy EDC mà ACB đã để cho nhiều NH khác xâm nhập vào các đại lý của mình như ANZ, EXIMBANK; họ có thể đồng thời ký hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ với ACB vào với các ngân hàng đó, thậm chí họ từ chối không chấp nhận làm đại lý cho ACB hoặc nộp hết doanh số thanh toán thẻ cho NH khác .

– Tăng cường chính sách tiếp thị đại lý để họ thấy rõ lợi ích của việc chấp nhận thanh toán thẻ, nghiên cứu gấp việc trích thưởng nhằm khuyến khích các đại lý đạt doanh số lớn đồng thời việc trích thưởng này là một phương tiện để ngân hàng cạnh tranh với ngân hàng khác, khuyến khích giảm phí cho những đại lý có doanh thu thanh toán thẻ lớn. Tăng cường liên kết hợp tác với các NHTM tại những nơi không có chi nhánh của ACB, nhưng lại có tiềm năng sử dụng thẻ để thiết lập các cơ sở để tiếp nhận thẻ như Huế, Quảng Ninh, SaPa… ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

– Nâng cao chất lượng thanh toán thể hiện trên các mặt rút ngắn thời gian thanh toán cho đại lý, việc cử nhân viên xuống đại lý nhận hoá đơn phải tiếp tục được củng cố phát triển.

– Đảm bảo hoạt động ổn định của phần mềm quản lý vừa xử lý cấp phát thanh toán thẻ. Có sự phối kết hợp chặt chẽ với các bưu điện để đảm bảo ổn định cho vấn đề cấp phép thanh toán thẻ của đại lý, thiết lập mạng vi tính giữa các đại lý chấp nhận thanh toán thẻ  ở cùng hoặc khác địa bàn đảm bảo ghi có kịp thời cho các đại lý, cung cấp kịp thời các hoá đơn thanh toán thẻ cũng như sửa chữa kịp thời những hỏng hóc đối với các thiết bị cà thẻ và đọc thẻ điện tử  EDC phục hoạt động thanh toán thẻ của đại lý.

Cùng với việc phát triển mạng lưới đại lý ngân hàng nên xem xét có kế hoạch đầu tư phát triển hệ thống máy gửi rút tiền tự động ATM, phổ cập hoạt động thanh toán, rút tiền mặt qua máy ATM dẫn từng bước ra dân chúng.

2.2.6. Phát triển đào tạo nguồn nhân lực

 Trước hết, Trung tâm thẻ ACB phải đổi mới, cải tiến chế độ lương thưởng đãi ngộ nhằm động viên tinh thần làm việc của nhân viên, trong tương lai ngoài lương cứng, Trung tâm thẻ ACB cũng nên khuyến khích trả lương theo hiệu suất công việc làm được của mỗi nhân viên trong hoạt động phát triển chủ thẻ, mở rộng mạng lưới đại lý có như vậy mới tạo ra động lực làm việc, phát triển khả năng sáng tạo trong công việc cho nhân viên.

Trong công tác đào tạo Trung tâm thẻ cũng nên đưa ra các hình thức khuyến khích nhân viên có ý thức học tập, tiếp thu kiến thức, chẳng hạn như trả lương cho nhân viên trên số giờ học hoặc tổ chức thi kiểm tra cuối khoá có phần thưởng bằng tiền mặt hoặc tối thiểu là chi tiền ăn trưa … sẽ làm cho nhân viên tiến hành học tập một cách nghiêm túc hơn và có hiệu quả cao hơn. Trước khi thực hiện việc này, một cuộc thăm dò nội bộ về mức độ hài lòng của nhân viên ngân hàng đối với ngân hàng về lương thưởng, điều kiện làm việc cũng như mục đích, định hướng của họ trong tương lai nên được tiến hành giúp cho lãnh đạo trung tâm có cái nhình chính xác về nhân viên của mình.

Gây dựng tình đoàn kết giữa các nhân viên, phối hợp hoạt động giữa bộ phận thẻ và các bộ phận có liên quan để học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành công việc chung cũng là một giải pháp mà Trung tâm thẻ ACB nên thực hiện ngay.

Xem thêm: Thực trạng về hoạt động phát hành, thanh toán thẻ tại ngân hàng

3/ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.

Để việc sử dụng và thanh toán thẻ được mở rộng, Ngân hàng TMCP á Châu ngoài sự nỗ lực của bản thân cũng rất cần đến sự hỗ trợ của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Hội các ngân hàng thanh toán thẻ Việt Nam. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

3.1. Đối với Chính phủ

Sự trợ giúp của Chính phủ là rất quan trọng đối với mọi ngành, mọi cấp. Nếu có những biện pháp hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ về chính sách thuế, về quy định pháp luật… để ACB có định hướng triển khai dịch vụ thẻ góp phần phát triển xã hội lâu dài, thực hiện chủ trương ổn định tiền tệ, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông…thì nhất định dịch vụ này sẽ thu được những kết quả rất khả quan. Các cơ quan quản lý kinh tế xã hội và pháp luật cũng cần có sự quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực thẻ, bổ sung những chính sách, quy chế, quy định tạo môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định và thuận lợi để nghiệp vụ thẻ có điều kiện phát triển lành mạnh, đúng hướng.

3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước.

Ngân hàng nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việc định hướng chiến lược chung cho các NHTM thực hiện hoạt động kinh doanh thẻ thông qua các giải pháp trợ giúp cho các NHTM trong đó có Ngân hàng TMCP á Châu như:

Phối hợp với các NHTMVN và các tổ chức thẻ quốc tế trong việc hoạch định chiến lược khai thác thị trường, thúc đẩy hoạt động thanh toán và phát hành thẻ, ứng dụng các công nghệ thẻ đã đang và sẽ được phát triển trên thế giới và khu vực.

Thành lập trung tâm chuyển mạch thanh toán liên ngân hàng về thẻ, đây là trung tâm xử lý các giao dịch thanh toán thẻ do các ngân hàng trong nước phát hành nhằm khuyến khích các ngân hàng phát hành thẻ nội địa trên cơ sở đầu tư mạng thanh toán trực tuyến trong nội bộ từng ngân hàng và tạo điều kiện giảm phí thanh toán thẻ do các ngân hàng trong nước phát hành. Trung tâm này là đầu mối xử lý các yêu cầu cấp phép thẻ, thanh toán, tra soát giao dịch thẻ của các NHTM Việt Nam, đảm bảo các loại thẻ thanh toán do các NHTM khác nhau phát hành có thể thanh toán ở bất cứ cơ sở nào của các thành viên trong hệ thống.

Khuyến khích các ngân hàng không ngại đầu tư mở rộng dịch vụ thanh toán trong khu vực dân cư. Có chính sách trợ giúp các NHTM trong việc phát triển dịch vụ thẻ

Chính sách quản lý ngoại hối hiện nay đã có quy định về đồng tiền thanh toán thẻ tại các cơ sở chấp nhận thẻ nhưng chưa có phần đề cập đến hạn mức thanh toán và tín dụng của thẻ do các NHTM trong nước phát hành. Chính sách quản lý ngoại hối cần phải có những quy định riêng cho các loại thẻ, nhất là thẻ tín dụng quốc tế nhằm mục đích vừa quản lý tốt việc sử dụng thẻ của khách hàng, tránh việc lợi dụng thẻ để chuyển ngoại tệ ra nước ngoài nhưng vừa phải tạo điều kiện trong việc phát hành thẻ của các NHTM và sử dụng thẻ của khách hàng không bị hạn chế ở một mức độ nào đó.

Chính sách tín dụng cũng cần phải có những quy định riêng cho tín dụng thẻ- một loại hình tín dụng mới nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng tự chịu trách nhiệm về thẩm định đảm bảo tín dụng đối với các khoản vay thông thường, có thẻ nới rộng hơn. lãi suất cho vay tín dụng thẻ cũng nên đựơc quy định đặc biệt. Hầu hết các nước trên thế giới cũng như trong khu vực đều quy định lãi suất tín dụng thẻ cao hơn hẳn lãi suất đối với những khoản tín dụng thông thường nhằm bù đắp cho ngân hàng các ưu đãi khách hàng được hưởng khi khách hàng sử dụng thẻ trả đúng hạn và tăng cường trách nhiệm trong việc sử dụng, thanh toán sao kê của khách hàng

Thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo, hội thảo về thẻ cho các NHTM cùng tham gia; giới thiệu và giúp các NHTM thu thập các thông tin, tài liệu cơ bản và chuyên sâu về nghiệp vụ thẻ. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Có biện pháp sử phạt nghiêm khắc với những vi phạm quy chế hoạt động thẻ nhằm tạo sự cạnh tranh lành mạnh góp phần thúc đẩy thị trường thẻ Việt Nam phát triển.

3.3. Đối với Hội các ngân hàng thanh toán thẻ.

Hội các ngân hàng thanh toán thẻ phải là nòng cốt đi đầu trong việc cải tiến hình thức, phương thức hoạt động. Thời gian vừa qua, Hội đã thường xuyên làm việc với NHNN và duy trì mối quan hệ tốt chặt chẽ đối với các tổ chức thẻ quốc tế nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển nghiệp vụ thẻ ở Việt Nam. Hội đã thống nhất một mức phí thanh toán tối thiểu và việc áp dụng thuế giá trị gia tăng được áp dụng cho các cơ sở chấp nhận thẻ ở Việt Nam nhằm mục đích đảm bảo lợi nhuận cho các ngân hàng, đảm bảo cho thị trường thẻ cạnh tranh lành mạnh. Trong thời gian qua Hội cũng đã có nhiều kiến nghị với NHNN về việc xây dựng một cơ chế chung, một môi trường pháp lý chặt chẽ, ổn định nhưng phù hợp, giúp các ngân hàng an tâm hơn, mạnh dạn hơn trong hoạt động dịch vụ thẻ. Hội cũng đã nghiên cứu tình hình khó khăn, thuận lợi cũng như vướng mắc của các ngân hàng trong Hội về phát hành và thanh toán thẻ để cùng nhau đề ra các giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, Hội cũng cần phải hoạt động mạnh mẽ và có hiệu quả hơn nữa, có những thoả thuận nghiêm khắc về chế tài, đóng góp tích cực hơn cho sự nghiệp phát triển dịch vụ thẻ trên thị trường Việt Nam và để thực hiện được tiêu chí của Hội là”. Diễn đàn hợp tác và trao đổi kinh nghiệm của các ngân hàng thanh toán thẻ Việt Nam”.


KIÊN NGHỊ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH THANH TOÁN THẺ NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH THĂNG LON

3.1. Định hướng phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long

Là Chi nhánh cấp I của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Thăng Long luôn ý thức được cần phải phát triển mạnh mẽ hoạt động thanh toán thẻ .Điều này được thể hiện trên các mặt:

3.1.1. Đối với nghiệp vụ phát hành thẻ

Nhiệm vụ trọng tâm của ngân hàng là tập trung nỗ lực để đẩy mạnh công tác phát hành thẻ, phối hợp phòng thẻ với các phòng ban khác như phòng tín dụng, phòng hối đoái, nhằm tạo nên sự nhịp nhàng trong phát hành thẻ, nhằm cải tiến cả về chất lượng và số lượng của hoạt động này.

Nhằm giới thiệu rộng rãi hình thức thanh toán tiên tiến này, các chương trình tiếp thị, quảng cáo, khuyến mại lớn cần được xúc tiến cả về chiều rộng và chiều sâu.

Bên cạnh việc củng cố các sản phẩm hiện có, việc đưa ra các sản phẩm mới cũng là điều kiện tiên quyết để chiếm lĩnh thị trường đầy tiềm năng này.

  •     – Tiếp tục triển khai và phát triển hơn nữa hệ thống ATM toàn quốc, đưa hệ thống ATM vào cuộc sống. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )
  •     – Nghiên cứu phát hành thẻ ghi nợ, cho phép khách hàng chi tiêu trên số dư tài khoản của mình mà không chịu lãi suất tín dụng, ngoài ra khách hàng còn được hưởng lãi trên số dư tài khoản của mình.
  •      – Phát hành thẻ liên kết (Co-branch) với các tổ chức, công ty trong nước như: hàng các đơn vị có mối quan hệ làm ăn thường xuyên, lâu dài.
  •     – Phát hành thẻ công ty (Corperate/Business card). Đây là loại thẻ phát hành theo yêu cầu của các công ty cho nhân viên của công ty. Việc chi tiêu thẻ sẽ do công ty thanh toán.

Để thực hiện điều này, ngân hàng cũng sẽ đưa ra những điều kiện phát hành thẻ mang tính khuyến khích đối với khách hàng trên cơ sở vẫn đảm bảo an toàn cho ngân hàng.

3.1.2. Đối với nghiệp vụ thanh toán thẻ

Đảm bảo cho các phần mềm quản lý và xử lý cấp phép, thanh toán hoạt động ổn định, tăng cường phối hợp với bưu điện và các đối tác nước ngoài có liên quan nhằm khắc phục các lỗi hệ thống.

Đầu tư vào chiến lược Marketing để mở rộng thị trường sử dụng và thanh toán thẻ dưới các hình thức: tăng chi phí cho Marketing để nghiên cứu phát triển loại thẻ mới, khuyến mại cho khách hàng sử dụng thẻ, tranh thủ kinh nghiệm và nguồn lực của các đối tác nước ngoài.

Duy trì và phát triển các cơ sở chấp nhận thẻ (CSCNT) song song với việc tự động hóa và nâng cao chất lượng phục vụ thanh toán thẻ tại các cơ sở này. Hợp tác với các ngân hàng chưa thanh toán thẻ để mở rộng mạng lưới CSCNT. Giảm phí cho các CSCNT có doanh số thanh toán lớn và ổn định, trang bị thêm một số máy EDC, CAT cho các CSCNT.

3.1.3. Về tổ chức, con người

Tổ chức tập huấn trong và ngoài nước cho đội ngũ cán bộ nhân viên để đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của sự thay đổi công nghệ thẻ trên thế giới.

Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, khen thưởng cho anh chị em nhân viên nhằm tạo lập mối quan hệ tốt trong đội ngũ nhân viên để có thể giúp đỡ và trao dồi kinh nghiệm nghề nghiệp với nhau. Đồng thời tạo sự gắn kết giữa nhân viên với Ngân hàng, giúp cho nhân viên luôn có tinh thần trách nhiệm, cống hiến và phấn trấn khi làm việc để đem lại kết quả tốt nhất.

3.1.4. Về công nghệ, kỹ thuật

Đầu tư thêm một số máy móc hiện đại kết hợp với nâng cấp và hoàn thiện tiếp hệ thống máy móc hiện có. Dần dần đồng bộ hóa hệ thống mày móc kỹ thuật dùng trong lĩnh vực thẻ. Định kỳ mời chuyên gia nước ngoài sang bảo dưỡng các thiết bị phục vụ phát hành và thanh toán thẻ. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Xem thêm: Lời kết luận hoạt động phát hành, thanh toán thẻ tại ngân hàng

3.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH THĂNG LONG TRONG THỜI GIAN TỚI

3.2.1. Giải pháp về kỹ thuật công nghệ

Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hết sức hiện đại với sự trợ giúp của những công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới. Chính vì vậy đầu tư cho kỹ thuật công nghệ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển hoạt động thanh toán này, đây cũng là chiến lược nhằm đem lại hiệu quả cao. Trình độ công nghệ là yếu tố quyết định chất lượng của dịch vụ thanh toán thẻ và là nhân tố quan trọng trong việc cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác. Đây cũng là vũ khí để chống lại bọn tội phạm chuyên giả mạo thẻ. Ngân hàng cần lựa chọn những công nghệ hiện đại, những công nghệ đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới và phù hợp với ngân hàng để quản lý hệ thống thông tin, nâng cao chất lượng và số lượng của hoạt động thanh toán thẻ đồng thời có thể phát hiện và ngăn chặn những giả mạo thẻ của bọn tội phạm.

3.2.2. Giải pháp về con người

Kỹ thuật công nghệ phát triển nhưng không có đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn đủ đáp ứng thì cũng không thể thực hiện tốt nghiệp vụ kinh doanh thẻ được. Bên cạnh nâng cao trình độ chuyên môn, các nhân viên cũng cần được trang bị vốn ngoại ngữ thành thạo kết hợp với việc bổ sung kịp thời những cán bộ trẻ có năng lực và phẩm chất tốt làm nòng cốt cho tổ chức nhân sự của trung tâm thẻ VCBTL.

Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng là nâng cao trình độ nghiệp vụ thẻ của nhân viên CSCNT để đảm bảo an toàn và phòng chống rủi ro vì đây là đầu mối quan trọng trong toàn bộ quy trình thanh toán. Đội ngũ nhân viên của CSCNT có đặc điểm là thường xuyên thay đổi, các nhân viên mới khó có thể nắm bắt ngay các nghiệp vụ thanh toán thẻ nên việc phát hiện những giao dịch giả mạo là rất khó. Chính vì vậy, ngân hàng nên thường xuyên giám sát các CSCNT và tổ chức các khóa tập huấn về các kỹ năng nghiệp vụ thanh toán thẻ và cập nhật thường xuyên những thay đổi trong quá trình thanh toán thẻ.

3.2.3. Giải pháp về hoạt động Marketing

Sự tiến bộ của khoa học công nghệ khiến cho thị trường thẻ không có ranh giới về không gian và thời gian, vì vậy chiến lược Marketing của ngân hàng trong lĩnh vực này cũng cần có những thay đổi để thúc đẩy hoạt động này phát triển. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

Lựa chọn thị trường mục tiêu

Trong hoạt động kinh doanh của tất cả các ngành kinh doanh, việc lựa chọn thị trường mục tiêu đóng vai trò rất quan trọng. Khi xác định đúng khách hàng mục tiêu, người ta có thể đưa ra các đối sách kinh doanh phù hợp hơn nhằm phục vụ tốt hơn yêu cầu cảu nhóm khách hàng đã chọn và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Công tác phát hành và thanh toán thẻ tại VCB TL cũng là một trong những loại hình của ngân hàng và việc lựa chọn thị trường mục tiêu cũng hết sức quan trọng.

Tập trung vào bộ phận công nhân viên làm trong những ngành có thu nhập cao và ổn định như: dầu khí, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không… và các chủ doanh nghiệp tư nhân cũng dần chiếm số lượng lớn. Đây là những người có thu nhập khá và ổn định, có nhu cầu và có điều kiện thường xuyên đến các siêu thị, nghỉ lại khách sạn, đi máy bay, đi du lịch… Đây là nhóm khách hàng đầy tiềm năng và có xu hướng ngày càng tăng mà ngân hàng cần phải tập trung khai thác.

Một đối tượng khác cũng có nhu cầu sử dụng thẻ thực sự và khá đông đảo là người nước ngoài, bao gồm cả người cư trú và người đầu tư nước ngoài vào Việt Nam…, những người không cư trú bao gồm Vệt kiều về thăm tổ quốc, khách du lịch, thương gia nước ngoài đến làm việc ngắn ngày. Số lượng đối tượng này lên tới hơn 1 triệu người/năm. Mặc dù nhóm này thường sử dụng thẻ do nước ngoài phát hành xong nếu đẩy mạnh công tác quảng cáo, tiếp thị và gây dựng uy tín, đây sẽ là một đối tượng quan trọng mà ngân hàng cần quan tâm.

Đa dạng các hình thức thẻ, phù hợp với điều kiện Việt Nam

  • Cho đến thời điểm hiện tại, VCB TL đã phát hành 3 loại thẻ tín dụng quốc tế là VISA, MASTERCARD và AMEX đồng thời nhận thanh toán cho cả 6 loại thẻ hàng đầu thế giới: : Visa, Mastercard, JCB, American Express, Diners Club và China UnionPay. Như vậy có thể nói các dịch vụ về thẻ của ngân hàng là khá đa dạng. Chi nhánh cần nghiên cứu và tập trung phát hành các loại thẻ thanh toán nội địa, do một nhóm các ngân hàng trong nước liên kết phát hành, dùng chung cho các ngân hàng trong nhóm và chỉ dùng trong lãnh thổ Việt Nam.
  • Bên cạnh việc tập trung phát hành thẻ nội địa, ngân hàng cần cải tiến phương thức phát hành của hai loại thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng.Với hạn mức tín dụng cho thẻ là 10 triệu đồng dường như vượt quá xa nhu cầu chi tiêu hàng ngày của người dân. Nên có thể ngân hàng nên hạ thấp mức tối thiểu còn khoảng 3-4 triệu đồng. Với hạn mức tín dụng mới, nhiều khách hàng có thu nhập cao và vừa ở thành phố có thể tham gia sử dụng thẻ. Đồng thời, các thủ tục cấp, phát thẻ cũng trở nên dễ dàng hơn. Khách hàng chỉ cần có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có hộ khẩu thường trú tại điạ phương, có lý lịch tốt và có bảo lãnh của người thân là đủ. Điều này làm cho rủi ro của bản thân ngân hàng cũng giảm xuống và mở rộng phạm vi các giao dịch của chủ thẻ, tăng thêm tiện ích cho người sử dụng thẻ.

–   Ngân hàng cũng cần tăng cường việc triển khai phát hành thẻ liên kết giữa ngân hàng và các doanh nghiệp lớn như bưu điện, hàng không, taxi, các trung tâm thương

Đẩy mạnh công tác quảng cáo, giới thiệu dịch vụ thẻ

  • Để giúp cho khách hàng làm quen với khái niệm thẻ, ngân hàng cần đẩy mạnh quảng cáo, giới thiệu dịch vụ thẻ để đông đảo dân chúng biết đến lợi ích kinh tế và sự tiện lợi khi dùng thẻ thông qua các biện pháp khác nhau.
  • Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng là việc làm hết sức cần thiết, nó tác động mạnh mẽ vào nhận thức của mọi người, phá vỡ tâm lý ngần ngại của người dân trước những dịch vụ mới. Tuy nhiên để giảm bớt chi phí quảng cáo không phải là nhỏ, ngân hàng có thể quảng cáo chung với CSCNT. Với cách làm này, ngân hàng vừa có thể quảng cáo cho dịch vụ của mình vừa giới thiệu các CSCNT và có thể giảm chi phí quảng cáo cho cả hai bên. Ngân hàng cũng cần kết hợp với việc tổ chức các buổi giới thiệu về thẻ cho các doanh nghiệp, công sở nơi nhân viên có thu nhập cao và ổn định, đồng thời có các chương trình khuyến mại và chăm sóc khách hàng. Ngân hàng cũng nên tổ chức một đội ngũ những nhân viên có khả năng thuyết phục cao và trình độ chuyên môn tốt để tổ chức hội nghị khách hàng giới thiệu về thẻ hay các buổi tư vấn về thẻ trên phạm vi toàn thành phố.

Đẩy mạnh công tác phân phối và khuyến khích việc mở tài khoản cá nhân tại ngân hàng

  • Ngân hàng cần thiết lập mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch và tạo ra nhiều kênh phân phối để sản phẩm đến được với khách hàng thuận tiện, hợp lý và thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.
  • Vì vậy, ngân hàng cần có những biện pháp khuyến khích để tăng số lượng tài khoản cá nhân tại ngân hàng như: khách hàng không phải nộp lệ phí khi thực hiện các nghiệp vụ thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, hưởng lãi suất không kì hạn cho các khoản dư nợ trên tài khoản, ngân hàng có những hình thức khuyến mãi cụ thể như gửi quà lưu niệm đối với các khách hàng thường xuyên giao dịch và có số dư bình quân trên tài khoản tiền gửi ổn định vào những ngày lễ hoặc bốc thăm may mắn dành cho các khách hàng mở tài khoản trong một khoản thời gian nhất định. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

3.2.4. Giải pháp nhằm mở rộng mạng lưới cơ sở chấp nhận thẻ

VCB TL cần phải tăng nhanh mạng lưới CSCNT vì đây là một chủ thể quan trọng trong quy trình thanh toán thẻ. Số lượng CSCNT là cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhằm đẩy mạnh doanh số thanh toán cũng như số thẻ phát hành.

Do thẻ được sử dụng chưa phổ biến tại Việt Nam nên các CSCNT chưa thấy được những lợi ích có thể nhận được từ việc thanh toán thẻ. Hiện nay, vì các máy đọc thẻ được lắp đạt miễn phí tại các CSCNT nên chi phí của ngân hàng khá cao nếu đầu tư phát triển rộng mạng lưới CSCNT trong khi đó các CSCNT lại không có ý thức bảo quản máy. Để mở rộng các CSCNT, điều quan trọng là ngân hàng phải làm cho các CSCNT cần đến ngân hàng. Ngân hàng nên dành cho các cơ sở này những ưu đãi trong hoạt động giao dịch với ngân hàng như trong các hoạt động cho vay, thanh toán… Khi thấy rằng những ưu đãi này đem lại những hiệu quả thiết thực cho các CSCNT, các cơ sở khác cũng sẽ tự nguyện muốn tham gia vào mạng lưới này. Đối với những CSCNT mới, ngân hàng vẫn tiếp tục tiến hành trang bị cho họ máy đọc thẻ nhưng không trang bị miễn phí nữa. Ngân hàng nên yêu cầu các cơ sở này đóng góp một phần kinh phí nhất định hoặc chỉ cho họ sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó cho họ thuê hoặc mua lại. Khi phải bỏ tiền ra để đầu tư dưới hình thức này, các CSCNT sẽ có ý thức hơn trong việc giữ gìn và bảo quản các máy móc và thúc đẩy tăng doanh số theo hình thức này để bù đắp khoản vốn đã bỏ ra. Tuy nhiên, ngay cả khi các CSCNT đã mua lại các máy móc này, định kì ngân hàng vẫn nên cử người xuống các cơ sở kiểm tra và bảo dưỡng máy, sữa chữa kịp thời những hỏng hóc để tăng tuổi thọ và tạo điều kiện cho việc thanh toán tại các cơ sở được trôi chảy và thuận tiện.

Mặt khác, những khoản chi tiêu cho vô số nhu cầu cần thiết như: điện, nước, xăng, dầu, điện thoại… Nếu những chi phí trả cho các dịch vụ này đều được trả bằng thẻ thông qua hợp đồng với công ty cung cấp các dịch vụ trên thì số lượng thẻ phát hành và doanh số thẻ của ngân hàng sẽ tăng thêm rất nhiều. Ngân hàng có thể thỏa thuận với các công ty, cơ quan để chính những đơn vị này bảo lãnh phát hành thẻ cho nhân viên của mình.

3.2.5. Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán thẻ

Hiện nay, rủi ro trong thanh toán thẻ tại VCB TL là khá thấp bởi ngân hàng đã có những biện phát nhất định để đảm bảo. Tuy nhiên, với trình độ công nghệ còn thấp và khả năng trong lĩnh vực thẻ chưa cao thì nguy cơ xảy ra rủi ro trong hoạt động này tại ngân hàng cũng không phải là nhỏ. Vì vậy, ngân hàng cũng cần xây dựng chiến lược quản lý rủi ro trong mọi nghiệp vụ mới có thể đảm bảo an toàn cho hoạt động này.

Các biện pháp hàng đầu là thực hiện phát triển và đào tạo đội ngũ nhân viên có trình độ cao, kịp thời phát hiện những sai sót hay lừa đảo. Ngoài ra, để ngăn chặn tình trạng chuyển nhượng thẻ và việc sử dụng thẻ ăn cắp của người khác, ngân hàng nên áp dụng hình thức in hình của chủ thẻ lên bề mặt thẻ với các loại thẻ (hình thức này mới được áp dụng với thẻ VISA). Điều này tạo sự thuận lợi cho các CSCNT trong việc kiểm tra thẻ và tránh tình trạng lừa đảo. Để hạn chế tình trạng chủ thẻ sử dụng thẻ thanh toán cho các giao dịch có giá trị nhỏ hơn hạn mức nhưng lại có tổng giá trị thanh toán trong ngày lớn hơn hạn mức trong một ngày, VCB TL phải liên hệ với các nhân viên thanh toán thẻ tại VCB VN để xin cấp phép cho toàn bộ giao dịch bằng hệ thống POS terminal.

Thêm vào đó, khi cấp thẻ cho khách hàng, ngân hàng nên hướng dẫn họ cách sử dụng cũng như cách bảo quản, bảo mật thẻ, thủ tục liên hệ với khách hàng khi xảy ra mất cắp, thất lạc hay khi có thay đổi về địa chỉ liên hệ. ( Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành thanh toán thẻ ngân hàng )

DOWNLOAD

Xem thêm: ==> Giá viết thuê báo cáo thực tập 

Lời kết: Trên đây Thuctaptotnghiep đã chọn lọc cho các bạn Kiến nghị – Giải pháp hoạt động phát hành, thanh toán thẻ tại ngân hàng từ những bài đạt điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài. Hy vọng với bài viết này có thể giúp cho các bạn có thêm tài liệu tham khảo để hoàn thành thật tốt bài luận của mình. Ngoài ra, trong quá trình làm bài các bạn gặp khó khăn trong vấn đề thiếu tài liệu hoặc không có thời gian viết bài luận cần thuê người viết, các bạn liên hệ qua zalo: 0934.536.149 để được hỗ trợ làm tốt bài luận của mình nhé.

Chúc các bạn hoàn thành thật tốt bài báo cáo thực tập của mình!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *