KIẾN NGHỊ – GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG

Ngân hàng

Dưới đây Thuctaptotnghiep chia sẻ cho các bạn về Kiến nghị – Giải Pháp nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng chọn lọc từ các bài điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài báo cáo thực tập kế toán. Các bạn tham khảo các mẫu dưới đây để hoàn thành thật tốt bài làm của mình nha.

Lưu ý: Trong quá trình làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp, nếu các bạn gặp khó khăn về đề tài hay chưa có công ty thực tập các bạn có thể liên hệ với dịch vụ làm báo cáo thực tập trọn gói qua:

SĐT  / Zalo: https://zalo.me/0934536149

MỤC LỤC

1. KIẾN NGHỊ – GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG

3.1. Định hướng nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

3.1.1. Định hướng phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam trong thời gian tới

Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam luôn coi việc xác định chiến lược phát triển của ngân hàng có ý nghĩa quyết định với việc đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh. Ngân hàng cũng nhận thức được rằng rủi ro là điều rất khó lường trước nó không chỉ ảnh hưởng tới uy tín và sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường tài chính mà còn ảnh hưởng tới thu nhập và khả năng thanh toán của ngân hàng.

Rủi ro xảy ra với ngân hàng có thể là do nhiều nguyên nhân: Có thể là những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn… làm cho người đi vay mất khả năng trả nợ ngân hàng. Nhưng đó cũng có thể do người vay cố tình quỵt nợ không trả ngân hàng hoặc do trình độ cán bộ ngân hàng còn hạn chế dẫn đến việc phân tích khách hàng chưa đầy đủ, thẩm định dự án thiếu chính xác… Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến những rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng nhưng dù là nguyên nhân gì thì nó đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi vốn và tình hình tài chính của ngân hàng. Chính vì vậy mục tiêu hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam trong thời gian tới là đặt hoạt động tín dụng an toàn – hiệu quả kên hàng đầu. Và để có thể nâng cao chất lượng tín dụng bên cạnh việc tiếp tục khai thác, lựa chọn những khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh Ngân hàng cũng đưa ra những giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng thẩm định cho vay dự án.

Phương hướng hoạt động của ngân hàng ngoại thương trong thời gian tới là sẽ triển khai thêm những sản phẩm mới về huy động vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh bằng lãi suất và các chính sách Marketing đối với khách hàng. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, Lạm phát 3 tháng đầu năm đã lên tới 9% vì vậy việc thực hiện các chính sách huy động vốn với ngân hàng sẽ là một trong những vấn đề hết sức khó khăn và cần thiết.

 Một số định hướng hoạt động tín dụng của Ngân hàng ngoại thương thời gian tới

  • Tăng cường tiếp cận với các đơn vị hoạt động sản xuất trực tiếp, các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩu, các đơn vị xây dựng… Rà soát, đánh giá lại những đơn vị kinh doanh có hiệu quả, ổn định để tăng tối đa dư nợ với những đơn vị này mà vẫn đảm bảo hạn chế rủi ro đồng thời hạn chế mức tín dụng dư nợ với các đơn vị có nợ vay quá hạn, kinh doanh không hiệu quả hoặc có hiệu quả thấp. Tích cực tìm kiếm các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tình hình tài chính tốt kinh doanh hiệu quả để đầu tư vốn lưu động và đầu tư dự án. Tăng cường cho vay với các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩu và tăng cường nguồn thu ngoại tệ cho Ngân hàng bằng nguồn vay ứng trước. Đặc biệt ngân hàng chú trọng, cung cấp những dịch vụ, tiện ích tốt nhất cho những khách hàng có mức dư nợ cao và có khả năng tài chính như Công ty xăng dầu quân đội, Công ty cổ phần FPT…
  • Tăng cường mối quan hệ với các Ngân hàng khác để cho vay đồng tài trợ với các dự án tốt, khả thi. Đồng thời Ngân hàng cũng tăng cường triển khai các biện pháp Marketing giới thiệu hình ảnh của ngân hàng (những dịch vụ, sản phẩm Ngân hàng có lợi thế) với khách hàng. phát huy phong cách chuyên nghiệp trong việc phục vụ khách hàng để có thể tăng dư nợ mà vẫn đảm bảo an toàn – hiệu quả. Để thực hiện được điều này trong thời gian tới Ngân hàng phải tăng cường thực hiện các biện pháp đảm bảo tiền vay đối với khách hàng đặc biệt quan tâm tới những doanh nghiệp nhà nước, các công ty mới được cổ phần hóa và cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn hiệu quả.
  • Xây dựng các chuẩn mực đánh giá, cho điểm, phân loại khách hàng tốt hơn trong tình hình thực tế hiện nay. Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng và tích cực tiếp cận khách hàng để nắm bắt các thông tin tình hình hoạt động của khách hàng. Đẩy mạnh mối liên kết giữa doanh nghiệp và Ngân hàng đồng thời đưa ra các kiến nghị đề xuất để tăng dư nợ và hạn chế rủi ro.
  • Phối hợp tốt giữa các phòng đặc biệt là phòng QHKH và phòng ĐTDA. Phối hợp linh hoạt, phân định rõ trách nhiệm, chức năng và nhiệm vụ từng phòng nhằm hạn chế rủi ro đồng thời đẩy nhanh thời gian quyết định cho vay khắc phục tính chậm trễ do phải trải qua nhiều khâu nhiều bộ phận làm mất cơ hội đầu tư của khách hàng.
  • Trong thời gian tới ngân hàng vẫn sẽ tiếp tục dành sự quan tâm sâu sắc đến những dự án dệt may. Đây là những dự án có vốn đầu tư lớn và thời gian vay vốn dài nên sẽ mang lại cho ngân hàng khoản dư nợ ổn định.

Với tốc độ tăng trưởng khoảng 21%/năm, dự kiến NHTMCP NTVN sẽ có qui mô tổng tài sản đạt khoảng 357.000 tỷ VND(tương đương 22 tỷ USD) vào năm 2010 trong đó vốn chủ sở hữu dự kiến đạt 27.424 tỷ VND chiếm khoảng 7,7%. Lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 4290 tỷ VND trong đó sẽ dành ra khoảng 1716 tỷ VND để chi trả cổ tức. Giữ vững mức hệ số an toàn vốn là 12%. Số lao động dự kiến năm 2010 sẽ tăng lên và đạt khoảng 9500 người với thu nhập bình quân mỗi người vào khoảng 12,5 triệu VNĐ.

NHTMCP NTVN cũng Phấn đấu đạt, duy trì một số chỉ tiêu cơ bản đến năm 2015 như sau:

»    Vốn chủ sở hữu đạt mức từ 2,5 – 3 tỷ USD;

»    Tổng tài sản tăng trung bình 18%-20%/năm;

»    Phấn đấu năm 2015, tổng tài sản đạt 30 – 40 tỷ USD;

»    Tỷ lệ trung bình hàng năm ROE là trên 15%;

»    Tỷ lệ trung bình hàng năm ROA là 1,2%;

3.1.2. Định hướng hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

♦ Định hướng hoạt động tín dụng trung và dài  hạn của Ngân hàng của Ngân hàng Ngoại thương những năm tới

Những năm tới là những năm có ý nghĩa hết sức quan trọng đến sự phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương. Trong những năm đó, Ngân hàng Ngoại thướng tiến hành tiến hành thực hiện chương trình tái cơ cấu, chuyển đổi sang mô hình cổ phần hóa, nhằm khắc phục các yếu kém trước đây và chuẩn bị đủ điều kiện cho việc phát triển một ngân hàng hiện đại mang tầm quốc tế trong môi trường hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

   Với 02 pháp lệnh Ngân hàng được ban hành, Ngân hàng Ngoại thương từ vai trò độc quyền về kinh doanh ngoại hối chuyển vào môi trường tự do cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác bao gồm cả các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh.

Hiện nay, ở Việt Nam, kinh doanh tín dụng là loại hình nghiệp vụ đem lại nguồn thu nhập cao nhất cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng có an toàn, hiệu quả mới được bảo toàn được vốn, đảm bảo cho ngân hàng ổn định và phát triển. Vì vậy, mục tiêu của chiến lược sử dụng vốn của Ngân hàng Ngoại thương là Tăng trưởng – An toàn – Hiệu quả.

Xu hướng chuyển sang đầu tư dự án, mở rộng sản xuất thay vì đơn thuần kinh doanh thương mại tiếp tục phổ biến, tạo điều kiện thuận lợi để Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho vay trung và dài hạn, tạo ra những thách thức trong quản trị thanh khoản. Cần đa dạng hóa các loại hình cho vay, bên cạnh nhóm khách hàng truyền thống là các Tổng Công ty Nhà nước lớn, tiếp tục phát triển nhóm khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ SME, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI, thể nhân…góp phần thay đổi cơ cấu khách hàng theo hướng an toàn hơn.

Cân đối khả năng huy động vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn để tăng trưởng tín dụng một cách phù hợp, đạt hiệu quả cao. Các thông tin cho thấy, nhu cầu của thị trường về vốn vay, đặc biệt là vốn vay trung và dài hạn là rất lớn. 

Tốc độ tăng trưởng tín dụng phải phù hợp với tăng trưởng vốn huy động thực tế, mục tiêu tín dụng đề ra từ đầu năm và khẳ năng kiểm soát chất lượng tín dụng; đảm bảo vốn khả dụng cho nhu cầu thanh toán, an toàn hoạt động kinh doanh.

Tăng cường hiệu lực kiểm tra, kiểm soát. Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ được tăng cường hơn nữa nhằm kịp thời phát hiện các dấu hiệu rủi ro để phòng tránh. Để làm tốt việc này, hiệu quả hoạt động của Tổ kiểm tra nội bộ tại các chi nhánh cần được tăng cường. Các phòng ban liên quan tại Hội sở chính (Kiểm tra nội bộ, Quản lý tín dụng, Công nợ…) cân phối kết hợp, thống nhất xây dựng chương trình kiểm tra hoạt động tín dụng tại các chi nhánh thường xuyên. Thành viên đoàn kiểm soát là những người am hiểu và có kinh nghiệm làm tín dụng.

Duy trì và phát huy các biện pháp huy động vốn hữu hiệu, có khả năng cạnh tranh cao, thu hút vốn nhàn rỗi của dân cư và doanh nghiệp, củng cố uy tín trong nước và quốc tế, tranh thủ tiếp cận các nguồn vốn ủy thác.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động vốn từ thị trường trong nước. Tích cực sử ly nợ tồn đọng để tăng khả năng đáp ứng kịp thời các nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, trên cơ sở đảm bảo an toàn và hiệu quả tín dụng.

Hoạt động tín dụng đảm bảo tăng trưởng – tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với tăng trưởng và nhu cầu vốn của nền kinh tế, an toàn – tập trung vào các dự án hiệu quả, bảo vệ nguồn vốn và hiệu quả – không chỉ hiệu quả kinh tế của ngân hàng mà hiệu quả kinh tế xã hội.

Do có thế mạnh về nguồn vốn Ngân hàng Ngoại thương có điều kiện thuận lợi mở rộng đối tượng cho vay. Ngân hàng chủ trương dành lượng vốn lớn để cấp tín dụng cho vác doanh nghiệp Nhà nước, các Tổng công ty, các dự án lớn và trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Mở rộng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng. Có các giải pháp về khai tác tài sản xiết nợ, xử lý nợ khó đòi…nhằm thu hồi vốn về cho ngân hàng.

Để thực hiện những định hướng mở rộng với phương châm tăng trưởng, an toàn, hiệu quả, và chú trọng tới các dự án lớn nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn, cần có những giải pháp đúng đắn, kịp thời và phù hợp.

            ♦ Các mục tiêu của chiến lược tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP Ngoại thương đến năm 2010 bao gồm:

  • Đa dạng hóa hoạt động trên nguyên tắc phát huy lợi thế kinh doanh trên lĩnh vực bán buôn, trong đó chú trọng mở rộng khách hàng doanh nghiệp  nhỏ và vừa, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hệ thống bán lẻ.
  • Đa dạng hóa mặt hàng và lĩnh vực đầu tư theo hướng không tập trung quá lớn vào lĩnh vực thương mại và một số ngành như điện, than, dầu khí.
  • Gắn liền tăng trưởng tín dụng với kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng.
  • Phát triển thêm nhiều sản phẩm cho vay trung và dài hạn mới.
  • Tốc độ tăng trưởng tín dụng trung và dài hạn trung bình đạt 30%/năm.
  • Kiểm soát tốt nợ quá hạn dưới mức 2%/năm.

3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

3.2.1. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư

Hiện nay ở Việt Nam, kinh doanh tín dụng nói chung và tín dụng trung và dài hạn nói riêng là loại hình nghiệp vụ đem lại nguồn thu nhập cao nhất cho ngân hàng. Để hoạt động tín dụng có chất lượng và hiệu quả nhất thì công tác thẩm định dự án đầu tư là nhân tố quyết định nhất. Do đó, thẩm định đầu tư dự án có vai trò rất quan trọng, đòi hỏi các NHTM Việt Nam nói chung và NHNT nói riêng là phải nhanh chóng hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác thẩm định. Có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu của chiến lược sử dụng vốn của Ngân hàng Ngoại thương là Tăng trưởng_An toàn_ Hiệu quả.

Theo nội dung văn bản “Hướng dẫn thẩm định dự án đầu tư trung dài hạn” của phòng Đầu tư dự án NHNTTW ban hành, các nội dung thẩm định đã được trình bày khá rõ ràng, trình tự và đầy đủ. Tuân thủ theo đúng quy trình đó, sẽ có được kết quả thẩm định chính xác và chặt chẽ phục vụ cho việc ra quyết định của ngân hàng. Tuy nhiên một số nội dung cần được sửa đổi theo hướng hoàn thiện, nhất là một số nội dung thẩm định trên phương diện tài chính.

  • Tổng chi phí đầu tư và nguồn vốn

Ngân hàng cần quan tâm tới tính chính xác, và quy định cụ thể những nội dung trong tổng tổng vốn đầu tư của một dự án. Hiện nay theo như tài liệu, NHNT đã phân chia tổng vốn đầu tư theo các tiêu thức: Vốn xây lắp, vốn thiết bị, vốn lưu động nhưng nên chăng có thêm một số tiêu thức khác như: Vốn đầu tư dự phòng, vốn đầu tư bù đắp chi phí khác…Vì theo đánh giá của cán bộ thẩm định hiện nay, tổng vốn đầu tư cho dự án khi trình lên thường có xu hướng thấp hơn tổng vốn thực tế khi dự án đi vào hoạt động. Lý do khi dự án đi vào hoạt động phát sinh nhiều hạng mục chi phí mới, hoặc chủ đầu tư tự ý giảm tổng vốn đầu tư để dễ nhận được sự chấp thuận của ngân hàng hơn. Do vậy để dự đoán chính xác tổng vốn đầu tư cũng như thuận lợi cho công tác hạch toán, ngân hàng không nên dựa vào hồ sơ chủ dự án trình lên mà cần tham khảo thông tin từ những dự án trong lĩnh vực tương tự đã và đang đi vào hoạt động. Ngoài ra, các dự án thường hoạt động trong nhiều năm, ngân hàng cần phân tích sự biến động của các nhân tố tác động tới tổng vốn đầu tư như lạm phát, giá bán,…để có những quyết định, phương án dự phòng xử lý kịp thời.

Công tác thẩm định của ngân hàng phải được tiến hành độc lập, không nên chỉ dựa vào những tính toán do chủ đầu tư trình lên, tránh tình trạng tính thiếu hay tính thừa vốn đầu tư. Ngoài ra cần bổ sung thêm những khoản chi phí mà chủ đầu tư thường không tính đến hoặc bổ sung thêm những chi phí dự trù phát sinh làm tăng chi phí như: lãi vay trong thời gian thi công (chưa có sản phẩm, chưa thu được lợi nhuận), chi phí cho việc chuẩn bị hồ sơ dự án, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng. Nhất là chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, nếu không tính chính xác sẽ dẫn đến dự án không thể đi vào hoạt động theo đúng tiến độ, khấu hao máy móc tăng cao.

  • Xác định cơ cấu doanh thu, chi phí, luồng tiền của dự án.

Sự phù hợp của kết quả dự toán doanh thu, chi phí với kết quả thực tế khi dự án đi vào hoạt động phụ thuộc nhiều vào việc phân tích thị trường đầu vào, đầu ra và các nhân tố ảnh hưởng. Khi thẩm định, ngân hàng cần đưa ra những mô hình phân tích khoa học, khách quan về cung cầu hiện tại cũng như trong tương lai, nguồn cung cấp nguyên liệu và khả năng tiêu thụ của sản phẩm, so sánh sản phẩm với các sản phẩm tương tự cạnh tranh trên thị trường, tất cả đều phải được lượng hoá cụ thể chứ không chỉ dựa vào cảm tính và công suất thiết kế của máy móc. Tất nhiên ngân hàng sẽ không đi làm công việc của một hãng Marketing, mà ngân hàng sẽ xem xét vấn đề trên góc độ của người cho vay.

Về chi phí sản xuất, các loại chi phí như chi phí quản lý doanh nghiệp, lãi suất vay vốn lưu động ngân hàng không nên chấp nhận cách tính toán của chủ đầu tư một cách thụ động. Vì đây là những chi phí không được quy định rõ ràng việc tính toán không đủ thông tin nên ngân hàng cần so sánh với các chỉ tiêu của các dự án tương tự (dự án mới) và tham khảo chỉ tiêu cũ những năm trước

  • Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính

Hiện nay, lý thuyết cũng như thực tiễn để đánh giá tính khả thi về mặt tài chính một dự án đầu tư người ta thường sử dụng 4 phương pháp: phương pháp giá trị hiện tại ròng (NPV), phương pháp tỷ suất nội hoàn (IRR), thời gian hoàn vốn (PP), chỉ số doanh lợi (PI). Đây là các chỉ tiêu khá quan trọng, giúp cán bộ thẩm định có thể đưa ra những đánh giá khái quát về chất lượng công tác thẩm định. Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp đánh giá này không nên cứng nhắc, nguyên tắc mà đòi hỏi ngân hàng phải vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với khả năng, điều kiện của mình và trong từng dự án cụ thể, có thể thêm một số chỉ tiêu như MIRR, BCR để việc phân tích được chặt chẽ và toàn diện hơn

Xem thêm: Lời mở đầu nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng

  • Về thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước.

Đối với những chủ đầu tư là doanh nghiệp nhà nước (chiếm đa số trong lượng khách hàng vay trung và dài hạn của ngân hàng), họ phải nộp một khoản là thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước, khoản này được trích sau khi tính lợi nhuận sau thuế. Vì vậy, khi tính CF (dòng tiền qua từng năm), ngân hàng cần quan tâm tới điều này.

  • Về thời gian hoạt động

Tính toán các chỉ tiêu liên quan tới giá trị thời gian của tiền thì phải căn cứ vào các dòng tiền phát sinh trong suốt cuộc đời dự án, không nên chỉ xem xét trong thời gian vay nợ như hiện nay. Với dự án không xác định được rõ thời gian hoạt động thì ngân hàng có thể lấy thời gian khấu hao thiết bị để tính toán.

  • Việc phân tích tài chính dự án qua các năm hoạt động

Ngân hàng cần yêu cầu chủ dự án lập các báo cáo tài chính tạm thời của các năm trong thời hạn vay của dự án đặc biệt là báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng cân đồi kế toán làm cơ sở xem xét tính hợp lý của kế hoạch chuẩn bị ngân quỹ, khả năng trả nợ , phân tích các chỉ số về khả năng thanh toán vốn..đánh giá mức độ rủi ro của khoản cho vay. Trong phân tích tài chính dự án năm, ngân hàng có thể sử dụng phương pháp tỷ lệ với một số chỉ tiêu chính như sau: khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh, vốn lưu động ròng, hệ số nợ, ROA, ROE.

Ngoài phân tích tỷ lệ, ngân hàng có thể sử dụng phương pháp phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, phương pháp phân tích tiền mặt..để đánh giá tài chính dự  án năm

  • Phân tích rủi ro

Các phương pháp thẩm định hiện đại không chỉ phân tích dự án trong trạng thái tĩnh mà còn phân tích chúng trong trạng thái động. Như vậy, ngân hàng có thể đánh giá được mối tương quan giữa rủi ro và lợi ích của dự án. Mối tương quan hợp lý thì dự án sẽ được chấp nhận đồng thời ngân hàng có thể đề xuất các biện pháp quản lý, hạn chế rủi ro để đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng mà vẫn không bỏ qua các cơ hội cho vay tốt.

Hai phương pháp mà ngân hàng có thể sử dụng phổ biến trước mắt là: phân tích độ nhạy và phân tích trường hợp. Phân tích mô phỏng tuy có độ chính xác cao nhưng phải có cơ sở dữ liệu phong phú, phải xác định được xác suất xảy ra và có phương tiện kỹ thuật hiện đại, áp dụng phương pháp này là chưa thực tế ở Việt Nam

  • Phân tích độ nhạy

Có thể mở rộng bằng cách kết hợp một số yếu tố đầu vào cùng một lúc cũng như chi tiết hơn các yếu tố biến động vì thực tế ít khi chỉ có một nhân tố biến động. Từ đó ngân hàng cót hể xác định chỉ số nhạy cảm hoặc vẽ đồ thị cho thấy độ co dãn của chỉ tiêu tài chính theo các biến đầu vào

  • Phân tích tình huống

Ngân hàng có thể yêu cầu chủ đầu tư đưa ra những phương án tốt nhất cho dự án (công suất, giá bán đạt cao nhất, vốn đầu tư thấp..) và phương án xấu nhất của dự án (công suất thấp, giá bán thấp, vốn đầu tư lớn…),xác suất xảy ra từng phương án và sau đó so sánh với trường hợp đã được dự tính trong dự án để đánh giá mức độ rủi ro lớn nhất hoặc thấp nhất của dự án.

3.2.2. Xây dựng chiến lược Marketting Ngân hàng

            Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh là găy gắt giữa các ngân hàng thương mại đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần. Để thu hút khách hàng về phía ngân hàng, ngân hàng cần có chiến lược Marketting hiệu quả. Những chiến lược ngân hàng nhằm thu hút sử dụng vốn vay trung dài hạn nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng đó là:

            ♦ Chiến lược khách hàng

            Quan hệ với khách hàng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động ngân hàng vì khách hàng là một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình kinh doanh và phân phối dịch vụ ngân hàng. Trong chiến lược này, ngân hàng cần đưa ra những chính sách khách hàng để giữ được khách hàng truyền thống, những khách hàng có quan hệ khép kín trọn gói. Ngân hàng cần coi trọng công tác chăm sóc khách hàng chu đáo hơn, nắm bắt kịp thời của khách hàng cũ, tích cực tìm kiếm thông tin về khách hàng mới, dự án mới có hiệu quả, sẵn sàng cạnh tranh bằng chất lượng, tinh thần thái độ phục vụ, đặc biệt là các dịch vụ hoàn hảo, chất lượng cao để phục vụ khách hàng.

            Ngân hàng cần tổ chức các lớp học tập về nghệ thuật giao tiếp và nắm bắt tâm lý khách hàng cho cán bộ ngân hàng, đặc biệt là cán bộ tín dụng – họ là những người trực tiếp và thường xuyên giao dịch với khách hàng và quyết định phần lớn những những khoản vay có hiệu quả hay không. Thông qua công tác này, ngân hàng nắm bắt được chính xác được nhu cầu của khách hàng hiện tại và tiềm năng, nắm bắt được mặt hàng của đối thủ cạnh tranh cũng như chính mình. Trên cơ sở đó sẽ đưa ra những quyết định phù hợp nhằm đáp ứng tốt nhu cầu vay vốn của khách hàng.

♦ Chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng

            Đây là chiến lược tiêu điểm quyết định sự thành công của ngân hàng trên thị trường. Chiến lược dịch vụ là cái khách hàng có thể nhận biết, cảm nhận được vì nó xuất phát từ nhu cầu cảu khách hàng và bằng sự đánh giá của khách hàng. Chất lượng dịch vụ cung ứng cần thường xuyên được cung cấp và cải tiến hơn. Trong cải tiến chất lượng dịch vụ đòi hỏi phải có bước đột phá, dù chất lượng không ngừng được cải tiền nhưng cũng cân phải sáng tạo, đưa lại sự nâng cấp vượt bậc về chất lượng. Cải tiến chất lượng cũng có thể là không đòi hỏi thêm chi phí cho khách hàng. Làm tốt công tác này, ngân hàng có thể thu hút được nhiều khách hàng đến với mình, phục vụ tốt những khách hàng trung thành của Ngân hàng.

            Trong những năm qua, mặc dù ngân hàng đã khai thác, thẩm định được một số dự án đầu tư, bước đầu mở rộng được tín dụng trung và dài hạn và được đánh giá là có hiệu quả. Tuy nhiên, phạm vi và lĩnh vực đầu tư phần nào vẫn bị hạn chế. Khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh. Vì vậy, song song với việc tập trung hơn trong tận dụng các khả năng sẵn có, thường xuyên nắm chắc chiến lược phát triển của các Tổng công ty có truyền thống nhằm hỗ trợ họ về vốn, khai thác thêm được nhiều dự án đầu tư, xâm nhập vào thị trường mới, thu hút thêm khách hàng mới. Ngân hàng cần tiếp tục chủ động tìm kiếm, nắm bắt các nhu cầu vốn trung và dài hạn của khách hàng để đáp ứng.

3.2.3. Ngăn ngừa, hạn chế và xử lý các khoản nợ quá hạn

Vì đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn là vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm do đó khoản cho vay trung và dài hạn chứa rủi ro cao. Khi phát hiện khoản vay có dấu hiệu không thu hồi được, ngân hàng cần có các biện pháp ngăn ngừa sau:

  • Quản lý, giám sát khoản vay: ngân hàng thực hiện giám sát và thu thập các báo cáo tài chính mới nhất của khách hàng. Ngân hàng phải yêu cầu cung cấp các báo cáo tài chính cầu thường kỳ hơn nếu thấy ngân hàng đang gặp có dấu hiệu gặp khó khăn trong việc trả nợ cho ngân hàng.
  • Rà soát và xem lại tài sản đảm bảo nợ vay của khách hàng: Ngân hàng cần xem xét liệu tài sản đảm bảo này có bán được trong điều kiện kinh doanh bình thường không và như thế nào, bán trong điều kiện kinh doanh không bình thường như thế nào.
  • Rà soát ngay hồ sơ pháp lý của khoản vay, yêu cầu bổ sung khi cần thiết.
  • Thực hiện liên kết với các tổ chức tín dụng khác, giữa ngân hàng với các tổ chức phi ngân hàng, ngân hàng và các định chế tài chính khác. Việc làm này có tác dụng: ngân hàng có được các thông tin quý báu để nhìn nhận đánh giá khách hàng đúng đắn hơn, ngăn ngừa được sự ham muốn mưu lợi bất chính của khách hàng, nâng cao nghiệp vụ thông tin giữa các bộ phận chuyên môn của các tổ chức tín dụng với nhau, tăng năng lực cạnh tranh với các tổ chức tài chính nước ngoài, thống nhất trong chính sách giảm bớt sự biến động trên thị trường tiền tệ.

Khi các vay của khách hàng bị xuống hạng, ngân hàng cần có những biện pháp khắc phục sau:

  • Yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo nợ vay.
  • Nếu thấy việc xuống hạng của khoản vay là do việc xác định kỳ hạn trả nợ hay thời hạn cho vay la chưa phù hợp với chu kỳ kinh doanh và thu nhập của khách hàng, ngân hàng có thể cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ khi xét thấy khách hàng có khả năng trả nợ đầy đủ trong tương lai.

Nếu khoản nợ quá hạn xảy ra, cần có những biện pháp xử lý cụ thể như sau:

  • Phân tích nguyên nhân gây ra nợ quá hạn, từ đó có biện pháp xử lý thích hợp. Đối với những khách hàng mà nợ quá hạn có tính chất tạm thời, ngân hàng xem xét khả năng trả nợ và phương án sản xuất kinh doanh trong thời gian tới để quyết định cho vay. Việc cho vay đảm bảo thu hồi vốn, giúp khách hàng vượt qua khó khăn và có biện pháp trả nợ có thể áp dụng biện pháp xác định cơ cấu nợ. Căn cứ vào phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng,khách hàng chứng minh đựoc khả năng hoàn trả khi đến hạn thì ngân hàng sẽ cơ cấu lại nợ. Ngân hàng phải giám sát trật chẽ các khoản nợ và hoạt động của khách hàng để thực hiện việc cơ cấu lại nợ.
  • Đối với khách hàng gặp khó khăn tài chính, kinh doanh thua lỗ, khó khắc phục, ngân hàng cần quản lí chặt chẽ khoản vay của khách hàng như sau:
    • Tìm các khách hàng có khả năng về mặtt tài chính nhận nợ của khách hàng khó khăn để tiếp tục khai thác hiệu quả tài sản, đảm bảo khả năng trả nợ.
    • Ngân hàng rà soát tài sản đảm bảo, tình trạng của tài sản, hồ sơ pháp lí để có thể phát mại tài sản đảm bảo cho khoản nợ.
    • Yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay.
    • Thực hiện biện pháp khuyến khích khách hàng trả nợ như: miễn giảm một phần lãi suất, tính lại lãi, không tính lãi phạt,… áp dụng đối với khách hàng có thiện chí trả nợ.
    • Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro đối với khoản nợ xấu: các khoản nợ mà ngân hàng đã áp dụng hết các biện pháp khắc phục và xử lý nhưng vẫn không thu hồi được nợ, hoặc những khoản nợ đã phát mại hết tài sản nhưng vẫn còn chênh lệch âm ( – ) cả gốc và hoặc những khoản vay bị rủi ro do nguyên nhân khách quan mà ngân hàng không thể khắc phục được.

3.2.4. Đa dạng hóa lĩnh vực cho vay trung và dài hạn

            Hiện nay, các doanh nghiệp quốc doanh là những doanh nghiệp chủ yếu trong việc sử dụng các khoản cho vay trung và dài hạn của ngân hàng. Các doanh nghiệp này hoạt động vẫn còn phụ thuộc vào nhà nước, không linh hoạt với tình hình mới nên hoạt động chưa hiệu quả. Công suất không hiệu quả, không có khả năng trả nợ ngân hàng. Dẫn đến giảm lợi nhuận nhân ngân hàng, nợ quá hạn cao, ngân hàng phải gánh chịu rủi ro tín dụng và có khả năng mất vốn.

            Ngân hàng cần cơ cấu lại tín dụng trung và dài hạn. Mở rộng quan hệ tín dụng với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh khi tỷ trọng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang chiếm tỷ trọng lớn và hoạt động hiệu quả, nhạy cảm với sự biến động của thị trường. Ngân hàng cần tạo điều kiện hơn nữa cho doanh nghiệp này tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn.

            Ngành nghề kinh doanh cũng cần được đa dạng hóa, nhằm phân tán rủi ro.

            Cần giảm chỉ định cho vay theo chỉ định Nhà nước, chủ động tìm đối tác cho vay, đẩy mạnh hoạt động cho vay thương mại.

            Ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị trường, nắm vững các nhu cầu của thị trường, kịp thời đưa ra các dịch vụ mới phù hợp hơn nữa, đồng thời tạo ra sự độc đáo trong kinh doanh. Ngân hàng cũng cần phải nghiên cứu kỹ sự biến đổi về nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của khách hàng để cải tiến, hoàn thiện và đổi mới các hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn. Bên cạnh đó, cần tư vấn cho khách hàng trong việc lựa chọn các dịch vụ phù hợp với nhu cầu và mục đích của khách hàng.

            Như vậy, việc đa dạng hóa trong việc cho vay trung và dài hạn giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro, đồng thời thu hút thêm khách hàng mới, giảm chi phí và tăng thu nhập cho ngân hàng.

3.2.5. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, điều hành

            Cơ cấu lại mô hình tổ chức và thực hiện các hoạt động hướng tới khách hàng. Mô hình phòng ban theo nghiệp vụ hiện nay có nhiều điểm bất hợp lý như chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, mối quan hệ giữa các bộ phận lỏng lẻo, thiếu sự phối hợp. Vì thế cần phải cơ cấu lại theo hướng đối tượng khách hàng kết hợp với sản phẩm.

Đối với cán bộ, tiến hành phân công công việc theo năng lực, trình độ và kinh nghiệm của từng cán bộ, nhóm cán bộ, tránh tình trạng giao dự án theo kiểu lần lượt dẫn đến năng lực chuyên môn không đáp ứng được nhiệm vụ được giao. Kết hợp giữa các cán bộ thâm niên, có kinh nghiệm với các cán bộ trẻ có năng lực, lòng nhiệt tình, khả năng sáng tạo. Có thể chuyên môn hóa theo nhóm, nghành nghề, giúp cán bộ thẩm định, tạo mối quan hệ với khách hàng, nhưng cũng cần chú ý sự thiếu khách quan khi thẩm định do các mối quan hệ xã hội chi phối.

Có chế độ khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh, tránh tình trạng bình quân chủ nghĩa, lấy kết quả của công việc làm thước đo đánh giá hiệu quả làm việc. Có như vậy, buộc người cán bộ phải thực hiện nghiêm chỉnh, chấp hành đúng các quy định, nguyên tắc được đề ra, cũng như có chế độ đãi ngộ xứng đáng để khuyến khích tin thần làm việc.

3.2.6. Nâng cao chất lượng cán bộ Ngân hàng

            Trong bất kỳ trường hợp nào, yếu tố con người cũng đóng một vai trò quan trọng. Để nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn thì chất lượng cán bộ là là một trong những nhân tố quyết định. Nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng an toàn, đủ nhân lực để đón nhận bất cứ cơ hội kinh doanh mới, việc tăng cường lực lượng cán bộ tín dụng cả về số lượng và chất lượng cần được coi là nhiệm vụ của ngân hàng Ngoại thương trong thời gian sắp tới.

Lựa chọn được cán bộ đủ kiến thức và đạo đức nghề nghiệp làm công tác tín dụng. Vấn để tuyển dụng, đào tạo cán bộ cần được tiến hành thường xuyên nhằm đáp ứng đủ số lượng cán bộ tín dụng cho Ngân hàng. Cán bộ tín dụng cần phải được đào tạo những kiến thức cơ bản về nghiệp vụ tín dụng. Có chính sách hợp lý để thu hút những người có trình độ năng lực, những chuyên gia giỏi về làm việc hoặc cộng tác với ngân hàng.

Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn phổ biến kiến thức mới và kinh nghiệm cho vay đến cán bộ tín dụng (chú trọng kỹ năng đánh giá, phân loại khách hàng và kỹ năng thẩm định dự án) nhằm: thứ nhất, giúp cán bộ tín dụng tăng cường khả năng đánh giá, thẩm định sâu sát với món vay hơn; thứ hai,  nâng cao trình độ hiểu biết kỹ thuật của cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định về ngành sản xuất mà ngân hàng đầu tư chủ yếu để có nhận xét, đánh giá đúng những dự án sản xuất kinh doanh; thứ ba, nâng cao hiểu biết của cán bộ nghiệp vụ vể kiền thức pháp luật, nhất là bộ luật dân sự, luật đất đai, luật phá sản và đặc biệt là luật ngân hàng để thực hiện, xử lý công việc chặt chẽ, không để khách hàng lợi dụng.

Ngoài ra, định kỳ ngân hàng có thể tổ chức hội thảo đánh giá tình hình hoạt động tín dụng, phân tích các nguyên nhân sai sót, kết quả, …để đúc rút kinh nghiệm cho cán bộ, tránh vấp phải trong tương lai.

3.2.7. Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng

Công nghệ ngân hàng là một trong những chìa khóa để nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, từ đó góp phần nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và tín dụng trung và dài hạn nói riêng.

            Với cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện có, có thể nói rằng Ngân hàng Ngoại thương xứng đáng là ngân hàng đi đầu trong việc hiện đại hóa cơ sở vật chất. Nhưng để có thể phát huy vai trò của mình cũng như tiến tới hội nhập thị trường ngân hàng tài chính khu vực, Ngân hàng Ngoại thương cần tiếp tục đổi mới công nghệ.

            Cần hoàn thiện hệ thống trang thiết bị thông tin trong toàn hệ thống. Trang bị hệ thống máy tính hiện đại với các phần mền chuyên dụng xuống cơ sở, tránh tình trạng chênh lệch giữa các chi nhánh lớn và chi nhánh nhỏ, các máy giao dịch tự động tại các nơi công cộng.

            Các chương trình phần mềm cần được cập nhật thường xuyên hơn và mua nếu cần thiết. Mở các khóa đào tạo ngắn ngày, nâng cao trình độ cho cán bộ nhân viên, thích ứng nhanh với các máy móc và trang thiết bị mới. Ngân hàng Ngoại thương đã có một trung tâm tin học lớn với rất nhiều các cán bộ, kỹ sư có nhiều kinh nghiệm, đây là điều kiện tốt để ngân hàng phát triển dự án hiện đại hóa theo hướng đã định.

3.2.8. Nâng cao hiệu lực kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng

            Công tác kiểm tra kiểm soát có nhiệm vụ giám sát và kịp thời phát hiện những sai sót trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Làm tốt công tác này, chất lượng tín dụng trung và dài hạn được nâng cao.

Công tác kiểm tra, kiểm soát trong hoạt động tín dụng phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời và trở thành những hoạt động cơ bản của công tác quản trị điều hành. 

Đào tạo lại, đào tạo mới đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra kiểm soát hoạt động tín dụng, không chỉ giỏi về nghiệp vụ mà còn có khả năng phân tích, tổng hợp và đánh giá nội dung các khâu mà chỉ ra được những sai sót và đề ra biện pháp khắc phục kịp thời. Đặc biệt quan tâm đến khâu kiểm soát trước khi cho vay.

Thực hiện phân cấp thẩm quyền phê duyệt đối với các khoản vay, đối với những khách hàng vay lâu dài thì thẩm định tín dụng phải có mặt cán bộ phòng kiểm soát.

Tiến hành kiểm tra kiểm soát thường xuyên đối với tất cả các khoản vay của khách hàng, theo dõi tốc độ trả nợ, tốc độ gia tăng khoản nợ, báo với các phòng chức năng có biện pháp đối ứng thích hợp.

3.3. Kiến nghị

3.3.1. Kiến nghị đối với Nhà nước

Có thể thấy rằng môi trường kinh tế – xã hội ổn định phát triển là cơ sở cho các hoạt động đầu tư. Hệ thống luật, chính sách, quy định của nhà nước rất quan trọng tác động tới mọi mặt của nền kinh tế xã hội…Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động của ngành ngân hàng nói chung khá nhạy cảm, phản ứng nhanh nhạy với những thay đổi dù nhỏ của nền kinh tế vĩ mô. Một hạn chế phổ biến hiện nay là môi trưòng vĩ mô còn thiếu tính ổn định và nghiêm minh về luật pháp và chính sách. Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng trung và dài hạn nói riêng còn gặp nhiều khó khăn về mặt pháp lý do hệ thống pháp luật Việt Nam khi chuyển sang cơ chế thị trường đang trong quá trình hình thành chưa đồng bộ, có lĩnh vực chưa có hoặc quy định chưa thống nhất, chưa chặt chẽ và thường xuyên thay đổi.

Do vậy, nhà nước cần nhanh chóng hoàn thiện môi trường pháp lý, đảm bảo tính đầy đủ thống nhất cũng như nâng cao hiệu quả hiệu lực trong sự điều chỉnh của pháp luật với hoạt động sản xuất kinh doanh.

Các quy hoạch ngành, định hướng phát triển ngành, vùng cần được xây dựng cụ thể, đảm bảo tính khoa học, hiệu quả và ổn định. Như vậy nó sẽ là cơ sở tham khảo khi cấp tín dụng trung và dài hạn cũng như hạn chế những rủi ro khi có sự thay đổi đột ngột trong định hướng chính sách của chính phủ, khiến cho dự án khi hoạt động có thể khó khăn. Các chính sách về khuyến khích, hạn chế cho hoạt động xuất nhập khẩu cần được công khai hoá.

Một vấn đề Nhà nước không thể không quan tâm là trong hoàn cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, thông tin trở thành một tài sản quý giá thì việc ra đời những tổ chức chuyên cung cấp thông tin là cần thiết miễn là những thông tin mua bán trao đổi ấy không bị pháp luật cấm. Nhà nước cần quan tâm tới một hình thức mới này. Các trung tâm trên sẽ là nguồn thông tin đáng kể mà ngân hàng sẽ sử dụng

3.3.2. Kiến nghị với chính phủ và các bộ ngành liên quan

            Chính phủ cần có những biện pháp hành chính và kinh tế buộc các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán, kế toán chính sác, đầy đủ, kịp thời nhằm tạo thuận lợi cho Ngân hàng trong việc đánh giá doanh nghiệp, các dự án đầu tư cũng như giám sát các khoản vay sau khi giải ngân.

            Dư nợ trung và dài hạn hiện nay chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp Nhà nước, dự án đầu tư của Nhà nước. Chính phủ cần chấn chỉnh lại hoạt động của các doanh nghiệp, dự án này, tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả của dự án, đảm bảo khả năng trả  nợ cho ngân hàng. Bên cạnh đó, chính phủ cần sớm ban hành chính sách hỗ trợ để nâng cao  năng lực của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh để được tiếp cận vốn trung và dài hạn của Ngân hàng.

Hàng năm, các bộ, ngành cần hệ thống hóa thông tin liên quan tới các lĩnh vực mình quản lý, công khai tình hình hoạt động, phát triển, xây dựng định mức, thông số kỹ thuật của ngành, lĩnh vực mình quản lý. Mỗi giai đoạn cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế, đây là cơ sở quan trọng công tác tín dụng trung và dài hạn được hiệu quả hơn tại các ngân hàng, đặc biệt là công tác thẩm định.

Việc cấp tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thường là đối với những dự án lớn. Những dự án này, trước khi chủ đầu tư xin vay vốn ngân hàng thường được các cơ quan chức năng có thẩm quyền phê duyệt, thẩm định. Để nâng cao tín hiệu quả trong việc cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng, đề nghị các cơ quan hữu quan cần khách quan, chính xác trong thẩm định dự án. Ngoài ra, đối với các dự án vay vốn tín dụng nhà nước, Ngân hàng cần được tham gia thẩm định ngay từ đầu, không để lặp lại tình trạng hầu hết các dự án vay vốn tín dụng nhà nước là do chỉ thị cấp trên, ngân hàng không có quyền quyết định, nhằm đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng cũng như hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của nhà nước.

3.3.3. Kiến nghị đối với ngân hàng nhà nước

            Ngân hàng Nhà nước là cơ quan trực tiếp điều hành chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Vì vậy, các chính sách của Ngân hàng Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến các Ngân hàng thương mại.

Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng, hội thảo ngắn ngày cho các cán bộ tín dụng trong ngành, cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho công tác thẩm định, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng trong các ngân hàng thương mại hiện nay.

Vai trò điều phối của trung tâm thông tin tín dụng CIC cần được phát huy và nâng cao, là đầu mối của việc thu thập trao đổi thông tin, rút kinh nghiệm giữa các ngân hàng thương mại, giữa hệ thống ngân hàng với các cơ quan quản lý kinh tế như: Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ tài chính, Tổng Cục Thuế…

Việc trao đổi thông tin giữa các ngân hàng thương mại không dễ dàng gì. Vì vậy, ngân hàng thương mại hàng năm có thể tổ chức những hội nghị kinh nghiệm toàn ngành để tăng cường sự hiểu biết và nâng cao sự hợp tác giữa các ngân hàng thương mại trong công tác tín dụng.

KIẾN NGHỊ – GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG 2

3.1. Định hướng

3.1.1 Định hướng chung về hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam  đến năm 2010

Giữ vững và củng cố vị thế chủ lực và chủ đạo trong vai trò cung cấp tài chính, tín dụng khu vực nông nghiệp nông thôn; tập trung đầu tư phát triển các phân khúc thị trường đem lại hiệu quả cao tại khu vực đô thị, khu công nghiệp, các trường đại học, cao đẳng…

Phát triển đủ 39 sản phẩm dịch vụ theo dự án WB trên nền tảng công nghệ thông tin phù hợp để đáp ứng nhu cầu khách hàng và yêu cầu hội nhập.

Phát triển thương hiệu và xây dựng văn hóa doanh nghiệp NHNo & PTNT Việt Nam; từng bước đưa NHNo & PTNT Việt Nam trở thành “lựa chọn số 1” đối với khách hàng hộ sản xuất, doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế trang trại, hợp tác xã tại các địa bàn nông nghiệp nông thôn và là “Ngân hàng chấp nhận được” đối với những khách hàng lớn, dân cư có thu nhập cao tại khu vực đô thị, khu công nghiệp.

Lành mạnh hóa tài chính thông qua việc cải thiện chất lượng tài sản, nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả nguồn vốn đáp ứng các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế về an toàn hoạt động.

Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tập trung, độc lập và toàn diện theo tiêu chuẩn quốc tế để phát triển bền vững.

Triển khai áp dụng công nghệ thông tin, nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ ngân hàng; xây dựng và triển khai hệ thống thông tin quản trị trên nền tảng của hệ thống kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế.

Nâng cao năng suất lao động. Ưu tiên phát triển đầu tư nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo tại chỗ, khuyến khích tự học để nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên; tích cực áp dụng công nghệ thông tin đào tạo từ xa.

Nâng cao năng lực điều hành và phát triển các kỹ năng quản trị ngân hàng hiện đại; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ

Cải cách cơ cấu tổ chức và điều hành nhằm đưa Ngân hàng Nông nghiệp trở thành một Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng hiện đại theo chuẩn mực quốc tế, tăng cường khả năng cạnh tranh, lấy phục vụ khách hàng làm mục tiêu hoạt động.

3.1.2. Định hướng cho vay dự án đầu tư

            Về cơ bản có thể nói mục tiêu của NHNo & PTNT Việt Nam trong thời gian tới vẫn là tăng cường hơn nữa hoạt động cho vay trung dài hạn đặc biệt là cho vay DAĐT  nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp – khách hàng – tiếp tục mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị, nhập công nghệ hiện đại, nhanh chóng tiếp cận trình độ khoa học kỹ thuật của thế giới. Đồng thời với việc mở rộng quy mô, hiệu quả của hoạt động cho vay dự án cũng được quan tâm đặt lên hàng đầu. Trong mọi trường hợp khi xem xét cho vay NHNo & PTNT Việt Nam đều lấy tiêu chí hiệu quả kinh tế và tính khả thi của dự án làm căn cứ ra quyết định. Cụ thể:

Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động cho vay dự án với tỷ lệ tăng trưởng phù hợp với định hướng cơ cấu lại nợ của toàn ngành. Năm 2007, tỷ trọng dư nợ trung dài hạn nền kinh tế trên Tổng dư nợ theo kế hoạch là 50%, tỷ lệ nợ xấu đạt 7%; Thực hiện: Tỷ trọng dư nợ trung dài hạn là 39,7%, tỷ lệ nợ xấu 1,9%. Chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ trung dài hạn năm 2008 chiếm tối đa 50% tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu dưới 5%.

Đẩy mạnh hoạt động tín dụng phục vụ nền kinh tế bằng các biện pháp mở rộng khách hàng vay vốn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, kết hợp với nhiều hình thức vay vốn, đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng, duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo cân đối sao cho tỷ lệ dư nợ cho vay nền kinh tế tăng trưởng  từ 16-18% so với năm 2007, tỷ lệ dư nợ cho vay chiếm tối đa 80% tổng nguồn vốn.

Tính toán tham gia đầu tư với mức vốn hợp lý thông qua đồng tài trợ hoặc cho vay trực tiếp đối với các DAĐT  trọng điểm mà nhà nước giao cho toàn hệ thống.

Ưu tiên cho các DAĐT  theo chiều sâu, đầu tư đồng bộ để phát huy năng lực hiện có, nhanh chóng tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh, thời hạn vay ngắn không quá 5 năm đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Cho vay các dự án có hiệu quả thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi theo cơ chế của nhà nước.

Đào tạo nâng cao trình độ cán bộ đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của hoạt động tín dụng ngân hàng trong thời gian tới nhất là trong điều kiện hiện nay.

Thực hiện hiện đại hoá thiết bị công nghệ, đảm bảo phục vụ tốt cho công tác thẩm định, quản lý cho vay dự án. Tăng năng suất lao động và tăng cường khả năng quản lý tín dụng.

Trong cơ chế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, công cuộc phát triển nền kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng có nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, cung ứng dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, phong phú và hiện đại đòi hỏi NHNo & PTNT Việt Nam phải phát triển tiến kịp yêu cầu đổi mới của nền kinh tế. Để tồn tại và phát triển, NHNo & PTNT Việt Nam đã xây dựng cho mình một định hướng chiến lược cho mục tiêu đầu tư. Với thành tích đạt được trong những năm qua, với đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình ngày càng được nâng cao về số lượng, được trang bị kiến thức đầy đủ, với ý chí thống nhất và đoàn kết Ngân hàng sẽ ngày càng thực hiện tốt hơn công tác cho vay dự án giữ vững tốc độ tăng trưởng ngày càng cao trong cho vay DAĐT  trung và dài hạn. Đảm bảo tính an toàn và hiệu quả của mỗi đồng vốn cho vay góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế đất nước.

3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn tại NHNo & PTNT Việt Nam. 

NHNo & PTNT Việt nam vừa là một ngân hàng thương mại quốc doanh, có chức năng nhiệm vụ như tất cả các ngân hàng thương mại quốc doanh khác vừa có nhiệm vụ phục vụ lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Cùng với thời gian chất lượng công tác cho vay dự án nhất là cho vay trung, dài hạn ngày càng cao thể hiện ở dư nợ quá hạn luôn dưới mức cho phép. Tuy nhiên như ở trên đã trình bày tín dụng trung, dài hạn có thời gian thu hồi vốn kéo dài nên tiềm ẩn rủi ro lớn, mà dư nợ lĩnh vực này lại chiếm 39,7% tổng dư nợ giảm so với năm 2006 (43% tổng dư nợ). Do vậy, để đảm bảo sự tồn tại và phát triển vững chắc của hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam thì việc đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả cho vay các DAĐT  trung dài hạn là vô cùng quan trọng.

Như đã phân tích ở chương 1, nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT  trung và dài hạn bao gồm việc mở rộng quy mô cho vay, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu vay vốn của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển ngày một lớn mạnh của ngân hàng, góp phần vào sự phát triển chung của kinh tế đất nước. Trên cơ sở bám sát những yếu tố đó, kết hợp quá trình phân tích thực trạng cho vay DAĐT   trung dài hạn và những định hướng nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT  trung và dài hạn trong thời gian tới của NHNo & PTNT Việt Nam có thể nhận thấy rằng: Để nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT  trung và dài hạn thì NHNo & PTNT Việt Nam cần tiến hành cùng lúc một hệ thống các biện pháp xuyên suốt từ khâu tạo nguồn, thu hút khách hàng đến quản lý nguồn vốn vay trước trong và sau khi giải ngân.

Xem thêm: Đề cương nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng

3.2.1. Giải pháp về nguồn vốn cho vay DAĐT  trung và dài hạn

 Trong cho vay trung và dài hạn nguồn vốn quan trọng nhất để NHTM có thể mở rộng cho vay là nguồn vốn trung và dài hạn. NHTM có thể dùng những khoản tiền gửi ngắn hạn để cho vay dài hạn nhưng hoạt động này sẽ chỉ giới hạn ở một tỷ lệ nhất định của nguồn vốn ngắn hạn vì nếu tỷ lệ này quá cao, nó sẽ làm giảm tính thanh khoản của tài sản có. Vì vậy, nên sử dụng các giải pháp sau:

Về nguồn vốn tự có của ngân hàng: Để có thể tăng nguồn vốn này, NHNo & PTNT Việt Nam phải chuyển đủ phần lợi nhuận vào vốn tự có sau khi đã trích lập các quỹ. Phải đánh giá lại tài sản thực có của NHNo & PTNT Việt Nam vì giá trị này rất lớn.

 Về nguồn vốn huy động trung và dài hạn: Đẩy mạnh việc huy động vốn, nhất là nguồn vốn trung và dài hạn để đáp ứng cơ bản yêu cầu vốn của nền kinh tế, tận dụng thế mạnh về màng lưới và tiềm năng về thị trường để mở rộng kinh doanh đối với nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Về lâu dài, để có thể mở rộng hoạt động cho vay trung và dài hạn, Ngân hàng cần từng bước tạo lập một nguồn vốn trung và dài hạn thực sự vững chắc. Ngân hàng nên tiếp tục hoàn thiện và phát triển các hình thức huy động vốn trung và dài hạn theo các hướng sau:

* Hoàn thiện và phát triển hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm có kì hạn trên một năm

Về cơ bản, thu nhập và tích luỹ của người dân hiện đang có xu hướng tăng lên. Ngân hàng nên điều chỉnh hoạt động huy động vốn, nhằm thu hút được một bộ phận tiền gửi dài hạn bằng cách luôn đảm bảo thực hiện một chính sách lãi suất hợp lý để thu hút khách hàng, triển khai rộng rãi hình thức gửi tiết kiệm một nơi, rút được ở nhiều nơi, tại tất cả các Chi nhánh trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam.

Bên cạnh việc đa dạng hoá các hình thức, kì hạn tiền gửi, cần phải nâng cao tinh thần, tác phong phục vụ, đào tạo cán bộ công nhân viên trong giao tiếp.

Cải thiện một bước đáng kể chất lượng dịch vụ, cải tiến quy trình nghiệp vụ giảm bớt thủ tục giấy tờ nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, tạo niềm tin, thông qua khách hàng cũ mở rộng marketing tới khách hàng mới.

* Tiếp tục triển khai hoạt động phát hành trái phiếu ngân hàng loại trung và dài hạn, kì phiếu ngân hàng có mục đích bằng cả nội tệ và ngoại tệ

Trái phiếu với lãi suất huy động cao hơn các hình thức gửi tiền cùng kỳ hạn đang được người dân ưa thích. Nhưng đối với ngân hàng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu luôn là nguồn có giá cả cao nhất. Do đó, khi phát hành trái phiếu, NHNo & PTNT Việt Nam nên chú ý tới các vấn đề sau:

 Chỉ phát hành trái phiếu ngân hàng khi có nhu cầu bổ sung vốn cho vay đầu tư vào các dự án lớn có tính khả thi cao. Mỗi đợt phát hành trái phiếu cần tính toán cân đối giữa lãi suất đầu vào và đầu ra. Lãi suất cho vay cao sẽ không khuyến khích được khách hàng vay vốn trung và dài hạn, do vậy Ngân hàng cần tìm cách giảm chi dịch vụ để gánh đỡ phần nào về lãi suất cho vay.

  Để làm tăng tính hấp dẫn của trái phiếu, Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ chiết khấu các trái phiếu, chuyển nhượng quyển sở hữu giữa các cá nhân thông qua hoạt động mua bán, biếu tặng các trái phiếu vô danh hay đăng ký lại quyển sở hữu đối với các trái phiếu ký danh. Trái phiếu dài hạn có thể dùng làm vật cầm cố thế chấp để vay vốn tại ngân hàng. Các tiện ích đó làm tăng tính hấp dẫn của trái phiếu và trên cơ sở đó ngân hàng có thể giảm bớt lãi suất huy động nhưng vẫn thu hút được nhiều người mua

* Định mức lãi suất tiền gửi trung, dài hạn hợp lý để kích thích khách hàng yên tâm gửi tiền

Ngoài rủi ro lớn nhất mà khách hàng lo sợ là ngân hàng phá sản thì họ còn lo một điều nữa là tiền gửi của họ với mức lãi suất không bù đắp được sự mất giá của khoản tiền gửi, nhất là khi gửi dài hạn. Vì vậy, lãi suất huy động phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát và phải lớn hơn lãi suất tiền gửi ngắn hạn. Như vậy để khuyến khích khách hàng gửi tiền dài hạn cần tạo một khoảng cách rõ rệt giữa lãi suất huy động dài hạn và ngắn hạn. Tuy nhiên đề nghị này không có nghĩa là phải tăng lãi suất huy động trung, dài hạn vì như vậy sẽ dẫn đến phải tăng lãi suất cho vay trung, dài hạn, điều mà các nhà sản xuất không thể chấp nhận. Hơn nữa, nếu lãi suất tiền gửi cao thì thì họ sẽ không đầu tư trực tiếp vào các phương án kinh doanh mà gưỉ tiền vào ngân hàng để lấy lãi. Điều này càng nguy hiểm vì ngân hàng sẽ ứ đọng vốn, không giải quyết được đầu ra. Vì vậy, cần có sự cân đối giữa lãi suất tiền gửi ngắn hạn và trung, dài hạn để tạo một khoảng cách cần thiết giữa hai mức lãi suất này.

* NHNo&PTNT Việt Nam nên có chủ trương huy động vốn trung, dài hạn thường xuyên, liên tục hơn

 Để tăng nhanh doanh số huy động trung, dài hạn NHNo & PTNT Việt Nam cần có chủ trương và đa dạng hoá các loại hình huy động trung, dài hạn với mức lãi suất phù hợp. Bên cạnh đó, NHNo & PTNT Việt Nam cùng các NHTM khác cần thiết lập một thị trường trái phiếu dài hạn linh hoạt, tích cực. Thực hiện chiết khấu, mua lại hoặc bán lại các trái phiếu dài hạn cho dân cư, điều đó cho phép người chủ trái phiếu có thể đổi các trái phiếu thành tiền dễ dàng khi có nhu cầu.

3.2.2 Xây dựng chính sách tín dụng một cách hợp lý.

Đứng về mặt chiến lược mà nói, một chính sách tín dụng phải thu hút được khách hàng, duy trì và phát triển được khách hàng để mở rộng quy mô hoạt động của một ngân hàng thương mại. Do vậy, chính sách tín dụng cho vay DAĐT  trung, dài hạn phải chú ý đến chiến lược thu hút khách hàng có sự lựa chọn. Các tiêu chuẩn chính để lựa chọn khách hàng, như:

  • Khách hàng có khả năng ổn định và phát triển kinh doanh lâu dài.
  • Khách hàng có đội ngũ quản lý giỏi, có khả năng thích ứng tốt với môi trường kinh doanh.
  • Khách hàng có triển vọng chiếm lĩnh thị trường …

Để thực hiện quan điểm chỉ đạo gắn công tác cho vay DAĐT  trung dài hạn với sự tồn tại và phát triển của NHNo & PTNT Việt Nam. Vừa phục vụ cho đầu tư phát triển vừa hỗ trợ các doanh nghiệp phát huy hiệu quả vốn tín dụng ngắn hạn, hạn chế thấp nhất rủi ro trong hoạt động tín dụng, vừa đảm bảo thu nhập cho ngân hàng. Ngân hàng phải chủ động nắm bất kịp thời chủ trương đầu tư hàng năm của địa phương để xây dựng chiến lược, kế hoạch cho vay trung, dài hạn hàng năm chi tiết đến từng ngành, từng chủ đầu tư, từng dự án.

Bên cạnh sự lựa chọn khách hàng, dự án để thực hiện chính sách tín dụng, lãi suất cũng là một chính sách quan trọng của bản thân ngân hàng để thu hút khách hàng. Về nguyên tắc mà nói lãi suất cao sẽ hạn chế sự vay vốn của khách hàng, lãi suất thấp sẽ thu hút nhiều khác hàng hơn. Song, chính sách lãi suất phải linh hoạt với từng khoản tín dụng, từng khách hàng và phải đảm bảo kết hợp hài hoà giữa lợi ích của ngân hàng và khách hàng.

Với đặc thù của loại hình cho vay dự án có thời hạn kéo dài, vốn của ngân hàng chịu rủi ro rất lớn do nhiều yếu tố lạm phát, thị trường. Để khắc phục tình trạng này Ngân hàng nên: Nghiên cứu áp dụng các hợp đồng tín dụng có lãi suất thả nổi (tức lãi suất thay đổi) để giảm rủi ro cho cả ngân hàng và khách hàng. Tuy nhiên khi áp dụng hình thức này vấn đề cốt lõi là NHNo & PTNT Việt Nam phải có một chiến lược về kinh doanh và một chiến lược dự báo xu thế thị trường.

Ngoài ra, NHNo & PTNT Việt Nam cũng nên quan tâm nhiều đến hình thức cho vay đồng tài trợ. Cho vay đồng tài trợ là hình thức mà theo đó hai hay nhiều ngân hàng cùng tham gia cho vay một dự án. Các ngân hàng cùng cho vay cử ra một ngân hàng làm đại diện gọi là ngân hàng điều phối, thường là ngân hàng có tỷ lệ vốn cho vay nhiều nhất hoặc ngân hàng có kinh nghiệm trong việc cho vay này. Ngân hàng này sẽ thay mặt nhóm các ngân hàng cho vay giao dịch với khách hàng, nhận hồ sơ, tiến hành thẩm định sơ bộ rồi chuyển hồ sơ cho các ngân hàng tham gia để xem xét, thẩm định. Các ý kiến của từng ngân hàng sẽ được ngân hàng quản lý chính tập hợp và gửi cho khách hàng để hoàn tất hồ sơ. Ngân hàng quản lý chính cũng có thể đứng ra nhận và quản lý tài sản thế chấp chung cho toàn bộ khoản vay, chịu trách nhiệm lưu giữ hồ sơ, về tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ và xử lý tài sản thế chấp nếu có tranh chấp hoặc rủi ro phát sinh sau này. Sau khi các bên đã nhất trí việc đồng tài trợ, ngân hàng quản lý chính ký hợp đồng tín dụng với bên vay, nhận tiền từ các ngân hàng tham gia chuyển đến và giải ngân theo đúng quy định. Việc thu nợ gốc và lãi đều do ngân hàng này thực hiện, sau đó chuyển tiền lại cho các ngân hàng tham gia theo tỷ lệ tham gia. Trong trường hợp xảy ra rủi ro thì mỗi ngân hàng sẽ chịu rủi ro tương ứng với phần vốn đã cho vay. Như vậy, nổi lên ở đây là vai trò của ngân hàng quản lý chính, đây phải là ngân hàng có có uy tín, có trình độ lành nghề nhất định, hoặc là ngân hàng có hiểu biết về khách hàng sâu sắc nhất. Đối với việc cho vay đồng tài trợ, ngoài phần lãi suất như các khoản vay thông thường, các ngân hàng tham gia có thể thu phí dàn xếp, phí cam kết, riêng ngân hàng quản lý chính còn thu thêm phí quản lý. Cho vay đồng tài trợ là hình thức cho vay có nhiều ưu điểm, nó giúp các ngân hàng tài trợ cho các dự án lớn mà từng ngân hàng có thể không đủ khả năng và điều kiện cho vay. Cho vay đồng tài trợ sẽ giúp các ngân hàng tiết kiệm chi phí thẩm định, giảm bớt rủi ro khi cho vay, học tập được kinh nghiệm quản lý (đặc biệt khi tham gia cùng ngân hàng nước ngoài) và tránh được rủi ro khi doanh nghiệp rủi ro thì các ngân hàng tranh nhau thu nợ.

3.2.3. Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án.

Thẩm định một DAĐT  trung và dài hạn gồm nhiều bước nhưng quan  trọng là việc thẩm định này ngoài mục tiêu đánh giá hiệu quả dự án còn nhằm bảo đảm sự an toàn cho các nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng.

Nghiên cứu hoàn thiện phân tích tài chính DAĐT  trung và dài hạn là rất cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Nội dung chính của việc nghiên cứu phương pháp thẩm định là hệ thống chỉ tiêu làm căn cứ đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư. Cụ thể: Hiệu quả tài chính cũng như bao loại hiệu quả khác, bản chất của nó không chỉ được thực hiện trên một mặt nào đó mà trên nhiều khía cạnh khác nhau, nó là hệ thống chỉ tiêu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hệ thống chỉ tiêu đó có thể chia làm 3 nhóm: Một nhóm phản ánh khả năng sinh lợi như doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất đầu tư… Một nhóm phản ánh mức độ rủi ro của dự án. Một nhóm phản ánh khả năng hoàn vốn từ dự án như hệ số hoàn vốn, điểm hoà vốn, tỷ lệ thu hồi nội tại…

Sau khi xác định được hệ thống chỉ tiêu cần thiết để thẩm định tài chính DAĐT  trung và dài hạn thì vấn đề tiếp theo là tính toán các chỉ tiêu: Các chỉ tiêu thẩm định nhìn chung đều được xây dựng, tính toán trên cơ sở lợi ích của dự án. Khi tính toán phải tính đủ các yếu tố cấu thành nên cho mọi loại hình dự án cũng như cho cả các dự  án đặc thù.

Cuối cùng việc vận dụng tính toán các chỉ tiêu không thể không chú ý đến tính khả thi của DAĐT . Tiêu điểm của vấn đề là dữ liệu. Các yếu tố cấu thành chỉ tiêu, phương pháp tính toán chỉ tiêu phải đảm bảo dựa trên cơ sở những số liệu có thể thu thập được trong, ngoài dự án hoặc dự kiến một cách tương đối  chính xác trong thực tế như giá cả, sản lượng, lãi suất…

 Mặc dù hệ thống chỉ tiêu cũng như cách tính toán là nội dung chính của thẩm định tài chính DAĐT  nhưng điều cuối cùng là phải có phương pháp đánh giá, nhìn nhận để có kết luận xác đáng từ việc phân tích trên. Mỗi chỉ tiêu sẽ có vai trò quan trọng khác nhau chút ít trong từng loại hình dự án. Nói cách khác căn cứ vào từng loại hình dự án mà xem chỉ tiêu nào là quan trọng hơn. Ví dụ như một dự án dài hạn mang lại lợi ích to lớn về mặt xã hội thì NPV có giá trị âm (-) vẫn có thể cho vay.

Việc thẩm định tài chính DAĐT  trung, dài hạn cần quan tâm phân tích các chỉ tiêu tài chính sau:

3.2.3.1. Xem xét các chỉ tiêu về cơ cấu vốn của doanh nghiệp:

Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn tự có và vốn đi vay. Nguồn gốc và cấu thành hai loại vốn này xác định sự ổn định tài chính và khả năng thanh toán dài hạn của doanh nghiệp, các doanh nghiệp thường muốn sử dụng vốn tự có ít nhất nhưng mang lại hiệu quả cao nhất vì nếu doanh nghiệp chỉ góp một phần nhỏ trong toàn bộ vốn hoạt động thì rủi ro trong kinh doanh chủ yếu do người cho vay gánh chịu. Trong khi đó doanh nghiệp nắm phần lợi rõ rệt vì chỉ bỏ ra một số vốn ít nhưng lại được quyền sử dụng một lượng tài sản lớn mà không phải chia sẻ quyền kiểm soát. Đặc biệt, khi hoạt động của doanh nghiệp đang phát triển lãi thu được trên tiền vay lớn hơn lãi suất tiền vay, thì doanh nghiệp càng vay càng hiệu quả và khi đó rủi ro đến với người cho vay càng lớn.

Ngân hàng luôn muốn mở rộng cho vay nhất là với các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, song, nếu cho vay quá nhiều ngân hàng sẽ trở thành người đỡ đòn rủi ro cho doanh nghiệp. Do đó khi phân tích ngân hàng cần quan tâm đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Ngân hàng cần xem xét đến các tỷ số sau:

Tỷ số nợ (Nợ phải trả/Tổng nguồn vốn của DN) hoặc Tỷ số tự tài trợ (Nguồn vốn chủ sở hữu/ Tổng nguồn vốn của DN): Tỷ số này cho biết tổng số vốn của doanh nghiệp chiếm bao nhiêu trong tổng số vốn mà doanh nghiệp đưa vào sản xuất kinh doanh. Tỷ số này càng lớn càng tốt, càng có sự bảo đảm cao cho các khoản nợ, nhất là khi doanh nghiệp bị đặt vào tình trạng thanh lý tài sản thì vốn tự có này để bù đắp phần thiếu hụt phát sinh khi chuyển nhượng tài sản.

Tỷ số nợ dài hạn (Số nợ dài hạn/Nguồn vốn chủ sở hữu): Tỷ số này cao phản ánh doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào chủ nợ, đó là cấu trúc vốn mạo hiểm. Tỷ số này càng cao thì an toàn trong đầu tư càng giảm. Theo kinh nghiệm ở một số nước, người cho vay chỉ chấp nhận tỷ số này < 1. Nghĩa là tỷ số này càng gần 1 doanh nghiệp càng ít khả năng được vay vốn dài hạn.

Tỷ số tài trợ TSCĐ ( Nguồn vốn dài hạn/Giá trị TSCĐ): Tỷ số này luôn phải lớn hơn 1 mới mang lại cho doanh nghiệp sự ổn định và an toàn tài chính. Tỷ số này nhỏ hơn 1 có nghĩa doanh nghiệp đang dùng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn. Tình hình tài chính của doanh nghiệp không bình thường, việc cho DN vay vốn đầu tư lúc này là quá mạo hiểm.

3.2.3.2. Xem xét khả năng trả nợ của doanh nghiệp.   

Ngân hàng sử dụng các báo cáo tài chính và ngân quỹ để ước lượng nhu cầu vốn của người xin vay, đánh giá khả năng trả nợ, ước lượng thiệt hại có thể có nếu người vay không hoàn trả và quyết định các điều khoản tài trợ nếu cho vay. Các nhân viên tín dụng phải tránh lệ thuộc quá nặng vào các thông tin trong bảng quyết toán lịch sử vì tình hình tài chính của một doanh nghiệp có thể thay đổi. Thông tin từ các bản báo cáo lợi tức trước đó cũng phải được sử dụng thận trọng vì số liệu lợi nhuận quá khứ chưa hẳn là cơ sở đáng tin cậy cho dự báo tương lai. Đây không phải là sự phủ nhận tầm quan trọng của việc đánh giá tình hình tài chính hiện nay của người vay và tầm quan trọng cuả việc kiểm tra mức độ và chiều hướng của các lợi tức trong quá khứ, nhưng nhân viên tín dụng cần thiết phải biết tình hình tài chính, khả năng sinh lợi và các nhu cầu ngân quỹ của người vay sẽ như thế nào trong tương lai. Giá trị chủ yếu của các báo cáo tài chính lịch sử là giúp đánh gía tính hợp lý của các dự báo về ngân quỹ và lợi nhuận của người vay.

  Tất cả những gì ở trên mà cán bộ có thể nắm bắt được sẽ quyết định một phần một phần rất quan trọng để có thể quyết định có cho khách hàng vay hay không. Nhưng việc đánh giá trên chỉ có ý nghĩa khi các báo cáo tài chính là trung thực, điều này đòi hỏi NHNo & PTNT Việt Nam phải yêu cầu ở họ một sự trung thực khi đi vay nhưng phải đồng thời kết hợp thêm các báo cáo tài chính họ đưa ra là các báo cáo tài chính phải được cơ quan kiểm toán xác nhận là trung thực.

Trên đây là một số chỉ tiêu tính toán nhưng cũng như khi ta thẩm định tài chính doanh nghiệp, điều quan trọng là tính chính xác của số liệu. Cái khó ở đây là cơ sở của số liệu lấy từ Báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhưng báo cáo chỉ phản ánh các sự kiện tài chính trong quá khứ trong khi ta lại quan tâm  nhiều hơn đến tình hình tài chính tương lai của doanh nghiệp. Đó là chưa nói đến một số doanh nghiệp còn vì lợi ích riêng của mình mà đưa những thông tin sai vào báo cáo. Do vậy để thực hiện tốt giải pháp này đòi hỏi trình độ của cán bộ tín dụng phải được nâng cao rất nhiều

3.2.4. Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng  

Con người luôn là nhân tố quyết định trong mọi lĩnh vực, đặc biệt đối với lĩnh vực tín dụng, cán bộ tín dụng là người phải chịu trách nhiệm trong việc đưa ra những quyết định cho vay, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả khoản vay. Cán bộ tín dụng cần được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ ngân hàng, chấp hành nghiêm túc trình tự tác nghiệp tín dụng, biết cách thu thập và xử lý thông tin. Nghiệp vụ cho vay không chỉ mang tính khoa học mà còn mang tính nghệ thuật. Muốn hiểu được khách hàng thì không thể chỉ thông qua cách báo cáo hay trình bày của doanh nghiệp mà cán bộ tín dụng phải nắm bắt được khả năng, nhu cầu thực tại và trong tương lai của khách hàng một cách khách quan Cán bộ tín dụng phải sẵn sàng và có đủ khả năng tách khỏi môi trường ngân hàng quen thuộc của mình để đi khảo sát, nghiên cứu tại cơ sở của người vay và năng lực quản lý của người vay.

Nắm vững chủ trương, chính sách phát triển của ngành, địa phương có liên quan đến dự án, tình hình kinh tế xã hội của đất nước và thế giới có liên quan, tình hình thị trường sản phẩm của doanh nghiệp, am hiểu sâu sắc tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bám sát các định hướng của nhà nước về chiến lược phát triển của nền kinh tế, tiếp cận với các dự án, các trương trình kinh tế khả thi, chủ động tìm đến với các khách hàng đang có nhu cầu về vốn. Cán bộ tín dụng trong quá trình cho vay đã nắm được các nội dung về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và sau khi cho vay cán bộ tín dụng cũng phải thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, tình trạng tài sản bảo đảm, chủ động kịp thời phát hiện các trường hợp sử dụng vốn sai mục đích hoặc nguy cơ gây mất vốn để có kiến nghị giải quyết kịp thời; Xem xét, xử lý các khó khăn vướng mắc như gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, bổ sung hoàn chỉnh các hồ sơ vay vốn, đôn đốc thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn. Như vậy, cán bộ tín dụng của NHNo & PTNT Việt Nam có thể hỗ trợ doanh nghiệp rất nhiều trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vì họ thường xuyên kết hợp với doanh nghiệp nên biết được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương hướng hoạt động trong tương lai nên có thể đưa ra những ý kiến tư vấn cho doanh nghiệp. Có khả năng dự báo xu hướng phát triển, hoặc phát hiện những rủi ro tiềm ẩn từ khoản vay, từ chính doanh nghiệp, từ đó tham mưu kịp thời cho lãnh đạo hướng xử lý cụ thể.

Về đạo đức, cán bộ tín dụng cần phải có đức tính trung thực, bản lĩnh, có tinh thần tập thể và lợi ích của Ngân hàng là yếu tố quyết định đến sự thành công của mỗi Ngân hàng.

             Ngân hàng nên tiến hành đào tạo và đào tạo lại, để tránh tình trạng lạc hậu về nghiệp vụ, Ngân hàng thường xuyên cử cán bộ dự các lớp học, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ ngắn ngày do NHNo & PTNT Việt Nam mở. Trong một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến công việc có thể mời và thuê chuyên gia, cán bộ kỹ thuật về giảng cho cán bộ Ngân hàng; Đào tạo cho các cán bộ tín dụng về ngoại ngữ, tin học, pháp luật… để có trình độ nhất định phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội, việc cập nhật thông tin mới là vô cùng quan trọng, nó là cơ sở ban đầu cho mọi phán quyết tín dụng; Cán bộ tín dụng cũng cần có những hiểu biết nhất định về kinh tế thị trường, pháp luật để tránh tình trạng ngân hàng vô tình thành kẻ tiếp tay cho một số cán bộ doanh nghiệp chiếm đoạt tài sản của Nhà nước.

Chuyên môn hoá đội ngũ cán bộ Ngân hàng: Nền kinh tế rất đa dạng và phức tạp, số lượng cán bộ Ngân hàng thì hạn chế không thể dàn trải trên mọi lĩnh vực. Vì vậy, Ngân hàng nên nên tổ chức từng nhóm cán bộ chuyên phụ trách về từng lĩnh vực. Việc chuyên môn hoá sẽ giúp cho cán bộ tín dụng tránh khỏi tình trạng quá tải do phải ôm nhiều lĩnh vực, có thời gian đi sâu vào từng loại hình cụ thể. Nhờ đó mà khi thẩm định dự án sẽ có sự đánh giá chính xác hơn.

3.2.5. Phát triển hệ thống thu thập  thông tin:

Trong thời đại ngày nay với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin – tin học, con người có thể khai thác được lượng thông tin vô tận trong thời gian gần như tức thời để phục vụ, hỗ trợ cho mục tiêu hoạt động của mình. Hiệu quả cho vay DAĐT  trung dài hạn chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi thông tin và chất lượng thu thập, xử lý thông tin. Nếu Ngân hàng không có đầy đủ và chính xác thông tin để thẩm định trước khi cho vay thì rủi ro không thu hồi được vốn đúng hạn hoặc mất vốn sẽ rất lớn. Nếu không có sự đầu tư quan tâm thích đáng đến công nghệ đầu tư thông tin – tin học thì ngân hàng sẽ rất bất lợi trong cạnh tranh khi môi trường kinh doanh ngày càng được mở rộng và trở nên thống nhất.

Những thông tin cần phải thu thập phục vụ cho việc thẩm định cho vay DAĐT  trung dài hạn bao gồm: Thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp, chủ đầu tư; Quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng, chất lượng tín dụng, nợ vay phải cơ cấu lại, nợ quá hạn, nợ vay theo nhóm khách hàng, ngành hàng; Thông tin về tính năng, đặc điểm hoạt động của máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất để đánh giá công suất, sản lượng bảo đảm cho doanh thu dự án cũng như góp phần  thẩm định chi phí sản xuất kinh doanh; Thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm, đối thủ cạnh tranh, thị trường nguyên vật liệu… để thẩm định giá bán ra của sản phẩm và chi phí sản xuất kinh doanh; Thông tin có tính bao quát như chính sách đầu tư, chính sách thuế nhập khẩu…

Những năm gần đây, ban lãnh đạo NHNo & PTNT Việt Nam đã giành sự quan tâm đặc biệt cho đầu tư, ứng dụng tin học phục vụ hoạt động của ngành và coi đây là một trong những biện pháp đột phá để tăng khả năng cạnh tranh, sẵn sàng hội nhập và ngày càng khẳng định vị thế của ngân hàng. Tuy nhiên ứng dụng tin học mới chủ yếu để phục vụ công tác thanh toán, kế toán, lưu trữ số liệu hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà chưa quan tâm đúng mức đến những thông tin phục vụ tín dụng.

Như trên đã nêu tầm quan trọng của thẩm định dự án, phân tích tài chính doanh nghiệp mà trong đó thông tin chính xác là nền tảng của mọi phân tích, đánh giá. Trong tình hình trên việc ngân hàng tự xây dựng cho mình một hệ thống thông tin quản lý, lưu trữ và dự báo riêng là rất cần thiết. Điều đó cho phép ngân hàng có được nguồn thông tin tin cậy, nhanh chóng, do tự mình xây dựng, kết hợp các thông tin nhiều chiều khác để trợ giúp, phục vụ kịp thời yêu cầu công việc. Đây thực chất là hoạt động tổng kết trên diện rộng quá trình thực hiện đầu tư.

3.2.6.Nâng cao vai trò của công tác thanh tra kiểm soát

Thanh tra kiểm soát là nghiệp vụ rất quan trọng giúp NHNo & PTNT Việt Nam ngăn chặn, phát hiện và xử lý tồn tại, yếu kém trong hoạt động tín dụng, từ đó nâng cao hiệu quả tín dụng. Giải pháp nâng cao vai trò của công tác thanh tra kiểm soát cần tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

Xây dựng và thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch kiểm tra theo định kỳ và đột xuất đối với hoạt động tín dụng. Cần xác định mục tiêu chính phải đạt được qua việc triển khai kế hoạch thanh tra kiểm soát

Xây dựng nội dung kiểm tra toàn diện, có cơ sở khoa học để nội dung kiểm tra toàn diện, tập trung vào những vấn đề chính như: chế độ chính sách tín dụng, chấp hành quy trình đầu tư, các quy định về bảo đảm tiền vay, các biện pháp xử lý nợ xấu như gia hạn nợ, giãn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, chấp hành chế độ thông tin báo cáo tín dụng… Kiểm tra việc chấp hành và triển khai thực hiện sự chỉ đạo của ngân hàng cấp trên, triển khai các chính sách và định hướng hoạt động tín dụng.

Phát hiện các sai phạm, tồn tại, yếu kém và có biện pháp xử lý phù hợp, có hiệu quả. Kiên quyết sửa chữa, khắc phục các sai sót đã được phát hiện, rút kinh nghiệm, ngăn ngừa, hạn chế các sai sót phát sinh, đặc biệt không để tái diễn các sai sót đã được phát hiện. Trường hợp cá nhân, đơn vị có những vi phạm, tiêu cực cần nghiêm túc xử lý.

Ngoài những nội dung trên, công tác thanh tra kiểm soát còn rất quan trọng trong việc kiểm tra thanh lọc những cán bộ tín dụng mất phẩm chất, tiêu cực, gây thất thoát tài sản và làm mất uy tín của ngân hàng.

3.2.7. Một số giải pháp hỗ trợ khác .

  • Giải pháp hạ thấp mức cho vay hoặc phân tán rủi ro: khi không đủ căn cứ để có thể nhận xét hoàn hảo về khách hàng vay vốn, hoặc nhu cầu vốn lớn đối với dự án khả thi, mà nếu cho vay đủ nhu cầu vốn thì sẽ vi phạm quy chế. Trong trường hợp này, nên áp dụng giải pháp hạn mức tín dụng hoặc phương án cho vay đồng tài trợ. Tuy nhiên trong trường hợp cho vay theo hình thức đồng tài trợ, nhiều TCTD cùng tài trợ thì rủi ro giảm thấp, nhưng theo đó lợi nhuận thu được bị hạn chế đối với những dự án chất lượng cao. Mặt khác nếu hạ thấp mức cho vay thì việc đầu tư của khách hàng sẽ bị ảnh hưởng hoặc bị phá vỡ, khi đó rủi ro có thể ở mức cao hơn nhiều.
  • Giải pháp tham gia bảo hiểm tín dụng: khi hoạt động bảo hiểm tín dụng được hình thành, phần lớn các rủi ro sẽ chuyển sang bên công ty bảo hiểm, kể cả trong trường hợp phát sinh thêm chi phí.
  • Giải pháp phân chia, lựa chọn thị trường tín dụng: Phân chia theo những tiêu thức phù hợp với quy mô của NHNo & PTNT Việt Nam, nhằm đánh giá vừa khái quát vừa cụ thể, từ đó hoạch định chiến lược khách hàng đối với “từng khúc” của thị trường đã được nghiên cứu cho tới kỳ trước mắt và lâu dài, nhằm đạt tới tỷ lệ thấp nhất cho những rủi ro có thể xảy ra (kể cả khi xảy ra thì hoàn toàn kiểm soát và xử lý theo hướng có lợi cho đầu tư tín dụng), kết quả là, lợi ích nhiều mặt của NHNo & PTNT Việt Nam không bị ảnh hưởng.

– Loại trừ khách hàng, đối tượng đầu tư không hiệu quả: Trong số rất nhiều khách hàng của mình, NHNo & PTNT Việt Nam có thể loại trừ một số hoặc một nhóm khách hàng, thực hiện một chế độ đặc thù như kiểm soát chặt chẽ, thu hồi nợ, hạn chế tiến tới chấm dứt đầu tư. Mục đích của giải pháp này là mang lại một lượng khách hàng có độ tín nhiệm cao nhất trong thị phần của mình, đẩy nguy cơ rủi ro ra khỏi môi trường đầu tư.

3.3. Kiến nghị

3.3.1. Đối với Nhà nước

Một là, Nhà nước cần tạo lập môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định cho hoạt động đầu tư tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng đối với các doanh nghiệp. Ở nước ta Luật ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức tín dụng mới ra đời là sự cần thiết  khách quan, nhưng việc đưa luật vào cuộc sống đòi hỏi phải có sự linh hoạt và phù hợp với nền kinh tế nước ta hiện nay. Các văn bản dưới luật cần phải được ban hành đầy đủ kịp thời và đồng bộ từng bước phù hợp với thực tế nền kinh tế trong từng thời kỳ, không thể áp dụng một cách máy móc – nó không những không thúc đẩy sự phát triển mà còn gây cản trở cho sự phát triển. Trước hết, Nhà nước cần ban hành luật kiểm toán để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đánh giá tài chính doanh nghiệp một cách chính xác; luật về thế chấp tài sản… Chính phủ cần sớm ban hành một Nghị định chung về thế chấp, cầm cố tài sản để các ban ngành cùng phối hợp thực hiện. Trong nghị định này, Chính phủ cần điều chỉnh hợp lý hành vi thế chấp, hành vi phát mãi, đấu giá tài sản thế chấp. Có như thế mới có thể tháo gỡ ách tắc trong khâu xử lý tài sản thế chấp để ngân hàng mau chóng thu được nợ. Sự đồng bộ, phù hợp của hệ thống pháp luật sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho các ngân hàng cũng như doanh nghiệp hoạt động ổn định, mặt khác đảm bảo tính an toàn, hiệu quả cho hoạt động tín dụng ngân hàng.

 Hai là, Nhà nước cần ổn định môi trường vĩ mô của nền kinh tế. Các cơ quan quản lý vĩ mô cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc cân đối nhu cầu đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng, tránh tình trạng đầu tư ồ ạt vào một ngành hay lĩnh vực nào đó gây nên lãng phí do quá tải giữa cung và cầu. Nghĩa là, Nhà nước phải xác định rõ chiến lược phát triển kinh tế, hướng đầu tư một cách ổn định, lâu dài, ổn định thị trường, ổn định giá cả, duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên. Việc điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội là cần thiết nhưng không nên quá nhiều lần trong năm ảnh hưởng đến tâm lý người gửi tiền, khó huy động được vốn dài hạn, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay. Đây là điều kiện để ổn định giá trị tiền tệ, từ đó khuyến khích tiết kiệm, đầu tư, khuyến khích sản xuất.  Trên cơ sở đó đảm bảo khả năng thu hồi vốn của ngân hàng.

Ba là, Chính phủ cần có chính sách đẩy mạnh phát huy nội lực để chủ động hội nhập. Đây là yếu tố có tính quyết định, cần phải làm để các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế và mọi người dân Việt Nam nhận thức đúng về hội nhập để chủ động tham gia hội nhập. Từ đó không thờ ơ hoặc không thấy rõ tính bức xúc của hội nhập, ỷ lại và trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải khai thác có hiệu quả và phát huy nội lực, đổi mới kỹ thuật công nghệ, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng tính hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế.

Bốn là, tăng cường các biện pháp Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp, đảm bảo các doanh nghiệp hoạt động theo đúng chức năng; quy mô hoạt động phù hợp với vốn điều lệ, năng lực trình độ quản lý. Thu hồi có thời hạn hoặc vĩnh viễn đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập đối với các trường hợp vi phạm: buôn lậu, làm hàng giả, lừa đảo,… Cần có biện pháp kinh tế, hành chính buộc các doanh nghiệp phải chấp hành đúng Pháp lệnh kế toán thống kê. Thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc hàng năm đối với tất cả các doanh nghiệp nhằm xác lập sự lành mạnh của các chủ thể kinh tế trong cơ chế thị trường. Các doanh nghiệp Nhà nước cần được Bộ Tài chính cấp đủ vốn hoạt động để vốn vay ngân hàng chỉ là bộ phận hỗ trợ cho doanh nghiệp. Nhờ đó sẽ giải quyết được tình trạng vốn vay ngân hàng chiếm đến 80-90% nguồn vốn hoạt động của một số doanh nghiệp như hiện nay.

   Giải quyết được những vấn đề trên chính là một trong những nhân tố tiên quyết tạo nên năng lực cạnh tranh dài hạn, tăng sức mạnh của các doanh nghiệp và cũng chính là sức mạnh của nền kinh tế, là nền tảng vững chắc cho hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng, hoạt động ngân hàng nói chung.

3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam.

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần có biện pháp bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ cho các ngân hàng thương mại. Thông tin được nói ở đây không chỉ là những thông tin về doanh nghiệp mà còn là những thông tin có tính chất định hướng cho hoạt động của các NHTM. Những thông tin về doanh nghiệp sẽ được thu thập và cung cấp qua trung tâm thông tin tín dụng của NHNN (CIC). Nó bao gồm thông tin về khả năng tài chính, hiệu quả kinh doanh, hệ số an toàn vốn, quan hệ tín dụng của khách hàng với các NHTM, với các doanh nghiệp khác. Đây sẽ là căn cứ đáng tin cậy để các NHTM sử dụng trong quá trình thẩm định khách hàng.

            Thứ hai, cùng với thông tin về các doanh nghiệp, NHNN còn phải nắm vững để cung cấp cho các ngân hàng thương mại những thông tin về phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế của đất nước, của từng vùng, từng khu vực trong từng thời kỳ; tư vấn cho các ngân hàng thương mại về những lĩnh vực, những nhóm ngành mũi nhọn cần tập trung đầu tư vốn tín dụng nhằm góp phần thực hiện những chủ trương đường lối phát triển chung, đồng thời phát huy hiệu quả đồng vốn, bảo đảm an toàn tín dụng cho các NHTM.

Thứ ba, NHNN thực hiện rà soát sửa đổi lại các văn bản hướng dẫn, quy định; tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế nghiệp vụ trong hoạt động tín dụng, cơ chế huy động vốn, đẩy mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế nói chung và trong dân cư nói riêng. Cơ chế chính sách mới ban hành cần tiến sát với các chuẩn mực và thông lệ Quốc tế tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động của các TCTD trong tiến trình hội.         

Thứ tư, Ngân hàng Nhà nước cần tăng thêm quyền tự chủ cho các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng thương mại. Sự quản lý của NHNN chỉ nên dừng lại ở những vấn đề vĩ mô, những vấn đề chung nhất mang tính định hướng chứ không nên đưa ra những quy định quá cụ thể, chi tiết liên quan đến những vấn đề mang tính đặc thù riêng của mỗi ngân hàng, bởi lẽ điều kiện hoạt động của các NHTM không giống nhau nếu đưa ra những quy định cụ thể áp dụng chung cho mọi ngân hàng thì sẽ gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc thích ứng với môi trường kinh doanh cụ thể của mình.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả thanh tra giám sát của NHNN đối với NHNo & PTNT Việt Nam do: Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Công tác thanh tra cần được tăng cường và cải tiến cả về nội dung và hình thức. Từ đó, NHNN có thể phát hiện kịp thời chính xác những nguyên nhân dẫn đến rủi ro. Đào tạo đội ngũ thanh tra viên có trình độ cao, xây dựng cơ cấu tổ chức có hiệu quả.

3.3. Đối với NHNo & PTNT Việt Nam

Về các dự án lớn, NHNo & PTNT Việt Nam cần cân đối, hỗ trợ nguồn vốn với lãi suất hợp lý đảm bảo khả năng cạnh tranh của Ngân hàng. Việc ban hành chế độ nghiệp vụ tín dụng nên tránh mâu thuẫn chồng chéo với các quy định chung của Nhà nước.

Về chính sách, chế độ cho các cán bộ làm công tác tín dụng : Do tính chất phức tạp của công tác cho vay, nên cần sớm nghiên cứu ban hành cơ chế về chính sách, chế độ, thể lệ làm việc, nghĩa vụ quyền lợi của đội ngũ cán bộ tín dụng, có chính sách ưu đãi với cán bộ tín dụng về thu nhập, phương tiện đi lại đảm bảo an toàn. Ngân hàng đảm bảo thu nhập phải tương xứng với trách nhiệm công việc, phân phối thu nhập căn cứ vào chất lượng công việc, hạn chế tình trạng lạm dụng quyền hạn để cấp những khoản tín dụng rủi ro. Thường xuyên quan tâm tới việc động viên, khen thưởng với những cán bộ tín dụng giỏi để có cơ sở đề nghị xét chọn, khen thưởng hàng năm. Có chính sách khuyến khích thoả đáng mới đảm bảo được hiệu quả tín dụng và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đạt hiệu quả cao.

Về công nghệ thông tin: Tăng cường năng lực công nghệ cả về trang thiết bị và các chương trình tiện ích, các chương trình phần mềm ứng dụng, nhất là các chương trình cung cấp thông tin phục vụ cho công tác tín dụng ở những chi nhánh lớn trên những địa bàn mà có cạnh tranh gay gắt. NHNo & PTNT Việt Nam cần củng cố và nâng cao hơn nữa vai trò hoạt động của Trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro, phát hành đều đặn hàng tháng những thông tin cảnh báo cho các chi nhánh biết để phòng ngừa do hiện nay có nhiều TCTD cùng đầu tư cho một khách hàng nhưng lại thiếu thông tin về khách hàng đó tạo nên rủi ro tiềm ẩn rất lớn.

Về đào tạo nguồn nhân lực: Do điều kiện nền kinh tế nước ta mới chuyển hướng từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta chưa có điều kiện như các nước đã có nền kinh tế thị trường phát triển, họ đã dày dạn kinh nghiệm trong cho vay trung, dài hạn. Vì vậy, các cán bộ tín dụng nước ta thực hiện cho vay trung, dài hạn vẫn phải phấn đấu mọi mặt để có thể quyết định cho vay các dự án một cách hiệu quả nhất. NHNo & PTNT Việt Nam cần có kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ tín dụng qua các đợt học tập trung ngắn hạn về từng chuyên đề cụ thể như thẩm định dự án, phân tích tài chính doanh nghiệp, các văn bản luật liên quan đến ngân hàng. Đặc biệt, tăng cường đào tạo, đào tạo lại các cán bộ quản lý, viên chức trong cho các chi nhánh của ngân hàng ở các tỉnh miền núi. Đây là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.

KIẾN NGHỊ – GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG 3

3.1. Định hướng phát triển cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD

3.1.1. Định hướng của Nhà nước

Thành phố Hà Nội đang tổ chức lấy ý kiến cho dự thảo “Đề án xây dựng Hà Nội thành Trung tâm tài chính – ngân hàng hàng đầu khu vực phía Bắc” [1]. Theo đó,  bên cạnh vai trò là một Thủ đô – trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước, Hà Nội sẽ nhanh chóng được xây dựng thành một trung tâm tài chính – ngân hàng lớn, có vai trò quan trọng của cả nước.

Theo đề án này của thành phố, dự kiến lộ trình đến năm 2015, thị trường vốn, thị trường chứng khoán của thủ đô sẽ trở thành công cụ cơ bản để huy động vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp; các hoạt động kinh tế – xã hội trên địa bàn. Thị trường này sẽ từng bước tiếp cận, kết nối và liên thông với thị trường vốn quốc tế.

Các tiêu chí cụ thể được hoạch định theo lộ trình sau:

  • Vốn cho vay trung và dài hạn chiếm từ 40% – 42% tổng cho vay NHTM vào năm 2010.
  • Tổng giao dịch các hoạt động tài chính – ngân hàng trên địa bàn chiếm 45% – 50% tổng giao dịch huy động cả nước, chiếm 75% – 80% của khu vực phía bắc, chiếm 90% – 95% tổng giao dịch của vùng thủ đô.

Nhà nước chủ trương tiếp tục thực hiện các biện pháp khuyến khích đầu tư cho việc phát triển: ban hành, sửa đổi các chính sách về thuế, chính sách tài chính – tín dụng, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho DNNQD. Đồng thời, để hỗ trợ cho DNNQD tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, Nhà nước tiếp tục thành lập mới và phát triển các định chế tài chính thuộc sở hữu Nhà nước để thực hiện chính sách bảo lãnh tín dụng cho khu vực doanh nghiệp này.

3.1.2. Định hướng của CN NHCTCG

  • Định hướng nhiệm vụ kinh doanh năm 2008

            Trên tinh thần phát huy tối đa những kết quả đạt được năm 2007, tiếp tục bám sát các hoạt động kinh doanh năm 2008 của NHCTVN, trong năm 2008 toàn chi nhánh tiếp tục quyết tâm phấn đấu theo định hướng: Thực hiện “kinh doanh tài sản nợ”, bảo đảm tăng trưởng tín dụng ổn định lành mạnh, tập trung thu hồi hết nợ xấu, thu hồi tối đa nợ ngoại bảng, phát triển các sản phẩm dịch vụ bán lẻ nhằm tăng thu phí dịch vụ. Cụ thể phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu sau [2]:

  • Tổng nguồn vốn huy động: 3.000 tỷ đồng
  • Dư nợ cho vay nền kinh tế: 800 tỷ đồng, trong đó phấn đấu chuyển đổi danh mục cho vay đạt cơ cấu: 50-30-20 (khoảng 50% dư nợ nhóm khách hàng lớn; 30% dư nợ khách hàng vừa và nhỏ; 20% dư nợ đối với khách hàng cá nhân)
  • Nợ xấu: phấn đấu đến 31/12/2008 đạt dưới 1% trên tổng dư nợ
  • Thu hồi nợ ngoại bảng: tối thiểu 34 tỷ đồng
  • Mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ, tiện ích ngân hàng, phấn đấu có những sản phẩm dịch vụ trọn gói phục vụ khách hàng. Thu phí giao dịch tối thiểu là 7,5 tỷ đồng
  • Lợi nhuận đã trích dự phòng rủi ro: tối thiểu 55 tỷ đồng
    • Định hướng phát triển cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD

CN NHCTCG thực hiện đúng định hướng của ngành: giảm dần cho vay DNQD tăng cường cho vay với DNNQD; phấn đấu trở thành một ngân hàng  hàng đầu trên địa bàn trong lĩnh vực cho vay trung và dài hạn. Cơ cấu danh mục cho vay theo nhóm khách hàng phải đảm bảo đẩy mạnh tiếp thị, tập trung vốn cho vay với các doanh nghiệp thuộc các ngành có tiềm lực tài chính, sản xuất kinh doanh hiệu quả như điện lực, dịch vụ, xuất nhập khẩu, … Hoạt động đầu tư cho vay đang dần tiến tới mục tiêu ngân hàng của mọi thành phần kinh tế và của toàn dân, phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam cũng như định hướng của NHCTVN.

Tăng tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn có đảm bảo bằng tài sản. Phấn đấu đến năm 2010 tỷ trọng dư nợ cho vay có bảo đảm bằng tài sản chiếm trên 70% tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn của chi nhánh [3].

Phát triển cho vay trung và dài hạn với khối DNNQD nhưng phải đảm bảo chấp hành nghiêm ngặt các nguyên tắc và điều kiện tín dụng; tăng cho vay có bảo đảm, hạn chế cho vay nhiều vào một khách hàng. Phát triển cho vay trung và dài hạn trong khuôn khổ nhằm đảm bảo an toàn tín dụng: khống chế cho vay trung và dài hạn trong khoảng 40% tổng dư nợ nền kinh tế. Điều này có nghĩa là chi nhánh cần lựa chọn những dự án tốt, có vốn tự có tham gia lớn, hiệu quả cao, thời gian trả nợ nhanh, thực hiện lãi suất thả nổi thị trường, bù đắp đủ chi phí có hiệu quả trong đầu tư tín dụng.       

3.2. Một số giải pháp nhằm phát triển cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD tại CN NHCTCG

            Dựa trên định hướng phát triển của Chính phủ và của NHNN, cũng như phương hướng cụ thể mà CN NHCTCG đã hoạch định về phát triển tín dụng trung và dài hạn đối với DNNQD, sau thời gian thực tập được tiếp xúc với thực tế tại CN NHCTCG em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ này cho chi nhánh trong thời gian tới.

3.2.1. Nhóm giải pháp khách quan        

3.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống luật liên quan sao cho phù hợp với thực tế
  • Đổi mới chính sách khuyến khích huy động vốn trung và dài hạn

Hiện nay về cơ bản, lãi suất đã được tự do hoá, tuy nhiên, khả năng can thiệp để điều chỉnh lãi suất bằng các công cụ gián tiếp, thông qua nghiệp vụ thị trường mở của NHNN là rất hạn chế. Do đó, khi lãi suất huy động bị đẩy lên quá cao, NHNN nước tỏ ra lúng túng trong việc điều tiết, gây khó khăn trong công tác huy động vốn, nhất là vốn trung và dài hạn của hệ thống NHTM. Vì vậy, NHNN cần có các giải pháp hoàn thiện các công cụ gián tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ, hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở để có đủ năng lực điều tiết cung cầu về vốn, điều chỉnh lãi suất tạo thuận lợi cho hoạt động huy động vốn trung và dài hạn của các ngân hàng thương mại.

NHNN cần tạo quyền chủ động cho các NHTM, tạo sân chơi bình đẳng cho các NH trong lĩnh vực phát hành các công cụ huy động vốn trung và dài hạn. Ủy ban chứng khoán Nhà nước và NHNN cũng cần phối hợp để có các biện pháp khuyến khích các NHTM phát hành trái phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung; đồng thời, có các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu hiện đang đóng băng.

  • Thực hiện chính sách bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

NHNN cần có các chính sách nhằm khuyến cáo các NHTM phải thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động vốn; chủ động tiếp cận để cho vay các doanh nghiệp và không phân biệt thành phần kinh tế. Trong đó, chú trọng đối với các dự án sản xuất của khối DNNQD có các sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, dự án đầu tư xây dựng mua sắm, cải tiến dây chuyền máy móc thiết bị phục vụ cho việc nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh.

  • Tăng cường quản lý hoạt động của các DNNQD

            Nhà nước cần có các giải pháp hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp nói chung và DNNQD nói riêng, trước mắt là ở các khía cạnh chấp hành pháp lệnh kế toán thống kê đối với các doanh nghiệp, thủ tục cấp phép, đăng ký kinh doanh, … để nhằm lành mạnh hóa môi trường hoạt động cho các DNNQD.

Đảm bảo môi trường kinh tế phát triển lành mạnh thông qua hoàn thiện và ổn định chính sách kinh tế, quản lý vĩ mô là bước đầu tiên và quan trọng nhất để các doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh.

3.2.1.3. Thành lập các quỹ hỗ trợ nhằm bão lãnh vay vốn cho DNNQD

            DNNQD gặp khó khăn chủ yếu khi tiếp cận nguồn vốn vay từ NHTM chính là không đáp ứng đủ yêu cầu về tài sản đảm bảo tiền vay cũng như điều kiện về tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu trên tổng vốn dự án. Bên cạnh việc hỗ trợ về sửa đổi hành lang pháp lý tạo sân chơi công bằng cho mọi thành phần kinh tế thì Chính phủ cũng cần thành lập các quỹ hỗ trợ cho DNNQD. Các quỹ này được lập nên với nhiệm vụ là dùng uy tín của mình, thay mặt Nhà nước đứng ra bảo lãnh cho các DNNQD có nhu cầu vay vốn ngân hàng song không đáp ứng đủ điều kiện để được vay vốn. Các quỹ hỗ trợ này không những giúp cho DNNQD có được nguồn vốn trung và dài hạn kịp thời đáp ứng nhu cầu mà còn bảo đảm an toàn hoạt động cho NHTM.

3.2.2. Nhóm giải pháp chủ quan từ phía ngân hàng

3.2.2.1. Nâng cao tính độc lập, tự chủ trong hoạt động kinh doanh củangân hàng

Cho đến nay, NHTM Nhà nước vẫn là người cho vay DNQD lớn nhất. Có nhiều lý do: Mối quan hệ truyền thống, cùng hình thức sở hữu, nhu cầu vay của các DNQD lớn và khả năng cho vay của NHTM Nhà nước cũng lớn (NHTM cổ phần khó đáp ứng), nếu có rủi ro tín dụng xảy ra thì đã có Nhà nước xử lý. Điểm mấu chốt là NHTM Nhà nước do Nhà nước sở hữu duy nhất. Nhà nước với chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế được gắn chặt với Nhà nước – người chủ sở hữu duy nhất NH, quyết định toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ – tín dụng của NHTM.

Đảm bảo hoạt động độc lập của NHTM là yếu tố quan trọng để thực hiện đúng các quy định và pháp luật về tín dụng. Cổ phần hóa NHTM Nhà nước là biện pháp cơ bản. Đa dạng sở hữu trong NHTM Nhà nước sẽ làm tăng tính trách nhiệm của ngân hàng, hạn chế các khoản cho vay mang tính phong trào hoặc chỉ định hiện nay. Nhà nước có thể thực hiện chính sách hỗ trợ thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng Phát triển, hoặc ủy thác cho vay thông qua các NHTM.

3.2.2.2. Đẩy mạnh công tác huy động nguồn vốn

            Để phát triển được hoạt động cho vay trung và dài hạn thì trước hết ngân hàng phải đảm bảo được cho mình một nguồn vốn trung dài hạn lớn về quy mô, ổn định về kỳ hạn. Vì vậy, hoạt động huy động vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối với tín dụng nói chung cũng như cho vay trung và dài hạn nói riêng.

  • Củng cố các nguồn huy động vốn truyền thống

            Vốn huy động truyền thống thường từ các nguồn: Hội sở chính cấp phát, vay từ ngân hàng khác, dân cư, tiền gửi của doanh nghiệp… Trong đó, nguồn vốn trong dân cư và doanh nghiệp là quan trọng nhất vì đây là nơi tạo ra tích tụ vốn, là nguồn nguyên thủy để tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng. Trong bối cảnh nền kinh tế lạm phát hiện nay, thêm vào đó là sự phát triển sôi động của thị trường bất động sản và kinh doanh vàng, thì huy động vốn từ nền kinh tế càng trở nên khó khăn với bất cứ ngân hàng nào. Vì vậy ngân hàng cần tạo ra sức hấp dẫn riêng cho hoạt động huy động của mình bằng nhiều cách như:

  • Thường xuyên theo dõi biến động của lãi suất huy động trên địa bàn để có phương án chủ động điều chỉnh lãi suất một cách linh hoạt, và hợp lý. Mặt khác, cần áp dụng nhiều loại lãi suất có tính khuyến khích khác nhu. Ví dụ như gửi món tiền lớn trong thời gian dài lãi suất cao hơn gửi món tiền nhỏ (nghĩa là trong cùng một thời gian gửi tiền với số lượng lớn sẽ có mức lãi suất cao hơn số tiền nhỏ)
  • Tăng cường tiếp cận, tiếp thị trực tiếp tới các đối tượng có thu nhập cao
  • Áp dụng các hình thức tiết kiệm dự thưởng đối với tiết kiệm nói chung và tiết kiệm trên 12 tháng nói riêng nhằm thu hút nguồn tiền rải rác nhưng có tổng khối lượng lớn trong dân cư.
  • Thực hiện bảo đảm tiền gửi cho khách hàng nhằm tạo lòng tin cho họ.
  • Phát triển và đa dạng hoá các công cụ huy động vốn trung và dài hạn mới

Xem thêm: Cơ sở lý luận nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng

Chi nhánh cần tích cực huy động các nguồn vốn trung và dài hạn đảm bảo cân đối giữa cơ cấu huy động và cho vay. Thông qua các công cụ như: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi trên 01 năm và trái phiếu. Đây có thể coi là giải pháp quan trọng để huy động vốn trung và dài hạn. NHCTVN đã tổ chức nhiều đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi (kỳ phiếu ngân hàng) để huy động vốn trung hạn (từ 1 đến 5 năm), phát hành trái phiếu ngân hàng thương mại để huy động vốn dài hạn (cả nội tệ và ngoại tệ). Xu hướng các NHTM chuyển sang hình thức huy động vốn trung và dài hạn thông qua các giấy tờ có giá trị như trái phiếu nhằm mục đích huy động nguồn vốn lớn ổn định phục vụ cho các dự án lớn, dự án hợp vốn. Quan trọng hơn, phát hành trái phiếu làm tăng tổng tài sản của các ngân hàng. Giờ đây, có thể nói, tổng tài sản lớn đang là một thế mạnh mà các ngân hàng rất quan tâm khai thác.

Tuy nhiên, nghiệp vụ này theo quy định thì chỉ có hội sở chính NHCTVN mới được thực hiện. Các chi nhánh trong hệ thống như CN NHCTCG chỉ được nhận vốn cấp và điều phối của hoạt động này từ hội sở chính. Như vậy vô hình chung đã làm mất đi tính chủ động của đơn vị. Do đó, các chi nhánh như CN NHCTCG cần được tạo sự tự chủ nhất định trong việc huy động vốn bằng cách phát hành các công cụ trung và dài hạn nói trên. Khi có nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án lớn có hiệu quả thì chi nhánh có thể đề xuất lên Hội sở chính cho phép phát hành một số lượng trái phiếu nhất định mà không phải mất thời gian chờ đợi đợt phát hành chung của toàn hệ thống NHCTVN.

3.2.2.3. Nâng cao chất lượng thẩm định dự án cho vay đối với DNNQD

 Thẩm định dự án là khâu quan trọng có tính quyết định tới hiệu quả của toàn bộ quá trình cho vay. Một quy trình cho vay hoàn chỉnh phải gồm đủ 03 bước thẩm định điều kiện vay vốn, thẩm định rủi ro và tái thẩm định.

Công tác thẩm định dự án không chỉ giới hạn trong phạm vi một vấn đề mà nó gắn liền với nhiều hoạt động khác như pháp lý, môi trường hoạt động của ngành, môi trường vĩ mô của nền kinh tế, … Để nâng cao chất lượng thẩm định dự án thì bên cạnh sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan có thẩm quyền thì cần có sự nỗ lực rất lớn từ bản thân ngân hàng. Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn ngân hàng cần phải thực hiện đồng bộ và chính xác mới đảm bảo hạn chế rủi ro, tổn thất có thể xảy ra.

Đối với các dự án phức tạp thì ngân hàng phải đầu tư tài chính thuê thuê các chuyên gia  thẩm định nhằm tránh tình trạng chấp nhận ngay kết quả kỹ thuật đã đưa đến

  • Hoàn thiện quy trình và phương pháp thẩm định

Trách nhiệm của ngân hàng là phải thường xuyên cập nhật, hoàn thiện quy trình và phương pháp thực hiện thẩm định sao cho vừa đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng vừa đảm bảo quyền lợi cho khách hàng.

Quy trình thẩm định phải đảm bảo đầy đủ và phù hợp giữa hồ sơ pháp lý, tài liệu về tình hình sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính, hiệu quả dự án do khách hàng cung cấp với tình hình thực tế của họ.

Một khía cạnh quan trọng cần nói tới trong việc hoàn thiện phương pháp thẩm định đó là hoàn thiện phương pháp định giá tài sản bảo đảm.  Để không định giá quá cao tài sản đảm bảo gây ra tổn thất cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhưng cũng không đánh giá tài sản đảm bảo dưới giá trị của nó gây thiệt hại cho khách hàng của mình.

  • Hoàn thiện nội dung thẩm định

            Nội dung thẩm định phải chi tiết nhằm giúp cho cán bộ tín dụng có cái nhìn toàn diện nhất về khách hàng cũng như dự án mà khách hàng có nhu cầu vay vốn. Nội dung thẩm định phải đi sâu vào việc thẩm định các thông số dự báo thị trường và doanh thu, thẩm định dòng ngân lưu của dự án, thẩm định chi phí sử dụng vốn, thẩm định các chỉ tiêu đánh giá dự án và quyết định đầu tư, thẩm định khả năng trả nợ và lãi vay.

Kết quả thẩm định phải bao gồm đầy đủ các kết quả về các mặt:

  • Thẩm định khách hàng
  • Thẩm định cơ sở pháp lý của dự án
  • Thẩm định sự cần thiết của dự án
  • Thẩm định phương diện thị trường và khả năng tiêu thụ
  • Thẩm định phương diện kỹ thuật: Quy mô; giải pháp thiết kế công trình; điều kiện hạ tầng kinh tế, môi trường
  • Thẩm định phương án địa điểm
  • Thẩm định kế hoạch khai thác dự án
  • Thẩm định phương diện tổ chức sản xuất và quản lý
  • Kết quả chấm điểm tín dụng
3.2.2.4. Hoàn thiện công tác thu thập thông tin

      Thông tin là một nhân tố quan trọng trong khâu phân tích tín dụng của NHTM. Thông tin chính xác và kịp thời là những điều kiện tiên quyết đảm bảo cho quá trình thẩm định có chuẩn xác hay không. Thông tin đầy đủ là nền tảng vững chắc cho phán quyết tín dụng hợp lý. Điều này càng trở nên đặc biệt quan trọng đối với việc cho vay với đối tượng khách hàng là các DNNQD vốn còn nhiều sai phạm về khai báo thông tin cho ngân hàng. Thông tin đến với ngân hàng có từ nhiều nguồn: hồ sơ tín dụng, phỏng vấn khách hàng vay vốn, điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng và nguồn thông tin bên ngoài. Mỗi một bộ phận thông tin này được thu thập và thẩm định kỹ càng là giảm bớt được một phần rủi ro cho hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM. Trong các nguồn thông tin này thì ngân hàng cần đặc biệt quan tâm tới các thông tin từ bên ngoài bao gồm:

  • Thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng (cơ quan chuyên định giá tín dụng)
  • Thông tin từ các cơ quan hữu quan: thuế, trung tâm đăng ký giao dịch đảm bảo, hải quan, quản lý thị trường, quản lý nhà đất, địa chính …
  • Thông tin từ người thường xuyên có quan hệ với khách hàng vay: nhà cung cấp, chủ nợ, người tiêu thụ.
  • Thông tin từ phương tiện thông tin đại chúng
  • Thông tin lưu trữ tại chính ngân hàng

      Các thông tin từ bên ngoài sẽ là tấm gương phản ánh những thông tin được doanh nghiệp cung cấp trong hồ sơ tín dụng có chính xác không. Nó đồng thời bổ sung cho các thông tin mà cán bộ tín dụng thu thập được từ việc trực tiếp phỏng vấn khách hàng vay vốn và điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng.

3.2.2.5. Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng

Đây là vấn đề không mới tuy nhiên dù đã được nói tới rất nhiều lần song vẫn chưa được ngân hàng thực hiện tốt. Có phát triển được cho vay hay không phụ thuộc phần lớn vào trình độ cán bộ tín dụng của ngân hàng. Vì vậy, trình độ cán bộ tín dụng phải được chuẩn hoá, không ngừng nâng cao. Ngân hàng phải có nhiều chương trình đào tạo dưới nhiều hình thức: bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, tổ chức tập huấn, thi tình huống, đặc biệt là trình độ thẩm định dự án, phương án vay vốn, lựa chọn khách hàng, vận dụng các chế độ thể lệ tín dụng đã ban hành.

            Đội ngũ cán bộ thẩm định phải gồm những người am hiểu chuyên ngành, có kinh nghiệm tư vấn dự án, phương án sản xuất kinh doanh cho DNNQD. Cán bộ tín dụng phải được đào tạo chuyên môn kỹ thuật vào các lĩnh vực mà đang cần lượng vốn trung và dài hạn lớn hiện nay như xây lắp, cầu đường, đóng tàu, mua sắm máy móc, … để có thể chủ động thẩm định dự án vay vốn của khách hàng. Mặt khác, ngân hàng phải có các chương trình phối, kết hợp chặt chẽ với các bên liên quan (ngoài ngân hàng) để thẩm định chính xác các dự án trước khi cho vay.

            Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng phải được coi là nhiệm vụ chiến lược trước mắt cũng như lâu dài trong quá trình phát triển của chi nhánh. Quá trình này một mặt phải tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ tín dụng hiện có, mặt khác phải tuyển dụng những cán bộ tín dụng mới, trẻ, khoẻ, được đào tạo cơ bản ở các trường đại học.

            Đổi mới công tác quản lý cán bộ tín dụng, kiên quyết không sử dụng, bố trí những cán bộ thiếu bản lĩnh chính trị, bản lĩnh kinh doanh, thiếu trung thực, thiếu công tâm, kém năng lực, … dễ móc ngoặc với các doanh nghiệp yếu kém để làm sai lệch hồ sơ gây ra tổn thất cho hoạt động của ngân hàng

3.2.2.6. Thực hiện chính sách khách hàng đặc biệt với khối DNNQD

            Muốn đẩy mạnh phát triển cho vay trung và dài hạn đối với khối DNNQD thì vấn đề chính yếu là phải có được khách hàng và thu hút được khách hàng. Việc này đòi hỏi chi nhánh một mặt phải nghiên cứu tình hình kinh tế trên địa bàn, các ngành nghề tập trung nhiều DNNQD có nhu cầu mở rộng, cải tiến phát triển DN mình để thu hút thêm khách hàng mới. Ngân hàng cần chủ động tiếp cận với các DNNQD làm ăn có hiệu quả để đầu tư vốn trung và dài hạn mà không đợi tới khi họ tìm đến với mình. Mặt khác, chi nhánh cũng cần kiên quyết thực hiện sàng lọc khách hàng, loại bỏ các khách hàng hoạt động yếu kém, tiềm ẩn nhiều rủi ro, từ đó xác định các khách hàng chiến lược có tiềm lực tài chính tốt, sản xuất kinh doanh hiệu quả, có tín nhiệm với ngân hàng để tập trung tạo mối quan hệ chặt chẽ, lâu dài. Đây là cơ sở tạo nên nhóm khách hàng trung thành cho chi nhánh.

Để thu hút thêm khách hàng thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thì chi nhánh cần phải thiết lập một chính sách đặc biệt đối với họ. Trước hết cần giảm thiểu những sự phân biệt đối xử trong quan hệ của ngân hàng đối với DNQD và đối với DNNQD. Ngân hàng cần tạo mọi điều kiện để phục vụ khách hàng nhanh hơn, chất lượng hơn, giúp khách hàng cạnh tranh lành mạnh, qua đó thu hút nhiều khách hàng có uy tín đến giao dịch, mở rộng thị phần tín dụng của ngân hàng. Ngân hàng phải thường xuyên phân loại khách hàng theo tiêu chí nhất định để có chính sách ưu đãi nhất định đối với các DNNQD. Những doanh nghiệp có uy tín, có quan hệ tín dụng thường xuyên, trả nợ gốc và lãi đúng hạn thì phải được hưởng ưu đãi như giảm lãi suất tiền vay, tăng lãi suất tiền gửi, giảm phí dịch vụ, …

Bên cạnh đó, một phương thức không kém phần quan trọng mà chi nhánh cần thực hiện là linh hoạt hình thức cho vay có đảm bảo. Năng lực của các DNNQD thường lớn hơn so với tài sản thực có của họ. Do đó, muốn mở rộng cho vay đồng thời tạo hướng cho các doanh nghiệp, ngân hàng cần mạnh dạn áp dụng hình thức cho vay đảm bảo bằng hàng hoá, dịch vụ. Ngân hàng có thể giải quyết cho vay căn cứ vào tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường. Tài sản bảo đảm tiền vay chỉ là phương tiện cuối cùng, là nguồn trả nợ khi rủi ro xảy ra, do vậy ngân hàng cần linh hoạt áp dụng hình thức thế chấp, tín chấp, bão lãnh …sao cho phù hợp mà vẫn đảm bảo an toàn cho hoạt động của mình. Đối với một số doanh nghiệp tuy không đủ tài sản đảm bảo nhưng có uy tín và sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì ngân hàng vẫn có thể cho vay, trên cơ sở đảm bảo vốn vay chính là kết quả sản xuất kinh doanh có được do vay vốn đem lại.

3.2.2.7. Tăng cường hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ

Các món vay trung và dài hạn đối với DNNQD tiềm ẩn nhiều rủi ro trước mắt và cả trong lâu dài. Rủi ro trước mắt là rủi ro về thanh khoản khi ngân hàng dùng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Rủi ro lâu dài là rủi ro về lãi suất và rủi ro tín dụng với khoản vay. Như vậy, ngân hàng cần tăng cường các biện pháp kiểm tra, kiểm soát của mình. Một số giải pháp có thể được xem xét là:

  • Giám sát khách hàng vay, theo dõi rủi ro có thể xảy ra: thường xuyên nắm tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh, tài sản bảo đảm, thời gian doanh nghiệp có nguồn thu để đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn.
  • Xem xét lại kỹ lưỡng và toàn diện việc tuân thủ chính sách, tuân thủ cho vay, những nhược điểm trong quy trình cho vay; năng lực, trình độ cán bộ trong việc thự hiện các nghiệp vụ; đánh giá giá trị tài sản thế chấp, sự bảo đảm các yếu tố pháp lý của hồ sơ tín dụng; thực trạng nợ ngân hàng thông qua việc phân loại nợ; kịp thời pháp hiệnh những sai phạm để chấn chỉnh kịp thời.
  • Thông qua kiểm tra các khoản nợ có vấn đề cũng như kết quả kiểm tra cần được thông báo công khai, kịp thời cho các cấp lãnh đạo để có biện pháp xử lý kịp thời theo chức năng nhiệm vụ được phân; thực hiện các hình thức giám sát phù hợp để đạt được mục tiêu đề ra, chứng tỏ hiệu quả và vai trò của công tác kiểm soát.
  • Xây dựng hoàn chỉnh các quy chế, quy trình kiểm tra. Củng cố kiện toàn hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ tại chi nhánh.
  • Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc (chứ không trực thuộc các phòng/ ban) về việc kiểm tra giám sát, đảm bảo an toàn và đúng luật pháp mọi hoạt động của chi nhánh.

KIẾN NGHỊ – GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG 4

3.1. Phương hướng phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn của ngân hàng DongA trong thời gian tới

3.1.1. Kế hoạch năm 2008 của DongA bank

  • – DongA Bank xác định khác hang Doanh nghiệp nhỏ và vừa là khách hang trọng tâm.
  • – Từng bước thiết lập cá sản phẩm dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp lớn.
  • – Tập trung phát triển mạnh mẽ khối lượng khách hang cá nhân tại Việt Nam.
  • – Bổ sung nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển của ngân hang
  • – Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hang hiện đại dựa trên nền tảng công nghệ hiện có của DongA Bank
  • – Mục tiêu của DongA Bank là trở thành ngân hang tốt nhất Việt Nam vào năm 2010 và trở thành tập đoàn tài chính tốt nhất Việt Nam vào năm 2015.

3.1.2 Phương hướng phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn của ngân hang:

Nằm trong kế hoạch phát triển kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới, phương hướng phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn được ngân hang cụ thể hoá và phấn đấu thực hiện.

Trước hết, ngân hàng sẽ lựa chọn những dự án phù hợp với chiến lực phát triển đất nước trong thời gian tới theo các ngành kinh tế, các vùng và kế hoạch phát triển tổng thể của từng doanh nghiệp. Khi xét duyệt dự  án, ngân hang  luôn lấy tiêu chuẩn hiệu quả và tính khả thi của dự án là tiêu chuẩn hàng đầu.

Duy trì thường xuyên công tác tổ chức đánh giá phân loại khách hàng theo định kì ( trên cơ sở các thông tin có chọn lọc ). Từ đó xây dựng giới hạn cho vay và hạn mức tín dụng cho từng khách hàng, có chính sách lãi suất phù hợp kết hợp với chính sách phát triển sản phẩm dịch vụ theo hướng đáp ứng tối đa nhu cấu khách hàng để có thể gia tăng số dịch vụ cung cấp cho từng khách hàng, đồng thời tăng doanh số giao dịch.

Tăng cường thu thập thông tin về các chương trình đầu tư phát triển  của thành phố, của các bộ ngành, các tổng công ty kết hợp với tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhằm lên kế hoạch tiếp cận cụ thể với các chính sách áp dụng phù hợp, đáp ứng đúng nhu cầu khách hàng.

Thực hiện nghiêm túc luật tổ chức tín dụng và quy trình tín dụng của ngành, nâng cao vai trò công tác thẩm định dự án trong xét duyệt cho vay trung và dài hạn, tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát, nhất là đối với các doanh nghiệp có dấu hiệu khó khăn để không phát sinh thêm nợ quá hạn và rủi ro trong tín dụng.

Mở rộng cho vay ngoại tệ với những khách hàng có khả năng tái tạo ngoại tệ hoặc tìm được nguồn cung ngoại tệ từ các doanh nghiệp khác, cho vay kết hợp với áp dụng các công cụ phòng chống rủi ro tỉ giá, xác định khả năng hỗ trợ ngoại tệ của ngân hàng đối với một số khách hàng có doanh số giao dịch lớn để nâng mức tăng trưởng tín dụng một cách an toàn trên cơ sở chính sách cung ứng ngoại tệ phù hợp với tình hình cung cầu.

3.2. Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân hang DongA

3.2.1.Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án và ra quyết định cho vay:

Xét trên quan điểm của hoạt động tín dụng trung và dài hạn, thẩm định các dự án đầu tư là khâu quan trọng nhất: Để tăng hiệu quả của công tác này, đảm bảo an toàn cho các khoản cho vay, từ đó nâng cao chất lượng của hoạt động cho vay trung và dài hạn, trong khi xét duyệt cho vay, cán bộ tín dụng cần đặc biệt chú ý tới các điều kiện cơ bản sau:

– Coi trọng tính pháp lí của các pháp nhân vay vốn.

– Đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, xem xét khả năng tài chính dùng cho hoàn trả vốn vay và xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong những năm tới.

– Thẩm định các dự án xin vay một cách chi tiết đầy đủ, tính toán các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật quan trọng của dự án, so sánh với các định mức của ngành và của nhà nước giúp cho việc đánh giá mức độ khả thi của dự án được chính xác. Đồng thời nên phát huy vai trò tư vấn cho doanh nghiệp.

Qua khảo sát thực tế các khâu tại ngân hàng, em nhận thấy còn một vài vấn đề cần phải được sửa đổi và làm rõ thêm. Dưới đây là một vài biện pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định và ra quyết định cho vay của ngân hàng:

3.2.1.1.Đổi mới dần cách thức thẩm định dự án

Hoạt động cho vay vốn trung và dài hạn của ngân hàng không chỉ bó hẹp trong các món vay trung hạn mà sẽ mở rộng cho vay cả các dự án lớn với thời gian dài đến hàng chục năm. Điều này buộc ngân hàng phải hoàn thiện một bước phương thức thẩm định dự án, chuyển từ phân tích tài chính giản đơn sang phân tích tài chính bằng phương pháp hiện giá có tính đến sự biến động của tiền tệ. Bên cạnh đó, ngân hàng nên sử dụng phương pháp phân tích độ nhạy và phương pháp so sánh để có cách nhìn chính xác hơn về tính khả thi và độ an toàn của dự án, có nghĩa là phải đặt dự án trong sự biến động của các yếu tố có liên quan: Nếu một dự án trong trường hợp xấu nhất vẫn đạt được một tỉ suất thu hồi vốn nội bộ (IRR) và giá trị hiện tại thuần (NPV) đủ bù đắp được lãi phải trả ngân hàng ở mức độ các doanh nghiệp chấp nhận được thì dự án đó có khả năng trả nợ chắc chắn nhất.

3.2.1.2.Kéo dài thời gian cho vay đối với các dự án đầu tư chiều sâu theo dây chuyền công nghệ lớn.

Hiện tại các khoản cho vay trung và dài hạn của ngân hàng chủ yếu là trung hạn không quá 5 năm. Theo quy định, đối với các dự án đầu tư chiều sâu có thời gian xây dựng thì thời hạn cho vay không quá 3 năm, còn các dự án mua máy móc về lắp đặt thì thời hạn cho vay chỉ 2 năm. Quy định về thời hạn cho vay như vậy là chưa thật hợp lí: cũng là một hình thức đầu tư chiều sâu nhưng các dự án đầu tư theo cả một dây chuyền mới dù với quy mô vừa hay nhỏ thì doanh nghiệp cũng khó hoàn trả vốn trong thời gian 3 năm bởi lẽ với một dây chuyền mới, sản phẩm sản xuất ra sẽ là mới đối với thị trường (về giá cả, chất lượng, chủng loại,…); mặt khác, công nhân phải có thời gian làm quen với dây chuyền mới, sản phẩm mới… do đó thời kì đầu sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ chậm cần có thời gian chiếm lĩnh thị trường, thậm chí doanh nghiệp có thể bị thua lỗ trong thời gian này. Vì vậy, đối với các doanh nghiệp đầu tư theo hình thức này thời gian cho vay nên dài hơn, có thể chuyển qua cho vay tín dụng dài hạn (trên 5 năm).

3.2.1.3. Giảm bớt thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn

Để khắc phục tình trạng hồ sơ vay vốn thiếu trung thực làm mất thời gian thẩm định lại số liệu, khi doanh nghiệp có ý định vay vốn tại ngân hàng, cán bộ tín dụng cần phổ biến cho doanh nghiệp các thủ tục cần thiết trong hồ sơ và yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tài liệu thoả mãn các điều kiện sau:

  • – Cung cấp một cách trung thực các thông tin về sản xuất kinh doanh.
  • – Hồ sơ gửi đến phải đầy đủ, rõ ràng, chính xác, ngắn gọn.
  • – Các bảng biểu trước khi đến ngân hàng cần phải có xác nhận của cơ quan kiểm toán để đảm bảo các số liệu hạch toán là chính xác.
3.2.1.4. Nâng cao trình độ thẩm định dự án của cán bộ tín dụng:

Ngân hàng cần phải làm tốt hơn nữa công tác đào tạo cán bộ trong ngân hàng từ lãnh đạo tới nhân viên về các kiến thức thẩm định dự án. Tiến hành các tổ thẩm định tại ngân hàng phục vụ cho công tác thẩm định các dự án lớn. Cần phải mời các chuyên gia kĩ thuật đối với các dự án lớn, kĩ thuật phức tạp…

Trên cơ sở cán bộ có trình độ chuyên môn cao, được trang bị hiện đại, ngân hang có thể thành lập các phòng tư vấn và lập dự án. Với ưu thế nắm bắt được thông tin từ nhiều lĩnh vực, có quan hệ rộng với nhiều doanh nghiệp lớn, các nhà cung cấp và tiêu thụ… các phòng tư vấn của Sở sẽ giúp doanh nghiệp ra quyết định đầu tư một cách chính xác và hiệu quả nhất.

3.2.2.Các biện pháp nhằm tạo lập nguồn vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của các doanh nghiệp 

3.2.2.1. Hoàn thiện và phát triển hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm có kì hạn trên một năm

Về cơ bản, thu nhập và tích luỹ của người dân đang có xu hướng tăng lên. Ngân hàng nên điều chỉnh hoạt động huy động vốn nhằm thu hút được một bộ phận tiền gửi dài hạn bằng cách luôn đảm bảo thực hiện một chính sách lãi suất thực dương, triển khai rộng rãi hình thức gửi tiết kiệm một nơi nhưng rút được ở nhiều nơi, gồm  tại cả các chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng DongA

Ngân hàng cũng nên đưa ra các hình thức tiền gửi tiết kiệm mới như: tiền xây dựng nhà ở, mua ô tô, tiết kiệm trả lãi trước, tiết kiệm có đảm bảo bằng vàng… với các điều kiện hợp lí và hấp dẫn hơn đối với khách hàng.

Bên cạnh việc đa dạng hoá các hình thức, kì hạn tiền gửi, cần phải nâng cao tinh thần, tác phong phục vụ, giáo dục cán bộ công nhân viên trong giao tiếp.

Cải thiện một bước đáng kể chất lượng dịch vụ, cải tiến quy trình nghiệp vụ giảm bớt thủ tục giấy tờ nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, tạo niềm tin, thông qua khách hàng cũ mở rộng marketing tới khách hàng mới.

3.2.2.2.Chính sách lãi suất hợp lí

Lãi suất là một trong các yếu tố có tác động mạnh mẽ đến việc thu hút vốn trung và dài hạn. Người gửi tiền vào Ngân hàng thường đặt mục tiêu lãi suất lên hàng đầu.Giũa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay xuất hiện mâu thuẫn ,đó là đẻ tăng cường vốn vay ,ngân hàng cần tăng lãi suất tiền gửi nhưng điều này lại gây khó khăn cho hoạt động cho vay khi doanh nghiệp phải chịu mức chi phí cao .Nắm bắt điều này,thời gian qua ngân hàng đã đề ra một chính sách lãi suất khá hợp lý,phù hợp để hấp dấn người gửi tiền, lại vừa hạn chế sự gia tăng của lãi suất đầu ra .Tuy nhiên để thực hiện điều này, ngân hàng cần có một chính sách về một lãi suất như sau :

  Nâng cao lãi suất đối với tiền gửi trung và dài hạn, đồng thời hạ lãi suất tiền gửi không kỳ hạn hoặc kỳ hạn ngắn để đảm bảo lãi suất trung bình chung vẫn không bị tăng lên với toàn bộ nguồn huy động.

  Tăng lãi suất huy động gắn liền với việc sử dụng vốn, ngân hang có thể chia nhỏ các kì hạn thu gốc, lãi và những khoản thu đó để cho vay tiếp làm cơ sở cho việc tăng lãi suất huy động .

  Có biện pháp khuyến khích khách hàng duy trì số dư trên tài khoản với thời hạn dài hơn hạn gửi ban đầu.

3.2.2.3 Phát triển tài khoản cá nhân ,phát hành séc cá nhân có thể thanh toán

Tuy đây không được các nguồn vốn trung và dài hạn nhưng nó có ý nghĩa rất quan trọng với hoạt động cho vay của ngân hàng trong tương lai .trước hết các hình thức này giúp ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để mở rộng tín dụng đối với nền kinh tế ,nguồn này thường xuyên biến động nhưng tính trên toàn bộ tài khoản tiền gửi thanh toán luôn tồn tại một số dư nhất định mà ngân hàng có thể sử dụng để cho vay .Ngoài ra do chỉ phải trả lãi thấp ,thậm chí không trả lãi cho các tài khoản thanh toán , nên nếu ngân hàng mở rộng được nguồn vốn này thì sec có điều kiện hạ lãi suất huy động ,từ đố hạ lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp .

3.2.2.4 Thực hiện bảo hiểm tiền gửi

Tích cực hưởng ứng bảo hiểm tiền gửi để nâng cao tín nhiệm đối với khách hàng .Thực hiện bảo hiểm tiền gửi là một hoạt động mới mẻ, hoạt động này tạo nên sự tin tưởng của khách hàng về độ an toàn của khoản tiền gửi ỏ khách hàng .Như vậy sự tin cậy tăng lên thì các khoản tiền gửi có bảo hiểm sẽ tăng nhanh, tạo nguồn vốn dồi dào cho ngân hàng.

3.2.2.5. Thực hiện kinh doanh ngoại tệ

 Tăng năng lực kinh doanh ngoại tệ thông qua mở rộng mạng lưới khách hàng mua bán ngoại tệ ,tăng thêm khách hàng kinh doanh xuất nhập khẩu để nâng cao tính ổn định của nguồn ngoại tệ cung ứng ,đồng thời giảm thiểu rủi ro về tỉ giá trong hoạt động cho vay bằng ngoại tệ .

3.2.2.6. Nâng cao chất lượng sử dụng vốn

Huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, xuất phát từ các nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, ngân hàng tổ chức huy động vốn với các hình thức, biện pháp thích hợp. Đến lượt mình sử dụng vốn vay có hiệu quả lại cho phép ngân hang tìm kiếm, mở rộng nguồn vốn của mình. Vì vậy, để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, ngân hàng cần quan tâm đến việc nâng cao chất lượng sử dụng vốn , chủ động tìm kiếm và lựa chon những dự án có hiệu quả kinh tế cao, thực hiện tốt công tác quản lí tín dụng làm cơ sở cho việc mở rộng hoạt động của ngân hàng , trong đó có hoạt động huy động vốn 

3.2.3. Các biện pháp liên quan tới đảm bảo tín dụng trung và dài hạn.

Đảm bảo tín dụng trung và dài hạn có tầm quan trọng đặc biệt, nó hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra. Vì vây, để nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng, hạn chế rủi ro, việc đảm bảo tín dụng cần được làm tốt hơn qua một số các biện pháp sau:

3.2.3.1. Về việc đảm bảo tín dụng qua thế chấp tài sản

Hiện nay đa số các khoản vay trung và dài hạn ở ngân hàng đều được đảm bảo qua thế chấp tài sản. Đối với tài sản thế chấp cần xem xét theo các mặt sau:

Giấy tờ sở hữu tài sản:

Ngân hàng trước khi cho vay cần thẩm tra một cách thận trọng các giấy tờ chứng nhận sở hữu tài sản thế chấp, chỉ cho vay sau khi đã khẳng định được tài sản thế chấp có đầy đủ giấy tờ hợp pháp, tài sản thế chấp của các doanh nghiệp,  cá nhân.

Khả năng phát mại của tài sản:

Tài sản thế chấp phải có khả năng bán được một cách hợp pháp. Tài sản thế chấp vẫn do người vay bảo quản và sử dụng. Vì vậy ngân hàng nên có các quy định để đảm bảo an toàn vốn cho ngân hang trong trường hợp sử dụng tài sản thế chấp là bất động sản nói chung và nhà nói riêng. Chẳng hạn như yêu cầu sửa chữa và nâng cấp để đảm bảo giá trị tài sản, tài sản thế chấp phải có bảo hiểm. Đồng thời ngân hàng phải tiến hành kiểm tra tài sản thế chấp thường xuyên.

Thủ tục thế chấp tài sản:

Thủ tục thế chấp tài sản phải đảm bảo chặt chẽ về mặt pháp lí để đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng, đồng thời cũng phải tạo điều kiện để khách hàng có thể nhanh chóng vay được vốn. Để đảm bảo được điều này ngân hang có thể sử dụng những mẫu hợp đồng đảm bảo tiền vay riêng cho hình thức vay thế chấp tài sản. Mặt khác ngân hàng cần phối hợp với cơ quan công chứng để giải quyết nhanh chóng thủ tục ký kết hợp đồng thế chấp tài sản.

Xác định giá trị tài sản thế chấp:

Đây là vấn đề quan trọng có liên quan mật thiết với việc ấn định mức cho vay của ngân hàng đối với khách hàng. Thực chất của việc xem xét giá trị là để bảo toàn tiền vay khi phát mại tài sản. Trong việc xác định giá cần tính tới sự giảm giá tự nhiên của tài sản (do khấu hao) và biến động giá trên thị trường. Do vậy việc xác định giá cần được xem xét ở thời điểm hiện tại, diễn biến trong tương lai, đặc biệt vào thời điểm bảo toàn vốn, từ đó tính giá trị của tài sản làm đảm bảo tiền vay.

Ngoài ra ngân hang cũng cần xem xét khả năng phát mại của tài sản mà đưa ra các tỷ lệ tính giá trị đảm bảo tín dụng hợp lí.

Xem thêm: Thực trạng nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng

3.2.3.2. Ngân hang không nên coi tài sản thế chấp là chỗ dựa an toàn cho khoản tiền vay phát ra.

Mục đích cho vay không phải chỉ là thu nợ mà còn là giúp khách hàng có vốn để duy trì hay mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, mang lại hiệu quả kinh tế cho khách hàng, cho xã hội và cho chính bản thân ngân hàng. Một khi đã phải mang tài sản thế chấp ra phát mại thì mọi chuyện đã rồi: sản xuất kinh doanh thua lỗ rồi, vốn cũng đã mất rồi và quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng coi như chấm dứt.

– Không phải tài sản thế chấp nào cũng có thể dễ dàng bán ra để ngân hàng thu nợ một cách kịp thời và thực tế đã chứng minh rằng thu nợ bằng tài sản xiết nợ đang là gánh nặng khó xử lý đối với nhiều ngân hàng thương mại.

– Tài sản thế chấp thường là bất động sản, nó còn liên quan tới các chi phí bảo dưỡng, thu hồi, hoặc các chi phí pháp lý khác.

– Việc tranh giành quyền sở hữu đối với tài sản thế chấp cũng là một vấn đề khó khăn khi thanh lý, phát mại tài sản.

Từ phân tích trên cho thấy thu nợ bằng tài sản thế chấp không thể là giải pháp duy nhất đảm bảo an toàn vốn, vì khả năng thu nợ bằng tiền thực sự từ phát mại tài sản thế chấp cũng là một công việc nhiều khó khăn. Vì vậy để đảm bảo an toàn cho các khoản cho vay, ngân hang nên thực hiện theo hướng sau:

– Mặc dù có tài sản thế chấp nhưng mọi nguyên tắc, thủ tục quy trình cho vay, giám sát và thu nợ phải được thực hiện một cách nghiêm túc như trường hợp không có tài sản thế chấp.

– Không phải khách hàng nào cũng đòi hỏi phải có tài sản thế chấp  mới cho vay, mà ngân hang nên xem xét tới uy tín của khách hàng. Tất nhiên “uy tín” ở đây bao hàm rất nhiều vấn đề, đó là bề dày kinh nghiệm trong mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, là khả năng quản lý, là năng lực trả nợ… và đặc biệt là hiệu quả kinh tế của dự án đang có nhu cầu vay vốn.

Tất cả những điều đó sẽ cho ngân hang một chân dung hoàn chỉnh của khách hàng giúp ngân hang có được một cách xử lý đúng đắn với mức độ rủi ro thấp nhất.

Thực tế thường hay xảy ra (không phải tuyệt đối) một nghịch lí: doanh nghiệp đã mạnh thì những tài sản thế chấp lại rất tốt và thực ra những doanh nghiệp đó lại không cần thiết phải có tài sản thế chấp; trong khi đó những doanh nghiệp yếu cần tài sản thế chấp thì thậm chí tài sản của doanh nghiệp cũng chẳng có gì để mà thế chấp. Và trong một số trường hợp đặc biệt, nếu khách hàng đã cố tình lừa gạt thì tài sản thế chấp cũng chỉ là đồ giả. Vì vậy, vấn đề chính trong giải quyết cho vay không phải ở chỗ có tài sản thế chấp hay không mà doanh nghiệp đi vay là ai và hiệu quả sử dụng vốn vay như thế nào.

3.2.3.3. Việc định lượng rủi ro phải được tiến hành một cách liên tục trong suốt quy trình tín dụng.

ở các ngân hàng thương mại nói chung, quy trình tín dụng thường được chia làm ba giai đoạn:

– Giai đoạn một: từ khi khởi đầu cho vay đến khi phát tiền vay.

– Giai đoạn hai: giám sát quá trình sử dụng vốn vay.

– Giai đoạn ba: thu nợ.

Trong ba giai đoạn trên, công việc ở giai đoạn một và ba được cụ thể hoá nhưng ở giai đoạn hai nội dung công việc không được rõ ràng (công việc là giám sát nhưng giám sát như thế nào, có giám sát hay không?). Chính sự không rõ ràng này nên hầu như giai đoạn này bị bỏ qua. Đây là một sơ hở trong quản lý tín dụng của các ngân hàng thương mại ảnh hưởng không tốt đến khả năng thu hồi nợ trong giai đoạn ba. Như ta đã biết hầu hết người vay kinh doanh thua lỗ đều có dấu hiệu báo trước. Ngân hàng không thu được nợ là do không có sự theo dõi giám sát nên không nhận biết sớm được thông tin. Nếu có sự giám sát chặt chẽ thì sẽ không xảy ra chuyện như khách hàng bán toàn bộ kho hàng thế chấp mà ngân hàng không biết. ở giai đoạn hai, ngân hàng cần chú ý kiểm soát tại chỗ (tại doanh nghiệp: kho tàng, sổ sách…), có như vậy mới biết được đồng vốn của mình hoạt động ra sao, tránh tình trạng lơi lỏng thiếu thông tin để doanh nghiệp sử dụng vốn không đúng mục đích, dễ gây đến tình trạng mất vốn.

Đối với ngân hàng, tuy tình trạng rủi ro như trên chưa xảy ra nhưng trong tình hình chung hiện nay việc kinh doanh của nhiều doanh nghiệp còn không ổn định vững vàng, các thủ đoạn lừa đảo ngày càng phát triển và tinh vi hơn thì việc định lượng rủi ro thường xuyên phải được coi là một công việc quan trọng trong quy trình cho vay. Cụ thể, ngân hang nên chia kỳ hạn cho vay thành những giai đoạn nhỏ, rõ ràng và ở mỗi giai đoạn đó, cán bộ tín dụng phải định lượng lại mức độ rủi ro của khoản vay dựa trên những thông tin nắm được, từ đó đưa ra biện pháp xử lí nhằm nâng cao  khả năng thu nợ.

3.2.3.4. Đối với cán bộ tín dụng, ngân hang nên giao trách nhiệm một cách rõ ràng nhưng cũng phải quan tâm hơn đến quyền lợi của họ

Hoạt động tín dụng trung và dài hạn là một hoạt động rất phức tạp, mỗi khi đưa ra quyết định tín dụng phải có sự cân nhắc kỹ càng, không thể hời hợt. Mặt khác hoạt động tín dụng trung và dài hạn là một trong các nguồn thu nhập hoặc thua lỗ cơ bản của ngân hàng. Vì vậy trách nhiệm của cán bộ tín dụng rất nặng nề, ngân hang cần đảm bảo sự tương xứng giữa trách nhiệm và quyền lợi thì họ mới yên tâm tích cực làm việc, đảm bảo hiệu quả công việc của mình.

Trên đây là một vài giải pháp mà ngân hàng có thể thực hiện để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng trung và dài hạn của mình, đạt được những mục tiêu và phương hướng đề ra.

3.3. Kiến nghị đối với Ngân hàng DongA

Do tính chất phức tạp của công tác cho vay, nên cần sớm nghiên cứu ban hành cơ chế về chính sách, chế độ, thể lệ làm việc, nghĩa vụ quyền lợi của đội ngũ cán bộ tín dụng, có chính sách ưu đãi với cán bộ tín dụng về thu nhập, phương tiện đi lại, đảm bảo an toàn. Thường xuyên quan tâm tới việc động viên, khen thưởng với những cán bộ tín dụng giỏi để có cơ sở đề nghị xét chọn, khen thưởng hàng năm. Có chính sách như vậy mới đảm bảo được chất lượng hoạt động cho vay trong kinh doanh – đầu tư phát triển đạt được hiệu quả cao.

Tăng cường năng lực công nghệ cả về trang thiết bị và các chương trình tiện ích, các chương trình phần mềm ứng dụng, nhất là các chương trình cung cấp thông tin phục vụ cho công tác tín dụng ở những chi nhánh lớn trên những địa bàn mà cạnh tranh mức độ cao.

KIẾN NGHỊ – GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG 5

2.1. Định hướng phát triển dài hạn cảu Habubank.

2.1.1. Định hướng phát triển chung của Habubank.

  • – Tối đa hoá giá trị đầu tư của các cổ đông.Giữ vững tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và tình thình tài chính lành mạnh;
  • – Không ngừng nâng cao động lực làm việc và năng lực cán bộ thông qua việc luôn là Ngân hàng đi đầu trong việc sáng tạo và việc phát triển các chính sách đãi ngộ cũng như phát triển sự nghiệp cho các cán bộ của mình;
  • – Duy trì sự hài long và gắn bó của khách hàng đối với Habubank.Phát triển Habubank thành một trong tốp 2 ngân hàng Việt nam” được lựa chọn” do chất lượng dịch vụ tốt nhất do các doanh nghiệp cầu tiến,hộ gia đình và cá nhân;
  • – Phát triển Habubank thành một trong 3 ngân hàng được ngưỡng mộ/tín nhiệm nhất Việt nam về:quản lý,môi trường làm việc,văn hoá doanh nghiệp chú trọng khách hàng,thúc đẩy hợp tác và sáng tạo,linh hoạt khi môi trường kinh doanh thay đổi;
  • – Góp phần tích cực làm vững chắc thị trường tài chính trong nước. 
  • Những yếu tố quyết định mang lại thanh công cho ngân hàng theo ngững mục tiêu chiến lược nêu trên đó là:
  • – Nguồn nhân lực:nguồn nhân lực năng động,có chất lượng cao,phong cách phục vụ khách hàng chu đáo;có chính sách thu hút và giữ chân nhân tài phục vụ cho khách hàng.
  • – Tập trung tăng quy mô vốn điều lệ lên 5000 tỷ,đồng thời có chiến lược xây dựng các đối tác quan trọng và phát triển thêm chi nhánh tại các thành phố lớn trong/trung tâm kinh tế lớn để có đủ khả năng duy trì và phát triển thị phần,xây dựng nên hình ảnh thương hiệu Habubank ngày càng tốt hơn. Một yếu tố quan trọng là Habubank xây dựng hình ảnh thông qua chất lượng các dịch vụ.Mục tiêu mở rộng quy mô vốn và các chi nhánh phải đi đôi với việc đảm bảo chất lượng dịch vụ,tránh tình trạng trở thành người khổng lồ không có khả năng nhanh nhạy,thích ứng kịp thời với sự biến động của thi trường kinh doanh ngày càng khốc liệt.
  • – Tích cực áp dụng các công nghệ mới trong lĩnh vực ngân hành vào quá trình kinh doanh của ngân hàng, đảm bảo sự hoạt động thông suốt,an toàn và hiệu quả.
  • – Xây dựng chính sách phù hợp với các khách hàng mục tiêu là các cá nhân,hộ gia đình với mục tiêu vay là để tiêu dùng.Bên cạnh đó,phải có các biện pháp duy trì và đảm bảo tính hiệu quả của cho vay trung và dài hạn đói với các doanh nghiệp để đảm bảo nguồn thu cho ngân hàng.

2.1.2. Định hướng về công tác thẩm định cho vay trung và dài hạn của HBB.

Cho vay dài hạn luôn là một hoạt động quan trọng của mọi ngân hàng nói chung,của HBB nói riêng.Thêo tính chất cạnh tranh ngày càng gia tăng của nền kinh tế,mức độ rủi ro trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càn gia tăng.Muốn hoạt động cho vay trung và dài hạn có hiệu quả, đảm bảo thu hồi vốn và lãi vay,ngân hàng cần thẩm định cho vay trung và dài hạn mọt cách có khoa học và nghiêm túc.Theo định hướng hoạt động, HBB sẽ tập trung mở rộng chi nhánh tại các trung tâm lớn của cả nước như Hà Nội,Thành phố Hồ Chí Minh,Hải Phòng, Đà Nẵng…Không những nhu cầu tiêu dùng của dân cư ơ đây lớn mà ở đây cũng tập trung nhiều tổng công ty lớn,những công ty này tiến hành hoạt động kinh doanh với quy mô lớn như xây dựng khu nghỉ mát,nhà máy điện hay các công trình giao thông lớn. Những dự án này cần một nguồn vốn đầu tư lớn mà tự bản than doanh nghiệp không có đủ do đó mà cần phải đi vay.Những khoản vay này đối với ngân hàng là những khoản vay dài hạn và quan trọng,có thể đem đến một khoản lợi nhuận lớn cho ngân hàng do đó cần tập trung khai thác.

Trong giai đoạn 2006-2010,HBB đã có những định hướng cụ thể về hoạt động cho vay trung và dài hạn như sau:

– Lựa chọn những dự án phù hợpvới quy hoặch phát triển ngành của Chính phủ,những dự án thuộc diện khuyến khích và ưu đãi đầu tư của Chính phủ,của địa phương nơi tiến hành dự án.Cụ thể,các lĩnh vực mà ngân hàng tập trung quan tâm và có sự ưu tiên là:

  • + Thuỷ điện,vật liệu xây dựng,tàu biển.
  • + Công nghiệp đóng tàu.
  • + Khai thác và chế biến khoáng sản mỏ;
  • + Sản xuất,khai thác,kinh doanh về lĩnh vực điện nước,năng lượng;
  • + Vận tải kho bãi;
  • + Xây lắp điện;
  • + Du lịch,khách sản,nhà hàng;
  • + Sản xuất công nghiệp nhẹ,chế biến hàng tiêu dùng;
  • + Gia công,sản xuất hàng may mặc,giày da;
  • + Sản xuất,chế biến thức ăn gia súc.

– Duy trì tỷ lệ dư nợ cho vay theo dự án chiếm từ 30 đến 35% tổng dự nợ của ngân hàng,phấn đấu tỷ lệ nợ quá hạn của hoạt động cho vay theo dự án chiếm dưới 1% tổng dự nợ.

Với định hướng như vậy,việc đề ra các giải pháp để thực hiện có hiểu quả công tác thẩm định cho vay trung và dài hạn nói chung và cho vay theo dự án nói riêng đòi hỏi có sự nghiên cứu tỉ mỉ và cần thiết.Muốn hoàn thiện công tác thẩm định,cần phối kết hợp nhiều giải pháp và cần thực hiện liên tục,có tính kế thừa. Đối với HBB,mô hình tổ chức cũng như các hoạt động nghiệp vụ nói chung không có nhiều khác biếto với các ngân hàng thương mại cổ phần khác.Việc nâng cao chất lượng thẩm định cần có sự nghiên cứu rút kinh nghiệm từ các ngân hàng khác, đặc biệt là các ngân hàng có truyền thống trong việc cho vay trung và dài hạn hay cho vay theo dự án như BIDVI. Đồng thời theo thoả thuận với đối tác sở hữu 10% cổ phần của HBB là Déutche Bank của Đức,từ năm 2008,Deutsche Bank sẽ hợp tác với HBB về nhiều mặt trong đó có việc nâng cao chất lượng công tác thẩm định cho vay tín dụng trong ngân hàng. Đây có thể nói là một giải pháp hết sức quan trọng và mang tính chiến lược của HBB và chắc chắn sẽ giúp HBB cải thiện khả năng thẩm định cho vay của mình.Mặt khác,bản thân HBB cũng đã tự nghiên cứu tìm tòi để nâng cao khả năng thẩm định cho vay của mình đối với cả hệ thống và đối với từng cá nhân thẩm định cho vay trung và dài hạn của ngân hàng,cụ thể đó là việc xây dựng quy trình tín dụng cho vay trung và dài hạn cảu HBB. Những giải pháp đối với HBB chủ yếu là nhằm giải quyết mối quan hệ giữa ba yếu tố quyết định hiệu quả của công tác thẩm định:chất lượng,thời gian,chi phí.

Muốn nâng cao chất lượng thẩm định thì thời gian hoặc chi phí phải tăng lên. Đó là trong ngắn hạn.Trong dài hạn,khi chất lượng công tác thẩm định tăng lên thì chi phí và thời gian của công tác thẩm điịnh sẽ giảm xuống, đảm bảo được thu hồi nợ và lãi vay,giảm các chi phí giám sát,kiểm tra nợ vay,chi phí xử lý tài sản thế chấp.

Muốn giảm thời gian thẩm định,ngân hàng sẽ chấp nhận tăng chi phí đào tạo,tăng chi phi để tăng tốc độ thu thập và xử lý thông tin.Nhưng nếu tăng thời gian thẩm định nhưng không đảm bảo được chất lượng thì làn nữa lại làm phát sinh chi phí. Điều này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng tới ngân hàng.Do đó,trong thực tế công tác thẩm định của HBB chỉ coi trọng thời gian thẩm định ở phạm vi là vẫn đảm bảo được chất lượng của các khoảnvay chứ không chu trọng quá vào thời gian hay cho vay được càng nhiều càng tốt.Thời gian thẩm đinh trung bình của HBB đối với tưng khoản vay dài hạn hoặc vay theo dự án từ 20 đến 27 ngày.

Chi phí thẩm định dự án của HBB nói chung không có sự ảnh hưởng lớn.Nó chỉ thay đổi thật sự khi mà dự án hoặc khoản vay dài hạn có tính chất phức tạp,quy mô vốn lớn như đầu tư xây dựng nhà máy thuỷ điên,khu Resort… hoặc vay theo hợp đồng góp vốn liên doanh liên kết của ngân hàng những hợp đồng như vậy thường được đem lên cho phòng đầu tư ở hội sợ chính thẩm định.Việc đánh đổi chi phí để có được chất lượng là điều cần thiết bởi vì chi phí này chiếm một phần nhỏ so với khoản vay lớn.

Song việc cân đối ba yếu tố thời gian,chi phí và chất lượng là điều cần thiết để đảm bảo tính hiệu quả dài hạn trong tương lai.

Xem thêm: Lời kết luận nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng

2.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định cho vay trung và dài hạn của HBB.

2.2.1. Đối với công tác thẩm định cho vay trung và dài hạn tai HBB.

Đối với HBB,các giải pháp có thể đưa ra dựa trên các nội dung sau:

  • – Giải pháp về nguồn lực con người:chú ý tuyển dụng và đào cán bộ thẩm định,phân công các bộ thẩm định một cách khoa học;có chính sách để tẩn dụng và phát huy hệ thống những cộng tác viên,tư vấn viên có kinh nghiệm và kiến thức về lĩnh vực mà ngân hàng chú trọng.Cộng tác viên có thể là các chuyên gia kinh tế,kỹ thuật,các giảng viên…
  • – Giải pháp về công nghệ:cần trang bị và đổi mới các trang thiết bị,các phần mềm phục vụ công tác thẩm định.
  • – Giải pháp về quy trình thẩm định trung và dài hạn:hoàn thiện quy trình thẩm định về nội dung,phương pháp,tổ chức thẩm định dự án…
  • – Giải pháp về hệ thống thông tin,cơ sở dự liệu phục vụ công tác thẩm định:xây dựng hệ thống thông tin đầy đủ,khoa học và có tính hệ thống:tích cực hợp tác trao đổi thông tin với các ngân hàng,các tổ chức tín dụng khác.
  • – Tăng cường sự giám sát,kiểm soát từ lãnh đạo ngân hàng,từ bộ phận kiểm soát nội bộ đối với công tác thẩm định.
  • – Phát huy vi trò tư vấn của ngân hàng đối với khách hàng.Ngân hàng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn,có cách thức lập phương án kinh doanh.
  • – Nâng cao sự phối hợp giữa các bộ phận trong ngân hàng,giữa HBB với các ngân hàng khác để thực hiện công tác thẩm định cho vay.
  • – Tiêu chuẩn hoá các quy định vềquản lý chất lượng thẩm định dự án để làm cơ sở đánh giá việc thẩm định của từng chi nhánh,phìng ban,từng cán bộ tín dụng.
  • – Kế hoặch hoá trong công tác tín dụng nói chung,công tác thẩm định dự án nói riêng đến từng chi nhánh.
  • – Tạo lập và duy trì kênh thông tin giữa ngân hàng và khách hàng,phục vụ cho công tác thẩm định chính khách hàng đó rút ngắn được thời gian và chi phí đồng thời nâng cao chất lượng thẩm định.

 2.2.2.Giải pháp về quy trình thẩm định.

a.Tiếp tục hoàn thiện quy trình tín dụng,quy trình thẩm định.

Việc tiếp tục hoàn thiện quy trình tín dụng,tìm ra những khe hở nhằm khắc phục là điều rất quan trọng.Hiện tai,ngân hàng Duetsche Bank đang cử chuyên gia giúp đỡ HBB rà soát lại toàn bộ quy trình thẩm định.Sau khi đã có được những kết luận,ngân hàng sẽ có được những điều chỉnh cho phù hợp và hạn chế đến mức tối đa những sai sót trong quá trình thẩm định.

Ngân hàng đã đưa ra một quy trình hoàn chỉnh với hệ thống chỉ tiêu đầy đủ.Tuy nhiên,có thể nói việc hướng dẫn chi tiết về công tác thẩm định là chưa có.Xuất phát từ nguyên nhân chưa có sự hướng dẫn chi tiết,cán bộ thẩm định sẽ không có sự phân tích sâu sắc tình hình tài chính doanh nghiệp,tính khả thi của dự án.Do đó sẽ có những nội dung thẩm định còn sơ sài.Trong thời gian tới,không chỉ quan tâm đến tính hiệu quả vay vốn mà ngân hàng HBB cần tiếp tục hoàn thiện quy trình thẩm định và có văn bản chính thức hướng dẫn từng nội dung thẩm định,thống nhất cách tính từng chỉ tiêu trong phân tích tài chính.

Bên cạnh đó,quy trình tín dụng còn chưa chỉ rõ vai trò trách nhiệm của nhân viên thẩm định trong khâu thẩm định cho vay đối với các dự án.Phấn lớn được quy định và phân công bởi trưởng phòng thẩm định hoặc trưởng phòng phát triển kinh doanh ở các chi nhánh. Điều nay tăng tính linh hoạt cho các hoạt động nhưng cũng tạo ra tính bất cập.Thứ nhất việc phân công sẽ mang tính bắt buộc và tính chủ quan của người phân công do đó sẽ không tránh khỏi những sai sót ở bản thân nhân viên thẩm định.Thứ hai khi phân công như vây sẽ khó làm cho nhân viên thẩm định có trách nhiệm đối với công việc của mình.Như vậy cần ban hành thêm các quy định chi tiết trách nhiệm của cán bộ tín dụng để họ có dự sự chuyên tâm,tinh thần trách nhiệm và nâng cao tính nghiêm túc trong việc thẩm định từng dự án.

Dưa vào đánh giá quy trình tín dụng trung và dài hạn tai Habubank ,tôi đưa ra ý kiến hoàn thiên quy trình tín dụng như sau:

Thứ nhất thay vì thẩm định chỉ bằng một cán bộ tín dụng,một hồ sơ xin vay vốn sẽ có hai cán bộ tín dụng thẩm đinh,mỗi cán bộ tín dụng thẩm định từng giai đoan,cụ thể được thể hiện trong sơ đồ sau:

Tiếp nhân hồ sơ xin vay vốn và thẩm định theo hướng chuyên môn hoá.

Việc tiếp nhận hồ sơ xin vay vốn và thẩm định theo hướng chuyên môn hoá theo quy mô,tính chất ngành nghề, đối tượng khách hàng…là giải pháp tốt để nâng cao về mặt chất lượng.Trong quy trình tín dụng,việc khách hàng tiếp cận với ngân hàng và đề xuất vay vốn không phải lúc nào cũng đúng người phụ trách.Cán bộ quản lý phòng kiểm tra xét duyệt dự án cần xác định đó là loại dự án thuộc mạng nào và giao cho ai đảm nhiệm.Phân loại dự án ngay từ khâu hồ sơ là bước đầu tiên để có được sự phân công phù hợp.

   Nếu thực hiện tốt việc phân công này,có thể tạo ra sự đồng đều về mặt chất lượng cho công tác thẩm định,giảm áp lực cho một số cán bộ và tạo điều kiện cho số khác có cơ hội nhiều hơn. Đồng thời khi chuyên trách về một mạng nhất định,cán bộ thẩm định có thể sử dụng những tài liệu,sử hiểu biết sẵn có để tiến hành công việc.Không những chất lượng nâng lên mà thời gian và chi phí sẽ giảm đi đáng kể vì đã bỏ qua được một phần tìm hiểu ban đầu về loại dự án đó.Hơn nữa với những hiểu biết sẵn có,cán bộ thẩm định chuyên trách sẽ biết những yêu cầu đặt ra đối với hồ sơ dự án,qua đó sẽ hướng dẫn,yêu cầu khách hàng bổ sung và hoàn thiện hồ sơ dự án ngay từ đầu ,giảm đáng kể thời gian thẩm định.

2.2.3.Lựa chọn phương pháp thẩm định phù hợp.

Phương pháp thẩm định,như đã trình bày trong quy trình thẩm định, được ngân hàng vận dụng theo từng nội dụng thẩm định cụ thể.Việc vận dụng này cũng cần hết sức linh hoạt và có sự kết hợp hài hoà.Ví dụ như trong phân tích thị trường việc thẩm định sẽ dựa trên báo cáo của dự án,những nghiên cứu thị trường của các tổ chức kinh tế,tư vấn và những định hướng của Nhà nước.Phương pháp sử dụng chủ yếu ở đây là phương pháp so sánh, đối chiếu.Song cán bộ thẩm định vận dụng các số liệu trong kho dự liệu của ngân hàng,từ các báo cáo, định hướng của Nhà nước,có thể dùng phương pháp dự báo để xác định nhu cầu của thị trường trong giai đoạn tiếp theo.Nếu công việc dự báo phức tạp,có thể thành lập một nhóm có sự tham gia của các chuyên gia để nghiên cứu một mảng thị trường,nhóm lĩnh vực mà ngân hàng coi đó là khách hàng mục tiêu.Qua đó,kết quả dự báo có thể sẽ được sử dụng cho việc thẩm định nhiều dự án.

2.2.4.Giải pháp về nội dung thẩm định.

Đảm bảo tất cả nội dụng thẩm định được đầy đủ,toàn diện và có sự kiểm định tính chính xác.

Trong tờ trình thẩm định khách hàng,yêu cầu mà ngân hàng đặt ra cho thấy nội dung của bản báo cáo là hết sức toàn diện và đòi hỏi tính chính xác.Vì vậy,khi cán bộ thẩm định tiến hàng thẩm định cho vay trung và dài hạn hay cho vay theo dự án,cần tuân thủ đầy đủ theo hướng dẫn của quy trình.Khi xem xét tờ trình thẩm định,trưởng bộ phận xét duyệt tín dụng phải yêu cầu thẩm định và báo cáo lại nếu như chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.Tờ trình là kết quả của quá trình thẩm định,là căn cứ quan trọng để xét duyệt cho vay.Nếu nội dung của tờ trình đảm bảo về mặt nội dung và tính chính xác thì mới có thể làm căn cứ xét duyệt.Do đó,việc thống nhất nội dung,hình thức là yêu cầu bắt buộc.

Công tác thẩm định khách hàng cần được tiến hành thường xuyên, đầy đủ.

Các doanh nghiệp cần các khoản vay trung và dài hạn để tiến hành đầu tư cho các dự án mới hoặc mở rộng là một phần tổng thể trong các hoạt động của doanh nghiệp.Khi thẩm định cho vay theo dự án nếu chỉ  chú trọng đến các chỉ tiêu tài chính,các chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến dự án thì có cái nhìn chưa toàn diện về dự án.Nghiên cứu như vậy sẽ tách biệt dự án ra khỏi bối cảnh chung của nó,rất dễ đưa đến những nhận định sai lầm.Vì vậy,thẩm định khách hàng,thẩm định chung và thẩm định tài chính đều là những việc cần làm.

Thẩm định khách hàng sẽ cho biết được năng lực,uy tín của khách hàng trong việc thực hiện dự án.Qua đấy có nên quyết định cho vay hay không,nếu dự án là có tính khả thi,có thể thực hiện ngay được và có các điều kiện thuận lợi.Trong dự án mẫu,cán bộ thẩm định nhận thấy rằng chủ đầu tư là người có nhiều kinh nghiệm trong công tác xây dựng, đặt biệt là các khu nghỉ mát, nhà hàng,khách sản và có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý.Chủ đầu tư là người có quan hệ tốt đối với các cơ quan chính phủ.Bên cạnh đó,trong số những cổ đông của công ty còn có những người có vị trí chủ chốt ở địa phương,nơi thực hiện dự án. Đây là thuận lợi rất lớn để dự án được chấp thuận về mặt pháp lý và tiến hành thuận lợi. Đồng thời thị trường đầu ra của dự án được đảm bảo khá chắc chắn.Nếu không phân tích yếu tố này thi chắc chắn HBB sẽ bỏ qua một yếu tố quan trọng đem lại tính khả thi của dự án.

Phân tích các chỉ tiêu tài chính một cách chính xác và toàn diện.

Các chỉ tiêu tài chính đã được hướng dẫn tính toán một cách chi tiết trong quy trình thẩm định cho vay vốn trung và dài hạn của HBB.Việc tính toán theo một khung mẫu như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ thẩm định là rút ngắn được thời gian.Song đối với từng dự án cụ thể thì việc tính toán cần có những nghiên cứu cho phù hợp tránh tình trạng rập khuôn máy móc, ảnh hưởng tới chất lượng của dự án.Như nhận xét của cán bộ thẩm định thì công việc tính toán không gặp kho khăn,khó khăn hơn cả là việc đưa ra những phân tích tài chính hợp lý để đưa ra quyết định có cho vay vốn hay không mà thôi.Do đó,chủ yếu là ở cán bộ thẩm định,cần hiểu đầy đủ bản chất của các chỉ tiêu tính toán,từ đó đưa ra được nhận định chính xác,toàn diện,không bỏ sót những cơ hội đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.

Trong việc tính toán các chỉ tiêu tài chính,có thể gặp phải những sai sót do các nguyên nhân như xử lý số liệu không hợp lý,số liệu quá phức tạp không bóc tách thành các khoản mục cụ thể. Đồng thời khi thẩm định việc tính toán các số liệu còn dựa trên nhiều cách tính khác nhau dẫn đến những sai số không cần thiết và có thể cán bộ thẩm định hoài nghi về các chỉ tiêu tài chính.Từ đó khó khăn trong quá trình ra quyết định.Vì vậy, đưa ra sự thống nhất trong cách tính toán là yêu cầu cần thiết đối với công việc thẩm định. Nhiều khi,công việc thẩm định phải mang tính nghệ thuật và cán bộ thẩm định cần linh hoạt,chủ động sáng tạo trong các hình thức dự án vay vốn khác nhau.

2.2.5 Giải pháp về công nghệ.

Nhận thức rõ công nghệ là công cụ quan trọng hỗ trợ công tác quản trị, đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn hiệu quả,ngay từ những ngày đầu thành lập,HBB đã triển khai việc tin học hoá công tác quản trị ngân hàng.Ban lãnh đạo HBB luôn quan tâm và đầu tư thích đáng cho công nghệ thông tin với phương châm công nghệ thông tin phải đi trước một bước,phù hợp với quy mo và tốc độ phát triển, định hướng kinh doanh của Ngân hàng trong từng thời kỳ để phát huy được hiệu quả tối đa.

Với quy mô hoạt động ngân hàng ngày càng mở rộng,năm 2001,HBB đã trang bị phần mềm quản lý tập trung Smart Bank do công ty tin học hàng đầu Việt Nam FPT cung cấp. Đó là phần mềm được viết trên công nghệ tiên tiến nhất lúc bấy giờ,có giao diện thân thiện,dễ sử dụng,có thể mở rộng các ứng dụng và đặc biệt nó giúp  HBB trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên trong hệ thống các ngân hàng Việt Nam thực hiện được việc quản lý xử lý dữ liệu tập trung và nối mạng online toàn hệ thống,nâng cao hiệu quả quản lý của ngân hàng, đảm bảo an toàn hoạt động và tạo nhiều tiện ích cho khách hàng như có thể giao dịch được tất cả tại các điểm giao dịch của ngân hàng.Giải pháp này cũng đáp ứng được yêu cầu về nghiệp vụ khi HBB là thành viên chính thức của Hiệp hội thanh toán liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT) và nối mạng thanh toán trực tiếp với hàng ngàn ngân hàng đại lý ở hơn 90 nước và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.Bước tiến lớn đó về công nghệ đã mang lại cho lĩnh vực thanh toán quốc tế nhiều kết quả cho cả khách hàng và ngân hàng,giúp giảm bớt chi phí thời gian và giao dịch.

Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế,với hệ thông mạng lưới và khối lượng khách hàng giao dịch tăng lên một cách nhanh chóng, để đáp ứng được nhu cầu phát triển,năm 2007 HBB đã quyết định nâng cấp hạ tầng cung cấp thông tin và phục vụ công tác quản trị kinh doanh,theo đó ngân hàng sẽ thay thế phần mềm cốt lõi và sử dụng phẩn mềm FLEXCUBE do ÌFLIX cung cấp. Đây là một phần mềm đang được nhiều tập đoàn lớn trên thế giới đang sử dụng,nó mở rộng  khả năng phát triển các sản phẩm dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao,là công cụ hỗ trợ kiểm soát và quản tri rủi ro tự động một cách có hiệu quả khi mạng lưới ngân hàng ngày càng mở rộng.Nhờ có phần mềm này hoạt động của ngân hàng có thể duy trì suốt 24/24h, khả năng tích hợp cao với các phần mềm khác không có trong phần mềm cốt lõi,có khả năng xử lý một khối lượng lớn các giao dịch từ nhiều kênh giao dịch khác nhau, đáp ứng được các chuẩn mực Quốc tế về kiểm toán và kế toán.Mục tiêu hệ thống công nghệ thông tin của HBB là một hệ thống công nghệ hiện đại,tự động xử lý tới 99% các giao dịch của Ngân hàng một cách chính xác và nhanh chóng.Dự án của ngân hàng đã chính thức hoàn thành vào tháng 4/2008.

Bên cạnh việc đầu tư vào công nghệ,Ban lãnh đạo HBB đặc biệt chú trọng đến công tác đào tạo đội ngũ chuyên viên công nghệ thông tin của ngân hàng. Đó là những người không những phải được trang bị kiến thức về công nghệ thông tin mà còn phải am hiểu về các nghiệp vụ ngân hàng,có khả năng làm việc chăm chỉ,tân tuỵ có đạo đức nghề nghiệp cao và gắn bó chặt chẽ với ngân hàng.

2.2.2.1.Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng chính là nâng cao năng lực thẩm định cho vay ở mỗi cán bộ tín dụng.Trong công tác thẩm định cho vay trung và dài hạn,nhân tố con người mang tính chất quyết định đến chất lượng thẩm định cho vay trung và dài hạn của dự án.Không chỉ nâng cao trình độ chuyên môn mà cả đạo đức nghề nghiệp là những nhân tố trực tiếp ảnh hưởng tới công tác thẩm định cho vay . Do đó,khi đề cập đến nguồn nhân lực,không chỉ chú trọng về chất lượng công tác tuyển dụng, đào tạo và bố trí hợp lý mà còn chú trọng đến những cơ chế và biện pháp hạn chế rủi ro nghề nghiệp.

– Về phía ngân hàng.

+ Tuyển chọn những người thực sự có khả năng chuyên môn và đạo đức,tác phong nghề nghiệp cho vị trí cán bộ thẩm định.Nhất thiết cán bộ thẩm định phải có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên và nên thuộc các chuyên ngành liên quan đến ngành tài chính ngân hàng. Đồng thời cán bộ thẩm định cần phải có kiến thức pháp luật,có sự hiểu biết về xã hội và tích cực theo dõi diễn biến của nền kinh tế. Đi đôi với yêu cầu về năng lực,cần chú ý  tuyển chọn người có đạo đức,có lối sống lành mạnh để hạn chế ngững rủi ro nghề nghiệp về sau.

Trong những năm qua,HBB đã thành công trong việc thu hút và giữ chân nguồn nhân lực có chất lượng.Nhưng trong tình hình hiện nay,khi số lượng các ngân hàng trong và ngoài nước tăng lên,số lượng các chi nhánh không ngừng được mở rộng,cạnh tranh nguồn nhân lực giữa các ngân hàng cũng đang diễn ra rất sôi nổi.Vì vậy không chỉ tìm cách thu hút mà HBB cần có chính sách phù hợp để đảm bảo số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực nói chung, đội ngũ cán bộ thẩm định nói riêng.

Hiện tại,với nhu cầu mở rộng thêm các chi nhánh và quy mô hoạt động,yêu cầu tuyển dụng thêm cán bộ ngân hàng là điều tất yếu.Công tác tuyển dụng nhân sự cần phải được tiến hành thường xuyên với cách thức tuyển dụng ngày càng đổi mới,khoa học và hiệu quả,thu hút được những nhân tài thật sự cho HBB vì mục tiêu phát triển lâu dài.

+ Thường xuyên cập nhật những quy định của nhà nước liên quan đến đầu tư.Khi thẩm định cho vay vốn trung và dài hạn hay thẩm định cho vay đối với dự án thì những quy định cán bộ tín dụng cần hết sức quan tâm đó là:

  • Quy định về tổng dự toán vốn đầu tư: đối với các dự án sự dụng vốn Nhà nước hoặc các dự án được Nhà nước bảo lãnh thì phải được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt tổng dự toán.Với các dự án đầu tư bằng vốn khác thì có thể ngân hàng tự thẩm định hoặc thuê các tổ chức tư vấn thẩm định.
  • Quy định về chế độ tài chính đối với từng loại hình doanh nghiệp,từng loại dự án đầu tư thuộc các ngành khác nhau.
  • Quy định về chế độ khấu hao tài sản cố định,chế độ tiền lương,thưởng và bảo hiểm xã hội đối với người lao động.
  • Quy định về tiền thuê, đền bù và giải phóng mặt bằng của Chính phủ cũng như địa phương nơi dự án được triển khai.
  • Quy định về thuế:thuế xuất nhập khẩu,thuế giá trị gia tăng,thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế tài nguyên,thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • Những quy định về miễn,giảm, ưu đãi,hỗ trợ và khuyến khích đầu tư của Nhà nước và của địa phương.
  • Trong giai đoạn hiện nay,các dự án lớn mà HBB thẩm định cho vay thường là lĩnh vực thuỷ điện,khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu…Do đó,những quy định của Nhà nước liên quan đến các lĩnh vực này cũng cần được lưu ý hơn.

2.2.6 Giải pháp về hệ thống cơ sở dự liệu.

Trong quá trình thẩm định cho vay,cán bộ thẩm định phải thu thập thông tin từ rất nhiều nguồn khác nhau,những thông tin cả ở trong ngân hàng và ở ngoài ngân hàng.Những nguồn thông tin mà ngân hàng có thể tìm kiếm được như:

  • – Thông tin từ doanh nghiệp cung cấp để xin vay vốn;
  • – Thông tin trong cơ sở dự liệu có sẵn của ngân hàng về doanh nghiệp xin vay vốn;
  • – Thông tin từ trung tâm thông tín dụng thuộc ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
  • – Thông tin từ các ngân hàng khác mà HBB có mối quan hệ làm ăn;
  • – Thông tin từ các tổ chức cung cấp thông tin tư nhân;
  • – Thông tin trên thị trường hoạt động của doanh nghiệp đó;
  • – Trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là mạng Internet;
  • – Thông tin từ các bạn hàng của doanh nghiệp mà HBB có quan hệ.

Để thuận tiện trong việc thu thập thông tin,tốt hơn hết là HBB chủ đọng xây dựng hệ thống cơ sở dự liệu cho riêng mình.Công việc này tuy đòi hỏi mất rất nhiều thời gian và công sức song lợi ích mà nó đem lại cho HBB sẽ có giá trị rất lớn và trong lâu dài.HBB thu thập thông tin về khách hàng dựa trên các nguồn cơ bản trên, đồng thời có sự nghiên cứu phân tích tỷ mỷ chỉ lấy những thông tin cần thiết,liên quan đến hoạt động thẩm định cho vay,trên những nội dung hết sức cơ bản như:

  • – Đối với từng ngành,lĩnh vực cụ thể thu thập về mức tăng trưởng của ngành,cơ hội,tiềm năng phát triển trong tương lai.(khả năng cầu về sản phẩm của ngành,sản phẩm thay thế)
  • – Thu thập số liệu của những doanh nghiệp hàng đầu trong từng ngành(đây có thể là những khách hàng tiềm năng mà HBB quan tâm,tìm cơ hội hợp tác lâu dài) chú trọng thu thập các số liệu định lượng:mức cung của doanh nghiệp,tiềm lực tài chính của doanh nghiệp,doanh thu,lợi nhuận trong những năm gần đây. Đồng thời cũng thu thập những số liệu định tính phán ánh tính hiệu quả,năng động của doanh nghiệp như cơ cấu tổ chức,bộ máy quản trị,nguồn nhân lực chất lượng cao trong doanh nghiệp.
  • – Thu thập số liệu về thị trường sản phẩm:mức ổn định trong giá cả,sự thay đổi trong lượng cung,lượng cầu sản phẩm và điều quan trọng là xu hướng vận động của thị trường trong tương lai
  • – Các chính sách,pháp luật của Nhà nước liên quan đến ngành,lĩnh vực đó.

DOWNLOAD

Xem thêm: ==> Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập 

Lời kết: Trên đây Thuctaptotnghiep đã chọn lọc cho các bạn Kiến nghị – Giải Pháp nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng từ những bài đạt điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài. Hy vọng với bài viết này có thể giúp cho các bạn có thêm tài liệu tham khảo để hoàn thành thật tốt bài luận của mình. Ngoài ra, trong quá trình làm bài các bạn gặp khó khăn trong vấn đề thiếu tài liệu hoặc không có thời gian viết bài luận cần thuê người viết, các bạn liên hệ qua zalo: 0934.536.149 để được hỗ trợ làm tốt bài luận của mình nhé.

Chúc các bạn hoàn thành thật tốt bài báo cáo thực tập của mình!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *