Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam Về CTY TNHH Hai Thành Viên Trở Lên

LDN chính thức được Quốc hội ban hành với mục tiêu cao nhất là đưa doanh nghiệp trở thành một công cụ kinh doanh rẻ hơn, an toàn hơn và hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư để qua đó tăng cường thu hút và huy động hơn nữa mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được của LDN 1999 và LDN 2005, đồng thời khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của quy định hiện hành và thể chế hóa các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, LDN 2014 đã có những quy định mới nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp.

Đề tài mẫu làm báo cáo thực tập tốt nghiệp: Quy Định Của Pháp Luật Về Công Ty TNHH Hai Thành Viên Trở Lên

Như đã phân tích ở những nội dung trên, sự ra đời của LDN 2014 đã mở ra nhiều hướng tích cực cho các doanh nghiệp, trong đó có loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy LDN 2014 vẫn còn có nhiều quy định bất cập, điều này hạn chế sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp nói chung và của công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng. Dưới đây là một số bất cập trong quy định của LDN 2014 đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Thứ nhấtquy định của LDN 2014 giới hạn số lượng thành viên tối đa

Nhu cầu về vốn trong kinh doanh là hết sức cấp thiết đối với mọi loại hình doanh nghiệp. Với công ty TNHH hai thành viên trở lên, với đặc thù là loại hình công ty TNHH nên việc huy động vốn bằng nguồn vay là khá khó khăn vì công ty chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi vốn điều lệ. Mặt khác, việc tăng, giảm vốn điều lệ lại chịu sự ràng buộc rất chặt chẽ bởi những quy định của pháp luật hiện hành. Do đó, nếu công ty TNHH hai thành viên trở lên bị ràng buộc số lượng thành viên tối đa là 50 thì điều đó gây khó dễ cho doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, cùng với quá trình phát triển, quy mô kinh doanh của công ty được mở rộng và đa dạng thêm, do đó nhu cầu về vốn cũng tăng theo. Vì thế, mô hình công ty TNHH có thể trở nên không còn phù hợp cho sự phát triển với quy mô lớn.

Thứ haiviệc chuyển nhượng phần vốn góp và cơ chế thay đổi thành viên khá khó khăn

Một hạn chế lớn của công ty TNHH hai thành viên trở lên là việc chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên thường rất khó khăn. Sở dĩ như vậy là vì chính bản thân các thành viên giữ vai trò rất quan trọng trong việc thành lập công ty. LDN 2014 đã đưa ra nguyên tắc chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên. Theo đó, thành viên có nhu cầu chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng vốn cho người không phải là thành viên trong trường hợp đã chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại và chỉ khi các thành viên còn lại này của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán.

Mặt khác, khi chuyển nhượng vốn góp cho người ngoài mà không phải là thành viên của công ty, thì thành viên muốn chuyển nhượng đó phải chào mời các thành viên còn lại mua. Khi các thành viên còn lại không mua hoặc mua không hết thì mới được chào bán cho người ngoài. Đồng thời, người mua phần vốn góp đó phải được sự đồng ý của các thành viên còn lại thì mới được mua. Qua đó cho thấy, việc thay đổi thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên là khá khó khăn và phức tạp.

Ngoài chia sẻ tài liệu mẫu về một số Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam Về Công Ty TNHH Hai Thành Viên Trở Lên thì trang Thuctaptotnghiep.net còn chia sẻ thêm nhiều đề cương mẫu, tài liễu mẫu khác, các bạn đón đọc nhé. Xem thêm:

Thứ ba, bất cập trong quy định về ban kiểm soát

Điều 55, LDN 2014 quy định: “…Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 11 thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm soát; trường hợp có ít hơn 11 thành viên, có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị công ty. Quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn, điều kiện và chế độ làm việc của Ban kiểm soát, Trưởng Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định”.

Như vậy, LDN 2014 chỉ bắt buộc có ban kiểm soát trong trường hợp công ty TNHH có từ 11 thành viên trở lên. Với những công ty dưới 11 thành viên thì không bắt buộc thành lập ban kiểm soát. Điều này là không phù hợp, bởi vì hoạt động của ban kiểm soát mang chức năng là kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh của công ty. Điều này không lệ thuộc vào việc công ty có ít hay nhiều thành viên. Thực tế cho thấy, có những công ty rất ít thành viên nhưng hoạt động kinh doanh của họ lại rất thành công và quy mô về lĩnh vực ngành nghề kinh doanh doanh được mở rộng. Mặt khác, trong công ty TNHH một thành viên, dù chỉ có một thành viên nhưng LDN 2014 lại quy định thành phần quản lý doanh nghiệp phải có kiểm soát viên với chức năng hoạt động giống như ban kiểm soát trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Thứ tư, chưa có sự ràng buộc chặt chẽ đối với thành viên cam kết góp vốn

Khoản 2, điều 48 LDN 2014 quy định: Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thành viên công ty chỉ được góp vốn phần vốn góp cho công ty bằng các tài sản khác với loại tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành của đa số thành viên còn lại. Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp.

Có thể thấy, với quy định này đã mở rộng cho các nhà đầu tư quyền được góp vốn vào công ty TNHH hai thành viên trở lên khi mà tại thời điểm thành lập doanh nghiệp, một số nhà đầu tư chưa thể góp vốn ngay. Điều luật này cũng quy định cho các nhà đầu tư được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như những thành viên khác ngay cả khi họ chưa góp đủ vốn. Tuy nhiên, pháp luật chỉ mới có quy định giới hạn về thời điểm phải góp đủ (sau 90 ngày) nhưng chưa có quy định ràng buộc trách nhiệm vật chất khi mà hết thời hạn đó mà chủ thể không góp đúng như cam kết sẽ phải chịu trách nhiệm như thế nào? Nếu như vậy, thành viên cứ cam kết góp, hết thời điểm luật định mà chưa góp thì họ sẽ mất quyền làm thành viên, chứ không chịu trách nhiệm nào cả. Điều này sẽ tạo ra sự mất nghiêm túc trong quá trình góp vốn, làm giảm uy tín của công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Thứ năm, một số ngành nghề dịch vụ bị cấm kinh doanh đối với loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên

Thực tế cho thấy các nhóm ngành, nghề như: y tế (mở phòng khám chữa bệnh tư nhân, cửa hàng bán thuốc, các vật tư ngành y tế…), dịch vụ pháp lý (văn phòng, công ty luật, dịch vụ công chứng tư, thừa phát lại…), nhóm tư vấn thiết kế (xây dựng, kiến trúc, thi công…), hay kiểm toán, dược phẩm, hóa chất… đều là những ngành nghề có tầm quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội. Bởi vì, chúng thường trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của con người hay trật tự, an ninh của cả xã hội. Tuy nhiên, LDN 2014 lại quy định, khi tham gia các ngành nghề kinh doanh dịch vụ nói trên thì bắt buộc phải thành lập dưới hình thức của công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân. Mục đích của quy định này là nhằm cố gắng hạn chế các rủi ro mà lĩnh vực kinh doanh có thể gây ra nên đặt ra quy định rất cụ thể cho những loại hình doanh nghiệp cụ thể mới được phép kinh doanh chúng. Tuy nhiên, điều này cũng hạn chế rất nhiều cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên trong việc mở rộng lĩnh vực kinh doanh.

Trên đây là một số nội dung liên quan đến đề tài thực tập tốt nghiệp ngành Luật các bạn có thể tham khảo hoặc nếu cần tư vấn gì trong quá trình làm bài hay các tài liệu liên quan, các bạn có thể nhắn tin qua zalo: 0973 287 149. Hiện tại mình cũng có dịch vụ viết thuê đề tài tốt nghiệp, nếu bạn nào cần hỗ trợ thì liên lạc với mình nhé!