THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

Ngân hàng

Dưới đây Thuctaptotnghiep chia sẻ cho các bạn về Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt chọn lọc từ các bài điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài báo cáo thực tập kế toán. Các bạn tham khảo các mẫu dưới đây để hoàn thành thật tốt bài làm của mình nha.

Lưu ý: Trong quá trình làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp, nếu các bạn gặp khó khăn về đề tài hay chưa có công ty thực tập các bạn có thể liên hệ với dịch vụ làm báo cáo thực tập trọn gói qua:

SĐT  / Zalo: https://zalo.me/0934536149

MỤC LỤC

THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH NAM ĐỊNH.

2.2. Thực trạng

Tổ chức công tác thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những chức năng quan trọng của Ngân hàng thương mại. Cùng với sự phát triển của các nghiệp vụ khác, các Ngân hàng thương mại luôn quan tâm đến việc đổi mới vông nghệ thanh toán để công tác thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng được mở rộng và phát triển không chỉ trong các khách hàng vốn có trước đâu của các Ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế xã hội mà còn có các khách hàng cá nhân, mộ thị trường tiềm năng rộng lớn của Ngân hàng. Việc cuốn hút các dòng vốn luân chuyển qua hệ thống Ngân hàng không chỉ hàm nghĩa khơi thông, đẩy nhanh tốc độ thanh toán trong nền kinh tế mà còn tạo ra nguồn vốn lớn để đầu tư cho tăng trưởng kinh tế, mặt khác lượng thanh toán không dùng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán càng lớn thì lượng tiền mặt trong lưu thông càng ít sẽ tác động trức tiếp đến điều hoà lưu thông tiền tệ góp phần củng cố sức mua của đồng tiền. Trong những năm gần đây nhìn chung khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt đàng ngày càng củng cố và phát triển ở các Ngân hàng.

Trước tình hình phát triển chung của thanh toán không dùng tiền mặt , Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định, đã từng bước cải tiến đổi mới công tác thanh toán đặc biệt là thanh toán không dùng tiền mặt , luôn thi hành một cách linh hoạt đúng đắn các văn bản hướng dẫn ban hành thực thi công tác thanh toán không dùng tiền mặt. Bên cạnh đó chi nhánh cũng thực hiện chương trình hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng với việc tiến hành xây dựng các chương trình ứng dụng tin học vào hệ thống thanh toán, nhờ có sự ứng dụng này mà chi nhánh đã chấm dứt được tình trạng ách tắc trong thanh toán, không những thế còn giảm được thời gian một cách tối đa thông qua việc thanh toán qua mạng vi tính nối mạng trong toàn hệ thống Ngân hàng, ngoài ra chi nhánh luôn chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ thanh toán thành thạo về nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm cao, làm việc có khoa học giúp cho công tác thanh toán được tiến hành nhanh chóng chính xác làm thay đổi căn bản về chất trong hoạt động kế toán Ngân hàng. Chính nhờ có những việc làm này mà công tác thanh toán củ cho nhánh không ngừng đổi mới và phát triển tạo được lòng tin nơi khách hàng. Vì vậy ngày càng có nhiều khách hàng đến mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh. tổng số lượng khách hàng mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh năm 2000 là 3085 khách hàng tăng 1016 khách hàng so với năm 1999.

Để đánh giá được những thành tựu trong công tác thanh toán tại Ngân hàng  công thương tỉnh Nam Định trong thời gian qua, ta có thể mô tả tình hình thanh toán thông qua bảng 3.

Qua bảng 3 chúng ta thấy. Năm 1998, thanh toán không dùng tiền mặt đạt doanh số 8060191 triệu đồng chiếm 80% trong tổng số khối lượng thanh toán chung, còn thanh toán bằng thương mại chỉ chiếm 14% với doanh số đạt 1325413 triệu đồng. Như vậy, năm 1998 công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định chiếm tỷ trọng rất lớn tròng tổng khối lượng thanh toán chung, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đã được khách hàng sử dụng với khối lượng lớn và dần thay thế được các hình thưc thanh toán bằng thương mại.

Năm 1999 các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được khách hàng sử dụng ngày càng nhiều hơn (trừ hình thanh toán bằng séc) với doanh số đạt 884387 triệu đồng tăng hơn năm 1998 là 783296 triệu đồng mặc dù trong năm tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt có giảm hơn so với năm 1998 những vẫn chiếm tỷ trọng rất cao 81% trong tổng số thanh toán chung. Doanh số thanh toán bằng thương mại cũng tăng hơn so với năm 1998 đạt 2142595 triệu đồng những đây là do năm 19999 nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng mạnh nhu cầu thanh toán cao với tồng doanh số thanh toán là 10986082 triệu đồng. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Bước sang năm 2000, tình hình kinh tế của tỉnh chững lại kéo theo nhu cầu thanh toán của khách hàng cũng giảm chỉ đạt 7609419 triệu đồng giảm 3376663 triệu đồng so với năm 1999 nhưng thanh toán không dùng tiền mặt lại chiếm tỷ trọng rất cao 97,3% trong tổng số thanh toán chung với doanh số là 7399652 triệu đồng.

Như vậy, chứng tỏ rằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đã được khách hàng sử dụng một cách phổ biến và ngày càng phát triển, nó đã phát huy được những ưu điểm vốn có của nó là thuận lợi, nhanh chóng và an toàn, khẳng định vai trò to lớn của nó trong công tác thanh toán của chi nhánh Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định.

Để thấy rõ được toàn cảnh tình hình thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định trong thời gian qua chúng ta đi vào nghiên cứu thực trạng của từng hình thức thông qua bảng 4 .

Quá trình trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các tác nhân trong nền kinh tế thị trường rất phong phú đa dạng với nhiều tính chất và điều kiện khác nhau, vì vậy việc thiết lập nhiều hình thức thanh toán khác nhau nhằm giúp cho các chủ thể thực hiện tốt quy trình thanh toán là 1 tất yếu.

Qua bảng số liệu số 4 chúng ta có thể thấy tại chi nhánh Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định chủ yếu sử dụng 4 hinh thức thanh toán không dùng tiền mặt đó là: thanh toán séc, UNC, UNT, NPTT. Bên cạnh 4 hình thức thanh toán không dùng tiền mặt chủ yếu đó tai chi nhánh còn sử dụng các loại thanh toán khác: bảng kê nộp séc, bảng kê phiếu chuyển khoản, bảng kê thu phí, bảng kê thu lãi, bảng kê chuyển tiền nội bộ (trong thanh toán liên hàng) loại này được Ngân hàng sử dụng với tỷ trọng lớn về cả số món và doanh số trong thanh toán không dùng tiền mặt , hàng năm đều chiếm hơn 50% trong doanh số thanh toán không dùng tiền mặt.

Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt luôn được chi nhánh chú ý cải tiến hoàn thiện song vẫn có những hạn chế nhất định. Tính ưu việt hay hạn chế của mỗi hình thức thanh toán ở 1 khía cạnh nào đó được thể hiện thông qua số lượng sử dụng trong thanh toán.

2.2.1.Thanh toán bằng séc thanh toán.

Séc là một trong những hình thức thanh toán không dùng tiền mặt rất hữu ích, mặc dù séc đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, song đối với Việt Nam việc thanh toán bằng séc được sử dụng rất hạn chế. Tuy nhiên từ sau NĐ 30/CP ban hành quy định về phát hành và sử dụng séc từng bước được đẩy mạnh dần dần trở thành phổ biến trong các giao dịch thanh toán, phần nào làmtăng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt trong tổng số thanh toán chung của Ngân hàng mặc dù tỷ trọng còn nhỏ.

Qua bảng 4 (tình hình thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định) cho thấy khối lượng thanh toán bằng séc chiếm 1 tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số thanh toán không dùng tiền mặt. Cụ thể: ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Năm 1998, thanh toán bằng séc đạt được 55240 món với doanh số là 591.420 triệu đồng chiếm 14,7% trong tổng số thanh toán không dùng tiền mặt. Ta thấy trong năm hình thức thanh toán bưng séc được khách hàng sử dụng rộng rãi trong thanh toán mặc dù tỷ trọng còn nhỏ nhưng vẫn đứng thứ 2 trong các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt chỉ sau UNC.

Năm 1999 thanh toán bằn séc có sự giảm sút cả về số món và doanh số thanh toán so với năm 1998 chỉ đạt 1741 món và doanh số là 19896 triệu đồng chiếm 0,52% trong tổng số thanh toán không dùng tiền mặt và là hình thức thanh toán thấp nhất trong 4 hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại chi nhánh Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định.

Sang đến năm 2000 hình thức thanh toán bằng séc đã có những chuyển biến tích cực, tuy giảm về số món còn 1623 món nhưng lại tăng lên về doanh số: 29922 triệu đồng chiếm tỷ trọng 0,85% trong tổng doanh số thanh toán kinh doanh thương mại tăng thêm 10026 triệu đồng so với năm 1999. Nhưng mặc dù tăng hơn so với năm 1999 nhưng hình thức thanh toán này vân chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong thanh toán không dùng tiền mặt chỉ chiếm 0.85%.

Qua những số liệu về thanh toán bằng séc tại Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định chúng ta thấy hình thức thanh toán băng séc chưa được phổ biến,các khách hàng sử dụng rất ít so với các hình thức thanh toán kinh doanh thương mại khác. để lý giải thực trạng này có một lý do được xem như là những tồn tại mà thanh toán séc luôn phải đối mặt đó là:

  • Do sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, hàng hoá sản xuất ra không tiêu thụ được, tồn kho nhiều, chất lượng hàng hoá chưa cao nên nhu cầu trao đổi hàng hoá , dịch vụ trong nền kinh tế giảm dẫn đến nhu cầu thanh toán cũng bị giảm sút đặc biệt là hình thức thanh toán bằng sec.
  • Phạm vi thanh toán séc còn hạn chế, thiếu một trung tâm bù trừ sec toàn quốc nên việc tổ chức thanh toán sec giữa các Ngân hàng gặp nhiều khó khăn .
  • Khách hàng không thể viết một số tiền quá lớn như UNC vì tài khoản thanh toán séc không phải lúc nào cũng lớn như tài khoản tiền gửi thanh toán.
  • Người thụ hưởng không yên tâm khi nhân séc vì họ không chắc chắn khi nộp séc vào Ngân hàng họ sẽ được thanh toán ngay vì trường hợp tài khoản của người phát hành séc không còn hoặc không đủ số tiền thanh toán sẽ mất nhiều thời gian và ứ đọng vốn .
  • Những tờ séc nộp quá thời hạn phải có xác nhận của UBND đại phương gây phiền hà co những người thụ hưởng.
  • Séc còn có thể có séc giả làm cho người thụ hưởng bị thiệt hại.

Để giải quyết được những vấn đề này đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của bản thân chi nhánh trong công tác thanh toán không dùng tiền mặt, cần có dự điều chỉnh hợp lý của chế độ thanh toán hiện hành để công tác thanh toán bằng séc được phát triển.

2.2.1.1. Thực trạng thanh toán băng séc chuyển khoản.

Bảng 5: tình hình thanh toán bằng séc tại Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Đơn vị: Triệu đồng.

Hình thức Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000
Món Doanh số % Món Doanh số % Món Doanh số %
Séc chuyển khoản.

Séc bảo chi.

1282

 

53939

438114

 

105125

80,6

 

19,4

1726

 

12

15024

 

4410

77,3

 

22,7

1616

 

3

29258

 

270

99

 

1

Tổng 55219 543239 100 1738 19434 100 1619 29528 100

(Nguồn: báo cáo công tác  TTKDTM tạI Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định năm 98,99,2000)

Với số liệu thể hiện trên bảng 5 ta thấy hình thức thanh toán bằng séc chuyển khoản chiếm tủ trọng cao nhất trong tổng số thanh toán bằng séc của Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định. Năm 1998 thanh toán băng séc chuyển khoản đạt 1282 món với doanh số là 438114 triệu đồng chiếm 86,6% trong tổng số thanh toán séc.

Năm 1999 thanh toán băng séc chuyển khoản có giảm sút so với năm 1998 mặc dù có tăng về số khối lượng giao dịch với 1726 món nhưng lại giảm đi 423090 triều đồng so với năm 1998 chỉ đạt 15024 triệu đồng. Tuy nhiên hình thức thanh toán này vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh số thanh toán bằng séc chiếm 77,3% . như vậy trong trong hình thức thanh toán băng séc chuyển khoản có giảm đi so với năm 1998 là do tổng số thanh toán bằng séc chung giảm đi chứ không phải là do hình thức này.

Sang năm 2000 hình thức thanh toán này đã từng bước tăng lên cới doanh số đạt 29258 triệu đồng và chiếm tỷ trọng rất cao 99% trong tổng số thanh toán bằng séc. Như vậy qua 3 năm ta thấy hình thức thanh toán bằng séc chuyển khoản là hình thức thanh toán séc chủ yếu tại Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định. Mặc dù về doanh số có giảm đi nhưng tỷ trọng của nó thì ngày càng càng tăng cao chiếm ưu thế tuyệt đối trong thanh toán bằng séc điều này chứng tỏ thanh toán bằng séc chuyển khoản đã phát huy được những ưu điểm của nó trong công tác thanh toán séc. Đó là do thủ tục trong phát hành và sử dụng séc chuyển khoản từ  thủ tục bán séc, phát hành séc, chuyển nhượng séc, nộp séc, thanh toán đều rất đơn giản, hơn nữa khách hàng tham gai không phải nộp tiền ký gửi đảm bảo thanh toán làm giảm bớt thủ tục có lợ cho khách hàng sử dụng. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Tuy hình thức thanh toán bằng séc chuyển khoản chiếm tỷ trọng lớn trong công tác thanh toán băng séc nhưng trong công tác thanh toán không dùng tiền mặt chung thì nó lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ: năm 1998 chiếm 5,4%, năm 1999 chiếm 0,175 năm 2000 chiếm 0,39% trong tổng số thanh toán không dùng tiền mặt. điều này nói lên rằng trong công tác thanh toán hình thức thanh toán này vãn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục:

Séc chuyển khoản được thanh toán theo nguyên tắc ghi nợ trước có dau , do vậy nếu thanh toán giữa 2 khách hàng có mở tài khoản tại 2 chi nhánh khác nhau thì quá trình luôn chuyển chứng từ phải kéo dài nghĩa là người thụ hưởng đã bị chiếm dụng vốn ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của họ.

  • Séc chuyển khoản chỉ được sử dụng nhiều trong thanh toán các món có giá trị nhỏ vì nó rất dễ bị lợi dụng phát hành quá số dư mặc dù thực tế xảy ra rất ít vì bộ phận thanh toán viên đã kiểm tra kỹ khi nhận chứng từ. Khi xảy ra tình trạng này thì đơn vị phát hành sẽ bị phạt: phạt phát hành quá số dư, phát hành chậm trả còn bên thụ hưởng phải đợi đủ số dư trên tài khoản của người phát hành nên không thu hồi được vốn ngay, tốc độ luôn chuyển vốn bị giảm.
2.2..1.2. Thực trạng thanh toán bằng séc bảo chi.

Nhìn vào bảng 3 ta thấy hình thức thanh toán bằng séc bảo chi rất ít được khách hàng sử dụng và có xu hướng ngày càng giảm.

Năm 1998 thanh toán băng séc bảo chi đạt 53939 món, doanh số thanh toán đạt 105125 triệu đồng chiếm tỷ 19,4% trong tổng số thanh toán séc.

Năm 1999 thanh toán bằng séc bảo chi giảm sút 1 cách nhanh chóng chỉ còn 12 món với doanh số là 4410 triệu đồng, sang năm 2000 hình thức này còn giảm hơn nữa còn có 3 món với doanh số là 270 triệu đồng chỉ chiếm 1% trong thanh toán bằng séc. Rõ ràng hình thức thanh toán  này khách hàng sử dụng ngày càng ít, kể cả trong thanh toán séc và thanh toán không dùng tiền mặt thì nó cũng chỉ chiếm 1 tỷ trọng rất nhỏ. Nguyên nhân hạn chế này là:

  • Séc bảo chi thường được áp dụng thanh toán giữa các chủ thể không tín nhiệm lân nhau về khả năng chi trả hoặc người trả tiền đã có quyết định xử phạt của Ngân hàng về việc phát hành séc thanh toán chuyển khoản quá số dư.
  • Thủ tục phát hành séc bảo chi còn nhiều phức tạp phiền hà vì trước khi phát hành khách hàng phải đến Ngân hàng nơi mình mở tài khoản để yêu câu xin làm thủ tục bảo chi séc và thủ tục này cũng phức tạp, đấy là việc phát hành séc bảo chi trong phạm vi cùng tỉnh , còn khác hệ thống thì người mua phải viết UNC xin cấp séc bảo chi nộp vào ngân hàng phục vụ mình.
  • Khi tiến hành bảo chi séc, người phát hành séc phải lưu ký quĩ một khoản tiền bằng số tiền ghi trên séc. Do đó ngây ra tình trạng ứ đọng vốn của người phát hành trong khi số tiền nảy không dươc phép sử dụng và cũng không đươc hưởng lãi, làm cản trở nhiều trong quá trình quay vòng vốn va kinh doanh của họ.

Thực trạng công tác thanh toán UNC – chuyển tiền.

Với số liệu bảng 4, chúng ta thấy hình thức thanh toán bằng UNC là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được khách hàng sử dụng nhiều nhất trong số các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng chúng tôi tỉnh Nam Định. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Năm 1998 số món nợ thanh toán bằng UNC phát sinh là 676807 món với doanh số thanh toán đạt được là 3284728 triệu đồng chiếm 40,75% tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Năm 1999 hình thức thanh toán này không ngừng tăng lên mặc dù chỉ phát sinh 22782 món nợ nhưng doanh số thanh toán lại tăng lên đạt 3550784 triệu đồng tăng thêm 266056 triệu đồng so với năm 1998, chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt với 40,2% .

Năm 2000 hình thức thanh toán này có sự giảm sút so với năm 1999 doanh số thanh toán đạt 3326157 triệu đồng, giảm 224627 triệu đồng so với năm 1999, nhưng tỷ trọng của nó trong tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt lại chiếm vị trí lớn với 45% . Như vậy qua 3 năm 1999-2000 chúng ta thấy hình thức thanh toán bằng UNC không ngừng tăng lên so với các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khác. Điều này khẳng định những ưu điểm vượt trội của nó đã được các khách hàng chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế.

Hình thức thanh toán UNC được khác hàng sử dụng phổ biến vì nó là hình thức thanh toán có quy trình thanh toán đơn giản dễ sử dụng trong quá trình thanh toán hơn nữa nó còn được áp dụng trong hầu hết các nghiệp vụ thanh toán: thanh toán nội bộ, bù trừ, liên hàng và phạm vi thanh toán của nó rất rộng trong cả nước: thanh toán cùng hệ thống, khác hệ thống, các tỉnh, ngoài tỉnh. Khi người sử dụng hình thức thanh toán này thì họ luôn được đảm bảo quyền lợi , đặc biệt là đối với người mua vì người mua có quyền kiểm soát hàng hoá cả về số lượng và chất lượng trước khi trả tiền cho người bán. Thủ tục thanh toán của hình thức thanh toán này rất đơn giản vf khi người mua nhận được hàng hoá thì chỉ cần đến Ngân hàng phục vụ mình tập UNC theo mẫu in sẵn để trích tài khoản tiền gửi tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người mua chỉ trong vòng 1 ngày làm việc Ngân hàng phải hoàn tất lệnh cho đó và khi Ngân hàng phục vụ bán. Như vậy thủ tục thanh toán đơn giản, tôc độ thanh toán nhanh và phạm vi  thanh toán rộng đó là nhưỡng ưu việt của hình thức UNC so với các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khác.

2.2.2.2 Thực trạng thanh toán bằng séc chuyển tiền.
  • Thực tế nhìn vào số liệu của bảng 4 ta thấy hình thức thanh toán thanh toán bằng séc chuyển tiền chiếm một tỷ trọng rất thấp cả về doanh số thanh toán cũng như số món  so với tổng số thanh toán séc và tổng thanh toán không dùng tiền mặt. điều này chứng tỏ khách hàng sử dụng hình thức thanh toán này rất ít.

Năm 1998 số món séc chuyển tiền đạt 19 món vá doanh số thanh toán là 48081 triệu đồng chiếm 0,6% trong tổng thanh toán không dùng tiền mặt. Năm 1999 mức thanh toán hình thức này còn thấp hơn nhiều chỉ đạt 3 món với doanh số là 462 triệu đồng chiếm 0,01% tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Sang năm 2000 hình thức này vẫn tiếp tục giảm rút chỉ đạt 4 món với doanh số thanh toán là 394 triệu đôngf chỉ chiếm 0,006% doanh số thanh toán không dùng tiền mặt.

Nguyên nhân của tình trạng khách hàng ít sử dụng thanh toán bằng chuyển tiền đó là:

  • Thủ tục,trình tự luôn chuyển chứng từ séc chuyển tiền phức tạp, qua nhiều khâu trung gian làm giảm tốc độ thanh toán củ khách hàng.
  • Thời gian gần đây với công nghệ Ngân hàng hiện đại nên thanh toán qua mạng điện tử trong toàn quốc đã khẳng định của mình da vậy công việc chuyển tiền được thực hiện qua mạng vi tính đảm bảo cho người nhận tiền được nhận tiền một cách nhanh chóng nhất , an toàn, thuận lợi nhất.

Thực trạng thanh toán UNT.

Thực tế cho thấy hình thức thanh toán UNT được khách hàng sử dụng rất ít , tỷ trọng của nó chỉ chiếm 1 phần không đáng kể trong tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Mặc dù phạm vi thanh toán của hình thức này rất rộng thanh toán giữa các khách hàng có mở tài khoản cung chi nhánh, khác chi nhánh, trong cùng hệ thống , khác hệ thống, trong tỉnh, ngoài tỉnh nhưng thực tế nó chỉ được dùng để thanh toán liên hàng trong hệ thống. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Năm 1998 hình thức thanh toán UNT có số món phát sinh chỉ có 43 món và doanh số thanh toán đạt 2354 triệu đồng chỉ chiếm 0,2% trong tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Năm 1999 hình thức thanh toán này có chút ít biến đổi có tăng lên nhưng không đáng kể với số món là 53 món, doanh số thanh toán đạt 2888 triệu đồng chiếm 0,03% tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Tăng thêm 534 triệu đồng so với năm 1998. Năm 2000 hình thức thanh toán này lại giảm xuống, số món phát sinh là 41 món doanh số thanh toán đạt 1857 triệu đồng chỉ chiếm 0,02% trong tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt.

Qua 3 năm ta thấy hình thức thanh toán UNT chiếm 1 tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thanh toán không dùng tiền mặt, điều đó chứng tỏ khách hàng đã sử dụng rất hạn chế hình thức này. Để lý giải điều đó chúng ta có thể đưa ra 1 số nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó.

  • Hình thức UNT chỉ được áp dụng khi các chủ thể thanh toán đã thoả thuận thống nhất dùng hình thức thanh toán UNT với những điều kiện thanh toán đã ghi trong hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng.
  • Thủ tục thanh toán của hình thức này rát phức tạp, trải qua nhiều khâu: khách hàng nộp UNT vào Ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ, Ngân hàng gửi cho Ngân hàng phục vụ người trả tiền , Ngân hàng người trả tiền kiểm tra UNT, số dư tài khoản cuả người trả tiền rồi trích tiền chuyển về Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng lúc này Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng mới hạch toán điều đó làm giảm tốc độ thanh toán kéo dài thời gian, người thụ hưởng nhận tiền chậm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ. Do những hạn chế trên mà khách hàng của chi nhánh sử dụng hình thức này rất ít chủ yếu thanh toán cho những món có giá trị nhỏ có tính chất thường xuyên như: tiền điện , tiền nước, điện thoại…

2.2.4. Thực trạng thanh toán bằng NPTT.

Ngân phiếu thanh toán là một hình thức thanh toán không dùng tiền mặt nhưng thực chất nó là tiền mặt có giá trị lớn và có thời gian hiệu lực. Do đó việc sử dụng NPTT thay tiền mặt chỉ có tác dụng “chữa cháy” một cách nhất thời cho sự căng thẳng về tiền mặt ở nước ta những năm trước đây. Tuy nhiên do những ưu điểm và thuận lợi trong quá trình thanh toán mà khách hàng vẫn sử dụng để thanh toán.

Năm 1998 hình thức thanh toán này có số món phát sinh là 29939 món, doanh số thanh toán đạt 127120 triệu đồng chiếm tỷ trọng 1,5% trong tổng số thanh toán không dùng tiền mặt của chi nhánh. Năm 1999 hình thức thanh toán này có sự tăng lên đứng thứ 2 trong số 4 hình thức thanh toán không dùng tiền mặt chỉ sau UNC mặc dù số lượng sử dụng coàn nhỏ với 2522 món va doanh số thanh toán đạt 207078 triệu đồng tăng thêm 79958 triêụ đồng so với năm 1998, chiếm 2,3% tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Năm 2000 doanh số thanh toán của hình thức này có sự giảm sút chỉ đạt 136257 triệu đồng chiếm 1,9% tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt giảm đi 70821 triệu đồng so với năm 1999.

Mặc dù hình thức thanh toán NPTT đứng thứ 2 trong các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại chi nhánh Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định nhưng nhìn chung số lượng NPTT được khách hàng sử dụng vẫn còn ít so với thanh toán không dùng tiền mặt. Nguyên nhân củ sự hạn chế này là:

  • Mục đích của thanh toán không dùng tiền mặt là nhằm tiết kiệm chi phí lưu thông, chi phí bảo quản, kiểm đếm, in ấn tiền. Nhưng NPTT chỉ có hiệu lực trong vòng 3 tháng nên phải bỏ nhiều chi phí để in ấn khi NPTT hết thời hạn. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )
  • NPTT là 1 đồng tiền có mệnh giá lớn, được lưu thông trong 1 thời hạn nhất định do đó phải chịu nhiều rủi ro và chi phí cao.
  • Việc thanh toán NPTT giống như thanh toán bằng tiền mặt.
  • Khi vận chuyển để đi mua hàng hóa nhất là những món lớn thì không đảm bảo an toàn và vẫn mang 1 lượng lớn ngân phiếu.
  • Trong thời gian NPTT lưu hành cho đến khi nộp vào Ngân hàng thì số tiền trên ngân phiếu không được hưởng lãi suất nên nếu quá trình thanh toán diễn ra không nhanh chóng thì sẽ làm khách hàng bị ứ đọng vốn hiệu quả sử dụng không cao.

Qua sự phân tích về thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định, nhìn chung ta thấy tổng số thanh toán không dùng tiền mặt đang ngày càng tăng cao trong tổng số thanh toán chung, trong đó hình thức thanh toán UNC vẫn chiếm tỷ trọng cao và tăng lên theo hàng năm ngược lại các hình thức thanh toán khác: UNT, séc, NPTT ít được khách hàng sử dụng trong quá trình thanh toán nên tỷ trọng của chúng chiếm 1 phần rất nhỏ trong thanh toán không dùng tiền mặt.

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH NAM ĐỊNH TRONG THỜI GIAN QUA.

2.3.1. Những kết quả đạt được.

Trong những năm gần đây, công tác thanh toán không dùng tiền mặt trong toàn hệ thống Ngân hàng nói chung và ở Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định nói riêng có nhiều thay đổi. Ngân hàng luôn chú trọng đến việc hoàn thiện và phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt truyền thông như UNC, UNT và thanh toán séc. Vì vậy các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt đang phát huy được tác dụng và tiếp tục phát triển, nhờ đó chất lượng dịch vụ thanh toán của Ngân hàng ngày 1 tăng vf đem lại một khoản thu không nhỏ cho Ngân hàng.

Cụ thể hàng năm tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt đều chiếm rất cao trong tổng doanh số thanh toán chung của Ngân hàng: năm 1998 chiếm 86% năm 1999 chiếm 81% va năm 2000 chiếm tỷ trọng rất cao với 97,3%. Doanh số thanh toán không dùng tiền mặt năm 2000 đạt 38438 món trị giá 7.399.652 triệu đồng. Năm 2000 tại Ngân hàng số lượng khách hàng mở tài khoản giao dịch cả tiền gửi và tiền vay là 3085 khách hàng, tăng 1016 khách hàng so với năm 1999.

  • Bộ phận thanh toán viên giao dịch với khách hàng luôn phục vụ tốt yêu cầu của khách hàng, phòng kế toán luôn bám sát các văn bản chế độ của ngành , triển khai kịp thời đến toàn bộ các bộ nhân viên quán triệt và thực hiện, nâng cao chât lượng phục vụ khách hàng, xử lý nhanh chóng kịp thời, chính xác mọi nghiệp vụ phát sinh, có phong cách giao tiếp văn minh, lịch sự, tận tình hướng dẫn khách hàng được khách hàng tín nhiệm. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )
  • Chi nhánh sớm áp dụng tin học vào trong công tác thanh toán toàn hệ thống quá trình hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng luôn được quan tâm nhằm kịp thời khai thác các thông tin giao dịch hàng ngày trên mạng đồng thời thiết lập các chương trình thanh toán điện tử mới , chương trình MISAC.
  • Mọi nghiệp vụ phát sinh đều được kiểm soát 1 cách chặt chẽ và giải quyết nhanh chóng kịp thời những chứng từ chưa hợp lệ, hợp pháp.

2.3.2.Nhược điểm của công tác thanh toán không dùng tiền mặt.

Bên cạnh những thành công mà công tác thanh toán không dùng tiền mặt đã đạt được thì trong công tác thanh toán vẫn còn 1 số yếu kém bất cập cần được quan tâm giải quyết.

  • Trong toàn bộ các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định áp dụng thì 1 số hình thức thanh toán: UNT, séc có thủ tục thanh toán phức tạp không thuận tiện , gây nhiều phiền hà cho khách hàng từ thủ tục phát hành, nộp và thanh toán cho đến phạm vi thanh toán. nên chưa thu hút được số đông khách hàng sử dụng .
  • Trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán còn nhiều bất cập so với yêu cầu vì hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong nền kinh tế luôn có sự biến động không ngừng đặc biệt là cơ chế nghiệp vụ kết toán thanh toán. Vì vậy trong công tác tiếp thu, triển khai cơ chế nghiệp vụ mới còn gặp nhiều khó khăn, chưa thống nhất, hiệu quả chưa cao đôi khi còn lúng túng vướng mắc trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện.
  • Thực tế công tác thanh toán không dùng tiền mặt mới chỉ phục vụ thanh toán của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế còn đại bộ phận dân cư chưa tiếp cận được với các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng, đặc biệt họ là việc thanh toán bằng séc trong tầng lớp dân cư chưa vẫn còn là điều mới mẻ vì họ vẫn còn thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán vả lại mức thu nhập của họ chưa cao, mạng lưới dịch vụ không sẵn sàng tiếp nhận hình thức này.
  • Tình hình mở tài khoản cá nhân và thanh toán không dùng tiền mặt qua tài khoản tiền gửi cá nhân đã có dấu hiệu khả quan song thanh toán bằng séc qua tài khoản cá nhân vẫn chiếm tỷ lệ thấp.
  • Công tác tuyên truyền quảng cáo về những ưu điểm của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt chưa được chi nhánh chú trọng quan tâm nên người dân chưa quan tâm nhiều lăm đến hình thức thanh toán này, chưa thấy được những ưu điểm vượt trội của các hình thức so với so với thanh toán bằng tièn mặt.
  • Do quy mô hoạt đông và mức vốn đầu tư của Ngân hàng cho việc lắp đặt, ứng dung các trang thiết bị, công nghệ thanh toán hiện đại tiên tiến còn hạn hẹp cho nên các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt mới hiện đại, tiện lợi nhiều như thẻ thanh toán chưa được áp dụng.

Mỗi một mâu thuẫn tron công tác thanh toán cần phải có sự tháo gỡ kịp thời của các nhà \quản lý Ngân hàng để đáp ứng tốt hơn vai trò trung tâm thanh toán của nền kinh tế. Chính vì vậy đòi hỏi ban lãnh đạo Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định cần sớm nhận biết được những ưu điểm công tác thanh toán không dùng tiền mặt để phát huy đồng thời nhanh chóng phát hiện ra những nhược điểm cần được giải quyết từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất để khắc phục những nhược điểm đó, giúp cho công tác thanh toán không dung tiền mặt  của chi nhánh ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn.

Xem thêm: Lời mở đầu hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

2.3 THỰC TRẠNG, TÌNH HÌNH THỰC TẾ

2.3.1 TÌNH HÌNH THỰC TẾ CỦA THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CAO BẰNG.

2.3.1.1 Một số nét chung về thanh toán không dùng tiền mặt tại NHĐT&PT Cao Bằng.

Cũng như các mặt hoạt động kinh doanh khác, công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại NHĐT&PT Cao Bằng đang từng bước chuyển đổi để phù hợp với yêu cầu thanh toán của nền kinh tế. 

Những đổi mới trong công tác thanh toán không dùng tiền mặt của NHĐT&PT Cao Bằng , trước hết phải kể đến việc thực hiện tin học hoá công nghệ thanh toán, nó đã đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển chứng từ, rút ngắn thời gian thanh toán, khắc phục được tình trạng thanh toán chậm trễ, sai sót. Cụ thể  là: ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

– Về công tác thanh toán chuyển tiền điện tử:  NHĐT&PT Cao Bằng  đã được trang bị đầy đủ máy vi tính và thực hiện nối mạng để thanh toán. Việc thanh toán chuyển tiền qua chuyển tiền điện tử  đảm bảo nhanh chóng, thuận tiện, chính xác, an toàn đã tạo được uy tín đối với khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch.

Công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại NHĐT&PT Cao Bằng  ngày càng được củng cố và hoàn thiện. Nó có ưu điểm hơn hẳn so với thanh toán bằng tiền mặt.

BẢNG SỐ 04 TÌNH HÌNH THANH TOÁN CHUNG CỦA NHĐT&PT CAO BẰNG

                                                                                                     Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
1. TT bằng TM 328.106 25,71% 528.529 24,6% 747.520 26,09%
2. TTKDTM 948.562 77,29% 1.620.239 75,4% 2.117.272 70,91%
Doanh số TT 1.276.668 100% 2.148.768 100% 2.864.792 100%

(Nguồn báo cáo kế toán năm 2001, 2002, 2003)

Qua bảng số liệu cho thấy: tình hình thanh toán của ngân hàng diễn ra rất tốt trong 3 năm qua. Nhìn chung doanh số đều tăng lên theo các năm:

Năm 2002 mặc dù tỷ trọng giảm so với năm 2001 về thanh toán không dùng tiền mặt nhưng xét về tuyệt đối thì vẫn tăng lên 671.677 triệu đồng. Cho thấy cùng với sự phát triển chung của các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế ngân hàng đã không ngừng đổi mới hoạt động kinh tế tài chính đáp ứng yêu cầu thanh toán của cá nhân và doanh nghiệp từ đó doanh số thanh toán không ngừng tăng lên rõ rệt.

Đến năm 2003 doanh số về thanh toán không dùng tiền mặt đạt cao nhất so với năm 2001, 2002 là 2.117.272 triệu đồng chiếm tỷ trọng 70,91%.

Hiện nay thanh toán không dùng tiền mặt đã và đang không ngừng được đẩy mạnh nâng cao số lượng cũng như chất lượng và ngày càng hoà nhập vào công cuộc phát triển kinh tế toàn quốc nói chung và Cao Bằng nói  riêng. Mặc dù đại bộ phận dân chúng nước ta vẫn có thói quen dùng tiền mặt để mua bán thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Cao Bằng một tỉnh miền núi có nền kinh tế phát triển chậm và nghèo so với cả nước. Nhưng thanh toán không dùng tiền mặt vẫn phát triển sở dĩ như vậy là do các TCKT sử dụng và có nhu cầu thanh toán ngày một tăng. Tuy vậy, việc thanh toán không dùng tiền mặt chưa được phát triển trong dân cư là một vấn đề tồn tại lớn cần sớm khắc phục vì phát triển thanh toán trong dân cư không chỉ tăng thu nhập cho các Ngân hàng mà nó còn có ý nghĩa to lớn trong việc giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, góp phần tăng trình độ dân trí cho người dân.

2.3.1.2. Tình hình vận dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại NHĐT&PT Cao Bằng.

Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt luôn được thay đổi cho phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế. NHĐT&PT Cao Bằng đã tiếp nhận và triển khai thực hiện tốt nhằm khai thác triệt để tính năng động của nó. Để thấy được cụ thể ở mỗi hình thức thanh toán được vận dụng ở NHĐT&PT Cao Bằng ta nghiên cứu sâu từng hình thức thanh toán. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

a) Hình thức thanh toán bằng séc.

Trong các hình  thức thanh toán không dùng tiền mặt có thể thấy séc là công cụ thanh toán có nhiều lợi thế hơn hẳn so với các công cụ khác, nếu như những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của hình thức thanh toán này được thoả mãn chắc chắn nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn. Hiện nay, thanh toán bằng séc được sử dụng phổ biến ở các nước trên thế giới, nhưng ở Việt Nam việc thanh toán bằng séc vẫn còn rất hạn chế. Tuy nhiên, từ sau nghị định 30/CP của chính phủ ban hành về quy chế sử dụng séc và Thông tư 07/TT – NHNN1 ngày 27 tháng 12 năm 1996 hướng dẫn thực hiện quy chế phát hành và sử dụng séc, đã có một số quy định mới loại bỏ quy định bất hợp lý trước đây về séc nên thanh toán séc từng bước được đẩy mạnh, việc sử dụng séc trở nên phổ biến hơn trong các giao dịch thanh toán, phần nào làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt trong tổng số thanh toán chung của Ngân hàng. Song do thói quen ưa dùng tiền mặt của dân chúng cũng như những quy định về séc còn nhiều bất cập làm cho séc vẫn chưa phát huy được tính ưu việt của nó do vậy dù séc có nhiều tiện ích nhưng vẫn chưa được sử dụng nhiều. Hiện nay, Séc sử dụng thanh toán tại NHĐT&PT Cao Bằng chỉ sử dụng một loại đó là Séc chuyển khoản.

Séc chuyển khoản là một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt có nhiều tiện ích nhưng nó chỉ được sử dụng với khối lượng tương đối ít trong tổng thanh toán không dùng tiền mặt .

Cụ thể: Năm 2002 thanh toán không dùng tiền mặt tổng số món là 6.835 món với tổng số tiền là 1.630.239 triệu đồng , trong đó Séc chuyển khoản là 135 món chiếm 1,97% trong tổng số món  thanh toán không dùng tiền mặt, doanh số thanh toán đạt 35.199 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 2,15% Tống số thanh toán không dùng tiền mặt. Đến năm 2003 tống số món thanh toán không dùng tiền mặt là 6.970 món với tổng số tiền là 2.117.272 triệu đồng, trong đó séc chuyển khoản là 159 món tăng 24 món so với năm 2002, chiếm tỷ trọng 2,28% trong tống số món thanh toán không dùng tiền mặt, doanh số thanh toán đạt 51.299 triệu đồng, tăng so với năm 2002 về số tuyệt đối là 16.110 triệu đồng, tức là tăng 45,73%. Chiếm tỷ trọng 2,42% trong tổng thanh toán không dùng tiền mặt năm 2003.

Với kết quả như trên thì thanh toán bằng séc tại NHĐT&PT Cao Bằng đã tăng lên cả về số món và doanh số. Nhưng tỷ trọng trong tổng thanh toán không dùng tiền mặt thì nó lại rất nhỏ và tốc độ tăng trong sử dụng séc là rất chậm. Tuy nhiên thực tế thanh toán bằng séc chuyển khoản đã phần nào phát huy được ưu điểm của nó trong công tác thanh toán không dùng tiền mặt, những ưu điểm đó là:

  • – Séc chuyển khoản có thủ tục phát hành, thanh toán đơn giản, thuận tiện. Khi khách hàng có nhu cầu thì Ngân hàng bán trực tiếp séc cho họ, sau đó khách hàng tự phát hành séc để mua hàng tại nơi diễn ra giao dịch mua bán sau khi đã thoả thuận với nhau mà không cần phải đến Ngân hàng làm bất kỳ thủ tục nào. Điều này làm tiết kiệm thời gian cho người phát hành séc. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )
  • – Thủ tục thanh toán séc chuyển khoản cũng rất đơn giản do không phải chuyển qua một tài khoản trung gian nào nên giúp cho công tác kế toán trong Ngân hàng đỡ phức tạp hơn. Mặt khác do không phải ký gửi vào tài khoản riêng để thanh toán trước khi giao séc cho người thụ hưởng nên người phát hành séc không bị mất một khoản tiền sinh lời trên số tiền ký gửi như séc Bảo chi.
  • Tuy nhiên thanh toán bằng séc chuyển khoản cũng bộc lộ những nhược điểm nhất định do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động trực tiếp hoặc gián tiếp.
  • –  Séc chuyển khoản được thanh toán theo nguyên tắc ghi nợ tài khoản người phát hành trước, ghi có cho người thụ hưởng sau. Do vậy khi khách hàng gửi vào tài khoản tiền gửi thanh toán ở hai Ngân hàng khác nhau thì quá trình luân chuyển chứng từ kéo dài 1 – 2 ngày, nếu tài khoản tiền gửi của người phát hành séc không đủ tiền để thanh toán ngay thì người thụ hưởng vô tình bị chiếm dụng vốn trong một khoảng thời gian làm cho vốn bị ứ đọng trong thanh toán, dẫn đến luân chuyển vốn chậm, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người thụ hưởng.
  • –  Người mua có thể phát hành séc quá số dư trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, do đó người bán có thể bị chiếm dụng vốn, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ.
  • – Một tờ séc phải ghi quá nhiều yếu tố, gây khó khăn và tâm lý ngại sử dụng cho người phát hành trong việc gi các yếu tố lên trên tờ séc.
  • – Phạm vi thanh toán séc chuyển khoản hẹp, chỉ áp dụng thanh toán đối với các khách hàng mở tài khoản tại 1 chi nhánh hoặc 2 chi nhánh Ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ. Chính điều này đã làm cho doanh số thanh toán của séc chuyển khoản thấp hơn nhiều so với uỷ nhiệm chi

b) Hình thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi .

Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của Ngân hàng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng. Bởi vậy Uỷ nhiệm chi có một quy trình luân chuyển rất đơn giản, nhanh chóng. Uỷ nhiệm chi được áp dụng ở phạm vi rộng, bao gồm thanh toán trong cùng một Ngân hàng và khác Ngân hàng. Vì những ưu điểm của Uỷ nhiệm chi nên nó được sử dụng khá phổ biến trong thanh toán không dùng tiền mặt tại NHĐT&PT Cao Bằng.

Năm 2002 thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi 5.435 món chiếm tỷ trọng 79,51% trong tổng số món thanh toán không dùng tiền mặt. Doanh số thanh toán đạt 1.398.530 triệu đồng, chiếm 85,78% trong tổng thanh toán không dùng tiền mặt.

Năm 2003  thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi 5.569 món chiếm tỷ trọng 79,89% trong tổng số món thanh toán không dùng tiền mặt. Doanh số thanh toán đạt 1.796.892 triệu đồng, chiếm 84,8% trong tổng thanh toán không dùng tiền mặt. So với năm 2002 thanh toán bàng Uỷ nhiệm chi năm 2003 tăng 134 món, với số tiền tăng là 398.362 triệu đồng, tức là tăng 28,48%.

  •             Có được kết quả như trên là do NHĐT&PT Cao Bằng đã xúc tiến mạnh mẽ các giải pháp đổi mới cơ chế. Đội ngũ cán bộ làm công tác kế toán có trình độ nghiệp vụ vững vàng, sử dụng máy vi tính thành thạo, tác phong giao dịch lịch sự, tận tuỵ, chu đáo với mọi khách hàng. Đặc biệt quan trọng là NHĐT&PT Cao Bằng đã tổ chức nối mạng  để tiện việc thanh toán liên hàng, chuyển tiền đi các tỉnh nhanh chóng, kịp thời chính xác, an toàn. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )
  •             Một món chuyển tiền qua mạng vi tính đi các ngân hàng cùng hệ thống khác địa phương chậm nhất  trong vòng  một ngày làm việc là khách hàng có tiền trên tài khoản, nếu Ngân hàng khác hệ thống thì chậm nhất trong vòng hai ngày làm việc. Như vậy chuyển tiền qua mạng máy vi tính vừa nhanh, vừa chính xác, rất ít xảy ra sai sót. Thời gian thanh toán bằng uỷ nhiệm chi ngắn cho nên đã rút ngắn được quá trình luân chuyển vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
  •             Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi đã thể hiện được tính hơn hẳn so với các thể thức thanh toán khác. Nó được khách hàng ưu chuộng để chi trả tiền hàng hoá dịch vụ.
  •             Trong thời gian vừa qua tại NHĐT&PT Cao Bằng không có trường hợp nào vi phạm chế độ thể lệ thanh toán đối với hình thức thanh toán uỷ nhiệm chi. Hình thức thanh toán này sẽ ngày càng mở rộng và được nhiều người ưa dùng vì thủ tục đơn giản, thời gian luân chuyển chứng từ nhanh, đảm bảo chuyển tiền an toàn, chính xác, đã đáp ứng được nhu cầu thanh toán của khách hàng.
  •             Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm chi – chuyển tiền có nhiều ưu điểm song cũng còn một số hạn chế cần khắc phục để công tác thanh toán được tốt hơn, cụ thể là:
  • – Uỷ nhiệm chi được lập theo mẫu in sẵn của ngân hàng, phần để ghi nội dung chuyển tiền hẹp nên không ghi được đầy đủ nội dung chuyển tiền.
  •             – Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản trả tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc chuyển tiền trong cùng hệ thống và  khác hệ thống Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước. Đối với chứng từ chuyển tiếp, chương trình máy vi tính chưa phù hợp.
  •             – Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi đễ dẫn đến trường hợp đơn vị mua chiếm dụng vốn của đơn vị bán.

Xem thêm: Đề cương hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

2.3.1.3 Tình hình thu phí dịch vụ thanh toán.

Ngân hàng thực hiện dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng bao gồm dịch vụ trong cùng một Ngân hàng và dịch vụ thanh toán khác Ngân hàng thông qua chuyển tiền hai phạm vi cung ứng dịch vụ thanh toán có áp dụng thu phí khác nhau.

  • – Các khoản thanh toán trực tiếp giữa khách hàng với khách hàng trong cùng Ngân hàng và giữa khách hàng với Ngân hàng nơi mở tài khoản về trả nợ, trả lãi, mua giấy tờ in, các khoản vay, trả nợ thì Ngân hàng không được thu phí dịch vụ thanh toán.
  • – Các khoản thanh toán khác Ngân hàng phải qua chuyển tiền thì Ngân hàng thu phí.
  • Phí với NHĐT&PT Việt Nam nói chung và NHĐT&PT Cao Bằng nói riêng áp dụng theo công văn 2496/cv-NHĐT&PT của TGĐ NHĐT&PT Việt Nam:
  • + Chuyển tiền trực tiếp từ tài khoản với lệ phí 0,06% số tiền chuyển và tối đa là 700.000đ/món
  • + Nộp tiền mặt để chuyển tiền với lệ phí 0,10% số tiền chuyển và tối đa là 100.00đ/món. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )
  • + Chuyển tiền đi TTBT là 3000đ/món.
  • +  Phí tra soát là 20.000đ/món/lần.
  • Trong các năm qua việc thu phí dịch vụ của chi nhánh không ngừng tăng lên thể hiện :  Năm 2001 đạt 186 triệu đồng.

                Năm 2002 đạt 228 triệu đồng.

                Năm 2003 đạt 335 triệu đồng.

Nhìn chung tình hình thu phí qua các năm đều tăng năm sau cao hơn năm trước, chứng tỏ dịch vụ thanh toán của chi nhánh rất phát triển. Phí dịch vụ góp phần không nhỏ vào thu nhập của ngân hàng. Nhưng trong kinh doanh đặc biệt là trong quá trình hội nhập hiện nay, để khuyến khích khách hàng mở và sử dụng dịch vụ tài khoản qua ngân hàng chi nhánh nên miễn một số loại phí đồng thời áp dụng các biện pháp nhằm thu hút và mở rộng khách hàng.

2.3.1.4 Tình hình thanh toán vốn giữa các ngân hàng

a) Thanh toán liên hàng.

            Thanh toán liên hàng thực chất là việc chuyển tiền từ Ngân hàng này đến Ngân hàng kia để phục vụ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ của hai khách hàng (mua và bán) khi cả hai khách hàng không cùng mở tài khoản ở một Ngân hàng, hoặc là chuyển cấp vốn, điều hoà vốn, trong nội bộ hệ thống Ngân hàng.

            Trong những năm qua tại NHĐT&PT Cao Bằng đã áp dụng hình thức thanh toán liên hàng và đã đạt được kết quả như sau:

BẢNG 5: TÌNH HÌNH THANH TOÁN LIÊN HÀNG TẠI NHĐT&PT CAO BẰNG

                                                                                                            ĐV: Triệu đồng

Năm Liên hàng đi Liên hàng đến
2001 464.780 467.824
2002 605.331 599.687
2003 779.475 780.585

(Nguồn báo cáo kế toán các năm 2001, 2002, 2003)

            Từ bảng số liệu cho ta thấy tình hình thanh toán liên hàng trong những năm qua tại NHĐT&PT Cao Bằng liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước.

 Với kết quả trên NHĐT&PT Cao Bằng đã thực hiện được yêu cầu của công tác thanh toán không dùng tiền mặt: Nhanh chóng, chính xác, an toàn, tăng nhanh vòng quay của vốn. Đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế góp phần giảm chi phí trong lưu thông do không phải thực hiện vận chuyển tiền mặt từ nơi này đến nơi khác ….. Tạo điều kiện để Ngân hàng sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả góp phần làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng.

b) Thanh toán bù trừ.

Về TTBT qua NHNN: Trên địa bàn thị xã Cao Bằng, NHĐT&PT Cao Bằng  tham gia TTBT qua NHNN cùng các NHTM trên địa bàn, và kho bạc nhà nước.  Các thành viên tham gia TTBT, hàng ngày theo giờ quy định lập bảng kê chứng từ TTBT mẫu 12 gửi cho các ngân hàng thành viên có liên quan. Các ngân hàng thành viên căn cứ vào bảng kê mẫu 12 lập bảng kê TTBT (mẫu 14) gửi ngân hàng chủ trì, căn cứ vào bảng kê mẫu 14 của các ngân hàng thành viên NHNN cuối ngày lập và gửi kết quả TTBT (mẫu 15) cho các ngân hàng thành viên.

  • TTBT qua các năm đạt những doanh số đáng khích lệ, cụ thể:
  • Năm 2001 doanh số là 309.930 triệu đồng.
  • Năm 2002 doanh số là  327.999 triệu đồng, tăng hơn năm trước 18.069 triệu đồng. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )
  • Năm 2003 doanh số là 441.730 triệu đồng, tăng hơn so 2001 là 131.800 triệu đồng và tăng 42.53%
  • Qua số liệu trên cho thấy tình hình về TTBT phát triển rõ rệt, năm sau cao hơn năm trước.

Những mặt được: Hàng ngày ngân hàng đã thực hiện tốt phiên giao dịch, các chứng từ được giao nhận kịp thời ngay trong phiên giao dịch tại NHNN, kết quả TTBT được thực hiện kịp thời. Tuy nhiên do nhu cầu thanh toán của khách hàng ngày càng lớn,yêu cầu thanh toán nhanh chóng kịp thời, bởi vậy số phiên giao dịch cần quy định cho phù hợp.

2.3.2  Hiện đại hoá công nghệ thanh toán và trình độ cán bộ.

Thanh toán không dùng tiền mặt là nghiệp vụ rất quan trọng, chất lượng hiệu quả hoạt động này có tác động rất lớn tới việc phát triển của ngân hàng nói riêng và của các ngành trong nền kinh tế nói chung.

 Thanh toán không dùng tiền mặt rất đa dạng, phong phú, phục vụ khối lượng khách hàng rất lớn nên yêu cầu của nghiệp vụ này phải nhanh, chính xác, an toàn tài sản. Đảm bảo điều này thì hiện đại hoá công nghệ thanh toán là một việc làm vô cùng quan trọng và thiết yếu.

Tại NHĐT&PT Cao Bằng đã triển khai thực hiện tốt các văn bản,quy chế, quy trình nghiệp vụ theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO – 9000 do trung ương ban hành và cụ thể hoá phù hợp với điều kiện tại chi nhánh.

Trong những năm qua chi nhánh đã đầu tư cải tạo xây dựng hệ thống cơ sở vật chất phù hợp với yêu cầu hoạt động của ngân hàng hiện tại, chú trọng đầu tư nâng cấp công nghệ tin học coi đây là yếu tố quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại. Triển khai các chương trình ứng dụng diện rộng của toàn ngành, nâng cao tiện ích dịch vụ phục vụ khách hàng tại chi nhánh, phát huy tính chủ động sáng tạo trong hoạt động, triển khai vận hành các sản phẩm mới có tính cạnh tranh lành mạnh cao đáp ứng nhu cầu khách hàng, thực hiện các chương trình kế hoạch hiện đại hoá  hệ thống NHĐT do trung ương chỉ đạo.

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin ứng dụng vào hoạt động ngân hàng đã triển khai nhanh và mạnh góp phần tích cực vào việc thay đổi công nghệ ngân hàng nói chung và NHĐT&PT Cao Bằng nói riêng. Từ công tác quản trị điều hành đến các sản phẩm ngân hàng nói chung đều có sự có mặt của công nghệ thông tin tuy nhiên việc áp dụng vào hoạt động ở  chi nhánh còn rất thụ động, phụ thuộc gần như hoàn toàn vào các chủ trương chương trình của trung ương.

Về trình độ cán bộ , đến năm 2003 trình độ đại học và cao đẳng dài hạn chiếm 84% trên tổng số CBCNV trong toàn chi nhánh. Đội ngũ cán bộ được trẻ hoá để đảm bảo  các công việc khó khăn phức tạp. Do có sự đầu tư thích đáng trong nâng cao chất lượng đội ngũ cũng như trang bị cơ sở vật chất, thực hiện tốt các chương trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng nên công nghệ tại chi nhánh đã có sự thay đổi tích cực.

2.4  ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TẠI NHĐT&PT CAO BẰNG

2.4.1 Những kết quả đạt được:

Đánh giá một cách tổng quát trong những năm qua đặc biệt là năm 2003 NHĐT&PT Cao Bằng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong tất cả các mặt hoat động trong đó có nghiệp vụ kế toán và thanh toán không dùng tiền mặt.

Có thể thấy khối lượng và doanh số thanh toán KDTM gia tăng qua các năm. Năm 2001 thanh toán đạt 1.276.668 triệu trong đó thanh toán không dùng tiền mặt là 948.562 triệu đồng, năm 2002 thanh toán đạt 2.148.768 triệu đồng trong đó thanh toán không dùng tiền mặt đạt 1.620.239 triệu đồng tăng so vơí 2001 là 671.677 triệu đồng. Đến năm 2003 thanh toán đạt 2.864.792 triệu đồng và thanh toán không dùng tiền mặt là 2.117.272 triệu đồng tăng so 2002 là 497.033 triệu đồng.

Nhìn chung về số lượng món và doanh số thanh toán đều tăng qua các năm. Khối lượng  công việc hàng ngày phát sinh lớn nhưng công tác thanh toán đều đảm bảo kịp thời và ít phải tra soát lại.

Các nghiệp vụ về chuyển tiền liên hàng và thanh toán bù trừ cũng được thực hiện tốt và ổn định.Thực hiện đúng quy định về thời gian gửi lệnh và nhận lệnh của NHĐT&NHĐT&PT Cao Bằng trung ương, tiếp nhận và xử lý kịp thời mọi chứng từ đi đến, xử lý các sai lầm được tiến hành nhanh chóng và hầu như không để xảy ra sai lầm. Nêu cao được tính chủ động, hiệu quả trong điều hành, công tác chuyên môn coi đây là điều kiện để hình hành các nghiệp vụ khác, luôn bám sát nhu cầu của khách hàng, của thị trường. Tăng cường nghiêm túc kiểm tra kiểm soát nội bộ, tích cực đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ. Đầu tư thích đáng cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực nâng cao cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng.

Với phong cách nhiệt tình chu đáo tin cậy, chi nhánh đã thu hút được nhiều khách hàng đến với NHĐT&PT . Trong hoạt động luôn phục vụ nhanh chóng, kịp thời nhu cầu của khách hàng cả về tiền vay, tiền gửi, các khâu thanh toán cũng như tạo được niềm tin với bạn hàng, cùng với việc mở rộng các loại hình dịch vụ đã ngày một nâng cao khả năng phục vụ nhu cầu đa dạng của thị trường trong giai đoạn mới. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

2.4.2 Một số tồn tại, hạn chế

Là một chi nhánh miền núi, quy mô nhỏ so với toàn ngành, ngoài những kết quả đạt được nêu trên chi nhánh còn có một số khó khăn tồn tại cụ thể:

Chi nhánh luôn quan tâm đến việc đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động kế toán, thanh toán song do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin làm cho máy móc thiết bị nhanh chóng lạc hậu. Một số thể thức thanh toán không dùng tiền mặt mới hiện đại chưa được áp dụng rộng rãi do quy định của NHĐT&PT  trung ương, mặt khác do môi trường địa bàn hoạt động của chi nhánh. Hiện nay trên địa bàn NHTM là NHNo&PTNT và NHCS mới được thành lập, chi nhánh chỉ có một hội sở giao dịch chính đặt tại địa bàn bởi vậy hạn chế trong công tác HĐV cũng như sử dụng các dịch vụ thanh toán. Hơn nữa chi nhánh chưa tự chủ về vốn, vốn tín dụng đầu tư còn dựa vào vốn trung ương điều chuyển.

Do đặc thù điều kiện hoạt động nên hiện tại chi nhánh mới chỉ thực hiện các mặt kinh doanh trực tiếp tại trụ sở chính điều này cũng là một hạn chế cho việc mở rộng khách hàng, mở rộng thị phần.

Trình độ đội ngũ cán bộ kế toán còn nhiều bất cập so với yêu cầu công việc do hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong cơ chế thị trường luôn có  sự thay đổi, đặc biệt là cơ chế nghiệp vụ kế toán. Kiến thức về tin học ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ kế toán chưa đươc đào tạo có hệ thống nên phần nào hạn chế công tác thanh toán trong những năm qua.

Mặc dù doanh số thanh toán không dùng tiền mặt có chiều hướng gia tăng nhưng thanh toán bằng séc chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng doanh số KDTM của ngân hàng. Trong khi đó trên thế giới séc là công cụ được sử dụng phổ biếnvà có nhiều tiện ích. Tình hình mở tài khoản cá nhân và thanh toán qua tài khoản tiền gửi cá nhân có dấu hiệu khả quan trong thanh toán bằng séc qua tài khoản tiền gửi cá nhân rất hạn hẹp. Như vậy séc vẫn chưa được người dân chấp nhận như một tiện ích.

Về các bảng kê TTBT gửi cho các thành viên còn lập thủ công bằng tay chưa triển khai TTBT điện tử qua mạng với các ngân hàng thành viên, đôi khi khoản vốn điều chuyển của chi nhánh chưa được báo có kịp thời trong ngày. 

Thực tế công tác thanh toán mới chỉ phục vụ khu vực nhà nước, các tổ chức kinh tế, các cơ quan hành chính sự nghiệp còn đại bộ phận dân cư vẫn còn là mới mẻ. Tỷ trọng của Thanh toán không dùng tiền mặ có cao với doanh số tăng theo năm nhưng mới chỉ dừng lại ở séc (SCK) và ủy nhiệm chi, các thể thức khác vẫn chưa được áp dụng.

2.4.3  Nguyên nhân

Chủ quan:

Đã chú trọng công tác tuyển dụng,  đào tạo góp phần nâng cao số lượng và chất lượng cán bộ, nhưng một số cán bộ chưa phát huy hết năng lực, tính chủ động trong công việc, còn thiếu cán bộ có năng lực ở một số vị trí chủ chốt như công tác điện toán, việc triển khai quản lý kiểm soát ở từng bộ phận chưa triệt để.

Khách quan:

Cao Bằng là một tỉnh có nền kinh tế chậm phát triển và nghèo nhất so với cả nước. Bởi vậy môi trường kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, sự phối hợp giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội vẫn chưa cao, chưa kịp thời. Các dự án đầu tư ít, quy mô không lớn, nhiều dự án đầu tư hoàn thành và đã đi vào khai thác nhưng kém hiệu quả. Số lượng tổ chức kinh tế không nhiều phần lớn tập chung vào hoạt động xây dựng cơ bản chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhiều tồn tại về khả năng tài chính, năng lực thi công.

Do môi trường hoạt động nên các dịch vụ thanh toán cũng có phần hạn chế, các thể thức thanh toán áp dụng vào chi nhánh chưa nhiều, đây cũng là một trở ngại rất lớn ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của chi nhánh.


THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

2.2  Thực trạng hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà nội, Chi nhánh Hà nội

SHB-HN là một Ngân hàng đô thị mới hoạt động tại địa bàn Hà nội, nơi tập trung đông dân cư, thành phố phát triển, tập trung nhiều tổ chức kinh tế của cả nước. Thực trạng TTKDTM của SHB-HN như sau: ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Đối với các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác tham gia giao dịch tại SHB-HN thì việc mở tài khoản là yêu cầu bắt buộc đối với các tổ chức kinh tế tín dụng có đăng ký kinh doanh. Trong tổng số dư của các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn thì tiền gửi của các tổ chức kinh tế là chủ yếu, chiếm trên 90%. Tuy nhiên, nhu cầu gửi tiền vào tài khoản và thực hiện thanh toán qua tài khoản vẫn chưa cao. Là một hình thức Thanh toán không dùng tiền mặt, đây là vấn đề chung của tất cả các NHTM hiện nay chứ không riêng gì SHB-HN. Thực tế có rất nhiều giao dịch thanh toán giữa các doanh nghiệp không thông qua Ngân hàng mà các doanh nghiệp vẫn thanh toán với nhau bằng tiền mặt. Vẫn có những khách hàng yêu cầu một tờ giấy rút tiền mặt và thanh toán cho khách hàng của mình ngay tại quầy giao dịch của Ngân hàng, tiến hành kiểm đếm ngay tại quầy trong khi đó họ chỉ cần làm một động tác dùng uỷ nhiệm chi hay bất kỳ hình thức Thanh toán không dùng tiền mặt nào khác để chi trả cho khách hàng của họ nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách hàng của họ

Nhu cầu mở và sử dụng tài khoản trước hết phụ thuộc vào việc Ngân hàng có cung cấp được cho khách hàng các hình thức thanh toán và dịch vụ thanh toán thuận lợi, nhanh chóng, an toàn và kinh tế hay không. Đây là yếu tố cơ bản, lâu dài đối với hệ thống NHTM nói chung và SHB-HN nói riêng trong việc thu hút các tổ chức tín dụng mở tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Đặc biệt đối với tình hình thực tế ở nước ta, việc mở và sử dụng tài khoản đối với đại bộ phận người dân còn xa lạ, ngại và chưa quen với giao dịch qua ngân hàng. Trong suốt thời kỳ đổi mới kinh tế, việc thực hiện thanh toán bằng tiền mặt luôn chiếm một tỷ lệ rất lớn. Các doanh nghiệp tư nhân giao dịch qua ngân hàng chiếm tỷ lệ hơn 50% trong khi các doanh nghiệp nhà nước thực hiện giao dịch thanh toán qua Ngân hàng  chiếm tỷ lệ hơn 80%. Nhưng có một điều trong thời kỳ này, các doanh nghiệp đều hoàn toàn trả lương bằng tiền mặt. Còn các hộ kinh doanh chi trả tiền hàng bằng hình thức tiền mặt.

 Nếu việc sử dụng các công cụ thanh toán Thanh toán không dùng tiền mặt buộc khách hàng phải đi lại nhiều lần hoặc phải hoàn tất các thủ tục nặng nề, phức tạp, rườm rà, khách hàng sẽ không tự nguyện thực hiện các dịch vụ đó.

Tại địa bàn Hà nội vốn huy động trong dân cư là rất lớn. Chủ yếu là huy động tiền gửi có kỳ hạn. Việc mở tài khoản và sử dụng tài khoản thanh toán với đối tượng khách hàng dân cư là không cao, Tiền gửi không kỳ hạn của dân cư chỉ chiếm một lượng rất nhỏ trong tổng số dư của các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại SHB-HN, chiếm khoảng 10%  trên tổng số tiền gửi không kỳ hạn. Phải nói rằng việc dùng uỷ nhiệm chi hay dùng thẻ để thanh toán hàng hoá và dịch vụ vẫn còn rất xa lạ.

Hiện tại SHB-HN chủ yếu thanh toán nội địa, thực hiện thanh toán trong phạm vi trong nước. Thanh toán quốc tế tạm thời tiến hành thanh toán gián tiếp qua một số Ngân hàng đã được NHNN cấp phép thanh toán trực tiếp: món thanh toán quốc tế phải chuyển lên SHB Hội sở thanh toán nhờ qua MB, Ngân hàng TMCP Hàng Hải, Ngân hàng Đầu tư và phát triển.

Việc chủ tài khoản dùng UNC hay Séc chuyển khoản để thanh toán cho người thụ hưởng có tài khoản tại SHB-HN khác tỉnh thành phố hoặc khác hệ thống Ngân hàng khách hàng sẽ phải thanh toán cho Ngân hàng một khoản phí theo biểu phí của SHB-HN quy định theo từng thời kỳ.

Để thuận lợi cho công tác thanh toán được hoạt động có hiệu quả, SHB-HN đã bố trí một bộ phận phụ trách về thanh toán bao gồm 2 người, chuyên phụ trách về mảng Thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển tiền nội bộ, chuyển tiền đi online, nhận tiền về từ các Ngân hàng khác chuyển đến. Cán bộ thanh toán mỏng nên đôi khi công việc thanh toán bị ứ đọng, xử lý không kịp thời

Hình thức thanh toán UNT chỉ áp dụng hạn chế trong việc thu tiền điện, tiền nước … rất ít giao dịch.

Hình thức sử dụng thẻ, mới vừa triển khai rộng rãi năm 2008. SHB triển khai dịch vụ thẻ khi các Ngân hàng khác đã đi vào hoạt động ổn định Chủ yếu là thẻ thông thường. Chưa có máy ATM, khách hàng chỉ tham gia rút và thanh toán tiền thông qua các máy ATM của các Ngân hàng tham gia liên minh thẻ như VCB, VPB … do vậy, sự cố liên tục xảy ra cho khách hàng dẫn đến mất uy tín với khách hàng. Việc phát hành thẻ chủ yếu tập trung vào đầu mối SHB, chưa có cán bộ chuyên trách về bộ phận thẻ nên chưa mang tính chuyên nghiệp cao. Việc cấp thẻ và Pin (Mã số cá nhân) của Ngân hàng hay bị lỗi, cho thẻ vào nhưng tiền không ra trong khi đó vẫn trừ tiền trong tài khoản của khách hàng dẫn đến phản ứng gay gắt từ phía khách hàng đối với ngân hàng. Mạng làm thẻ hay bị lỗi nên không hạch toán ngay được đôi khi phát hành thẻ chậm đến tay khách hàng.

Với thẻ thông thường theo hạn mức,người sử dụng thẻ có thể rút tiền mặt nhưng trong một ngày rút không quá 10 triệu đồng (đối với thẻ hạng chuẩn), không quá 15 triệu (đối với hạng thẻ vàng), không quá 20 triệu (đối với hạng thẻ đặc biệt). Nếu mất thẻ, người sử dụng phải thông báo ngay bằng văn bản cho ngân hàng phát hành thẻ biết để thông báo cho ngân hàng đại lý thanh toán thẻ, báo cho cơ sở tiếp nhận thẻ biết. Cơ sở tiếp nhận thẻ sẽ phong toả số tài khoản của khách hàng nhằm giảm rủi ro cho khách hàng.

 Khi sử dụng hết hạn mức hoặc hết thời hạn sử dụng của thẻ, nếu có nhu cầu, người sử dụng thẻ phải đến ngân hàng phát hành thẻ làm thủ tục sử dụng tiếp. Trong phạm vi mười  ngày làm việc, kể từ ngày viết hoá đơn cung ứng hàng hoá, dịch vụ, người tiếp nhận thẻ phải nộp biên lai vào ngân hàng đại lý để đòi tiền, nếu quá thời hạn trên, ngân hàng không chấp nhận thanh toán. Trong phạm vi một ngày làm việc, kể từ khi nhận được biên lai thanh toán, ngân hàng đại lý phải thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán thẻ.

Hiện nay SHB đã và đang cung cấp cho khach hang một dịch vụ Thanh toán không dùng tiền mặt mới, hiện đại và rất nhiều tiện ích. Đó là dịch vụ Ebanking. Trong đó bao gồm cả việc nhận tin nhắn và gửi tin nhắn tra cứu số dư tài khoản Tiền gửi thanh toán qua SMS, qua internet và đặc biệt, khách hàng còn có thể chuyển khoản cho các tài khoản khác trong hệ thống SHB qua điện thoại hoặc Internet. Dịch vụ này đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng, không làm tốn nhiều thời gian giao dịch của khách hàng, khách hàng có thể ngồi tại nhà, văn phòng… mà vẫn thực hiện chuyển khoản được. Việc thực hiện chuyển khoản Etransfer đảm bảo an toàn cho tài khoản của khách hàng, vì ngay khi khách hàng nhắn tin yêu cầu chuyển khoản, hệ thống sẽ gửi lại tin nhắn yêu cầu nhập một ký tự nào đó trong dãy password mà KH đã đặt ra. Tuy nhiên, dịch vụ Ebanking hiện nay chưa chiếm được một lượng lớn khách hàng tham gia, do đây là một dịch vụ mới, khách hàng chưa nắm rõ được những lợi ích của nó đem lại cần phải tiếp thị rộng rãi tới khách hàng. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

            Ngân hàng có nhiều nguồn thu nhập từ các hoạt động khác nhau, nhưng thu nhập từ hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt không nhiều lắm, chỉ chiếm khoảng 10% tổng thu nhập mà thôi trong khi đó chủ yếu tập trung thu từ phí thanh toán quốc tế. Nhưng thanh toán quốc tế của SHB-HN lại thực hiện thanh toán gián tiếp thông qua ngân hàng khác nên phải chia sẻ lợi nhuận với  ngân hàng trung gian thanh toán. Do vậy, lợi nhuận thu được từ hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt là không cao

Xem thêm: Cơ sở lý luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

Bảng 2.6 Các hình thức Thanh toán không dùng tiền mặt tại SHB-HN

Đơn vị tính: triệu đồng

STT Các phương thức Thanh toán không dùng tiền mặt 31/12/2008 30/6/2008
Số món Doanh số Tỷ trọng (%) Số món Doanh số Tỷ trọng (%)
I Séc 245 105.060 0,98 198 118.560 1,40
1 Séc Tiền mặt 171 85.014 0,79 145 94.953 1,13
2 Séc chuyển khoản 54 15.254 0,14 40 18.957 0,21
3 Séc Bảo Chi 20 4.792 0,05 13 4.650 0,06
II UNC 1.540 6.418.528 59,99 1320 7.913.263 93,76
III UNT 48 36.412 0,34 37 28.420 0,34
IV Thư tín dụng 200 4.140.000 38,69 20 380.000 4,50
  Tổng cộng   10.700.000 100   8.440.243 100

                                                                                    ( Nguồn từ BCTC năm.2007, 30/6/2008 )

Từ bảng số liệu trên ta thấy, trong các hình thức Thanh toán không dùng tiền mặt, giao dịch chủ yếu là UNC, còn các hình thức khác không phổ biến, doanh số UNC chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm 59,99% tổng các hình thức thanh toán khác, doanh số chiếm tỷ trọng cao nhất. Thư tín dụng chiếm tỷ trọng 38,69%. Các hình thức thanh toán khác chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ. Tuy nhiên, đến 30/6/2008 UNC vẫn được sử dụng làm hình thức thanh toán chính, mặc dù số món không nhiều nhưng doanh số chiểu một tỷ trong tương đối lớn 93,76% lớn hơn hẳn so với năm 2007.

            Năm 2006, SHB-HN mới thành lập, giao dịch chưa phát sinh nhiều, chủ yếu là UNC. Các hình thức khác hầu như không có. Chưa có chuyển tiền online, chủ yếu đi thanh toán bù trừ giấy qua NHNN, mất rất nhiều thời gian. Sang năm 2007, mạng công nghệ máy tính phát triển. SHB-HN đã đầu tư trang thiết bị, tham gia thanh toán điện chuyển tiền online qua NHNN do đó đã tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí cho doanh nghiệp.

Việc thanh toán chuyển tiền qua ngân hàng, doanh nghiệp phải nộp một khoản phí cho ngân hàng, nhưng phí để thanh toán chuyển tiền đối với điện chuyển tiền citad sẽ nhiều hơn so với hình thức thanh toán bù trừ giấy.Vì vậy, đôi khi có những khách hàng, để tiết kiệm chi phí của mình, họ chỉ thanh toán bằng hình thức thanh toán bù trừ giấy trực tiếp qua NHNN. 

SHB-HN đang quản lý hơn 200 tài khoản của các tổ chức kinh tế. Các tổ chức doanh nghiệp đã tận dụng được những ưu thế của Thanh toán không dùng tiền mặt, thực hiện chuyển tiền thanh toán hợp đồng mua bán hàng hoá. Doanh nghiệp UNC yêu cầu Ngân hàng trích tiền từ tài khoản của họ để thanh toán cho khách hàng có tài khoản cùng hệ thống cũng như khách hàng có tài khoản khác hệ thống SHB. Quản lý hơn 1000 tài khoản cá nhân. Tài khoản khách hàng cá nhân giao dịch thường xuyên tại SHB-HN chỉ chiếm khoảng 36%, những tài khoản cá nhân còn lại rất ít giao dịch. Nhưng doanh số Thanh toán không dùng tiền mặt ở nhóm tài khoản cá nhân là rất ít. Những giao dịch chuyển tiền hay thanh toán tiền bằng UNC để thanh toán mua hàng hoá, dịch vụ là rất hạn chế. Khách hàng cá nhân chủ yếu dùng giấy rút tiền để rút tiền mặt từ tài khoản thanh toán của họ để thanh toán và chi tiêu hàng hoá. Không tận dụng được ưu thế của hình thức Thanh toán không dùng tiền mặt. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Có thể thấy, thanh toán nói chung và Thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng của Ngân hàng ngày một gia tăng và phát triển. Đây chính là một trong những bằng chứng chứng tỏ Ngân hàng dần trở thành trung tâm thanh toán có uy tín trong địa bàn. Trên cơ sở đó kiểm soát chặt chẽ tình hình biến động và sử dụng vốn của doanh nghiệp, các tổ chức đơn vị kinh tế có quan hệ tín dụng với ngân hàng, làm nền tảng cho việc thực hiện chức năng tạo tiền của ngân hàng. Bản thân ngân hàng đã góp phần làm giảm bớt khối lượng tiền mặt trong lưu thông, thực hiện công tác kế hoạch hoá và điều hoà khối lượng tiền mặt trong lưu thông, ổn định giá cả trên địa bàn, tránh tình trạng thừa thiếu vốn trong nền kinh tế. Để thấy được mặt ưu và tồn tại qua đó tìm giải pháp khắc phục, ta đi sâu và phân tích từng hình thức:

2.2.2.1 Hình thức thanh toán bằng Séc:

Thanh toán Séc là hình thức Thanh toán không dùng tiền mặt trực tiếp giữa người mua và người bán (Sau khi nhận hàng hoá, người phát hành séc sẽ giao séc trực tiếp cho người thụ hưởng). Như vậy, hình thức thanh toán này gắn liền với sự vận động của hàng hoá. Hình thức thanh toán Séc đang dần được khách hàng sử dụng rất nhiều. Việc Thanh toán bằng Séc ở SHB chưa được tận dụng triệt để, chủ yếu là Séc Tiền mặt, chủ tài khoản phát hành chi trả trực tiếp cho người thụ hưởng, doanh nghiệp thanh toán cho khách hàng, chủ tài khoản phát hành một tờ Séc do SHB phát hành ghi rõ số tiền cần thanh toán và người thụ hưởng trên tờ Séc, đưa cho khách hàng. Khách hàng cầm tờ Séc mang đến bất cứ điểm giao dịch nào của SHB để lĩnh tiền mặt trong trường hợp trên tài khoản người phát hành séc có đủ số dư. Tiện ích của Séc tiền chi trả tiền mặt được các doanh nghiệp sử dụng rất phổ biến. Doanh nghiệp thanh toán không cần phải đến Ngân hàng làm thủ tục thanh tóan, thủ tục đơn giản cho cả bên bán và bên mua.

Séc chuyển khoản chỉ được áp dụng thanh toán trong phạm vi giữa các khách hàng có tài khoản ở cùng hệ thống SHB, Kho bạc nhà nước. Trong bảng số liệu trên ta thấy rằng, 6 tháng đầu năm 2008 Doanh nghiệp sử dụng nhiều Séc tiền mặt để thanh toán hơn, số lượng Séc chuyển tiền tuy không nhiều nhưng doanh số chuyển khoản lại tăng lên, So với các công cụ thanh toán khác, thanh toán bằng Séc chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn

Séc Bảo Chi thì rất ít giao dịch, nhưng đối với người thụ hưởng, Séc bảo chi khẳng định sự chắc chắn về khả năng thanh toán nên nó được một số người ưa thích.

Thanh toán bằng Séc bảo chi người thụ hưởng không bị ứ đọng vốn. Đối với những người thanh toán cùng mở tài khoản tại một Ngân hàng hoặc khác Ngân hàng , người thụ hưởng được ghi có ngay trong ngày nộp Séc bảo chi. Ngược lại, người thanh toán bị ứ đọng vốn do phải ký quý một phần tiền tương ứng với lượng tiền ghi trên tờ séc bảo chi.

Khách hàng yêu cầu Ngân hàng bảo chi Séc, khách hàng chỉ cần làm thủ tục: Theo form biểu của SHB-HN yêu cầu bảo chi séc, Ngân hàng sau khi  kiểm tra tính hợp lệ, tiến hành phong toả tài khoản và hạch toán vào tài khoản có liên quan. Ghi ngày tháng bảo chi, ký tên, đóng dấu bảo chi Séc lên trên tờ séc và trả lại cho khách hàng. Khi đó khách hàng cầm tờ séc đó đưa cho bên bán, Bên bán đi nộp lại tờ Séc bảo chi cho Ngân hàng thụ hưởng Ngân hàng thụ hưởng ghi có luôn cho khách hàng ngay trong ngày nhận được Séc bảo chi, chuyển trả lại cho ngân hàng nhận bảo chi.

Bảng 2.7 Tình hình sử dụng Séc

Đơn vị tính: triệu đồng

 

Chỉ tiêu

31/12/2007 30/6/2008
Số món Doanh số Tỷ trọng(%) Số món Doanh số Tỷ trọng (%)
Séc 245 105 060 100 198 118.560 100
Séc Tiền mặt 171 85.014 80,92 145 94.953 80,09
Séc chuyển khoản 54 15.254 14,52 40 18.957 15,99
Séc Bảo Chi 20 4.792 4,56 13 4.650 3,92

                                                                        Báo cáo kết quả kinh doanh 2007,30/6/2008

2.2.2.2 Hình thức thanh toán Uỷ nhiệm chi

Tại SHB-HN, ta thấy UNC là hình thức thanh toán chiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu thế ngày càng tăng. Năm 2007 doanh số uỷ nhiệm chi chiếm 59,99%, trong tổng doanh số Thanh toán không dùng tiền mặt. Đến 6 tháng đầu năm 2008, doanh số này cao hơn chiếm 93,76%. UNC đạt được kết quả như trên là do nó có những ưu điểm hơn các hình thức thanh toán khác như: Phạm vi thanh toán rộng, được dùng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ và thanh toán khác. Chuyển vốn trong cùng hệ thống và khác hệ thống, khác Ngân hàng, cùng tỉnh và khác tỉnh tham gia thanh toán bù trừ hoặc chuyển tiền online… Thủ tục thanh toán khá là đơn giản, dễ sử dụng, người mua chỉ cần viết giấy uỷ nhiệm chi gửi đến Ngân hàng phục vụ mình để thanh toán cho người thụ hưởng. Việc chi trả cũng rất nhanh chóng và thuận tiện.

Quy trình hạch toán Uỷ nhiệm chi: Khách hàng viết Uỷ nhiệm chi và nộp vào ngân hàng. Sau khi kiểm soát xong

  • + Nếu người thụ hưởng có tài khoản tại SHB-HN sẽ ghi có ngay vào tài khoản của khách hàng.
  • + Nếu Ngân hàng thụ hưởng khác hệ thống, cùng tỉnh thành phố, Ngân hàng thụ hưởng sẽ nhận ngay món tiền ngay Vì hiện nay Shbank đang sử dụng thanh toán điện chuyển tiền online rất kịp thời, chính xác và an toàn.

Thanh toán UNC thuận lợi hơn Séc ở chỗ: Với UNC người mua nhận hàng xong mới gửi UNC tới Ngân hàng, thanh toán cho người thụ hưởng, Sẽ thuận lợi hơn cho người mua vì có thể chiếm dụng vốn của người bán trong trường hợp có thể

Thanh toán bằng UNC đảm bảo quyền lợi cho cả bên mua và bên bán, có thể kiểm soát được hàng hoá về số lượng cũng như về chất lượng cung ứng trước khi trả tiền. Hình thức này thường được áp dụng chủ yếu khi bên bán tin tưởng vào khả năng thanh toán của bên mua nên hàng được giao trước

Tuy nhiên, Hình thức này có một số những tồn tại: Hình thức này chỉ xảy ra khi mà bên bán và bên mua có sự tín nhiệm lẫn nhau, dùng để thanh toán hàng hoá hay dịch vụ đã hoàn thành. Vì thế bản thân nó đã có sự chiếm dụng vốn của nhau dẫn đến hiện tượng tín dụng thương mại gây rủi ro, gây tổn thất cho người bán. Mặc dù có những mặt hạn chế nhưng thể thức thanh toán này luôn đứng đầu về doanh số cũng như về số lượng thanh toán trong suốt thời gian qua và sẽ còn phát triển hơn nữa trong tương lai. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Xem thêm: Kiến nghị – Giải Pháp hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

2.2.2.3 Hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu (Nhờ thu)

Chỉ áp dụng đối với các khoản chi phí dịch vụ có tính chất định kỳ thường xuyên như: tiền điện, tiền thuê nhà, tiền nước của các tổ chức kinh tế hoặc các khoản thu bán hàng do người bán và người mua thoả thuận trước, khi đã có sự tin cậy lẫn nhau, cho nên nó ít được sử dụng trong thanh toán.

Thanh toán UNT chứng từ luân chuyển qua nhiều khâu và thực hiện bằng hình thức ghi Nợ trước và ghi có sau. Nếu UNT thanh toán tiền hàng với khách hàng có tài khoản ở cùng Ngân hàng với đơn vị bán thì quá trình đơn giản, nhanh chóng hơn, khách hàng chỉ cần nộp UNT theo mẫu in sẵn của Ngân hàng nhà nước kèm hoá đơn thanh toán, sau khi kế toán kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ UNT hoá đơn thanh toán và tài khoản bên mua đủ tiền thì tiến hành ghi Nợ vào tài khoản bên mua và ghi có vào tài khoản đơn vị bán nếu hai bên đều có tài khoản tại SHbank. Trường hợp hai bên mở tài khoản tại hai Ngân hàng khác nhau, UNT sẽ được gửi sang ngân hàng bên mua bằng phương thức thanh toán điện tử online hay phương thức thanh toán bù trừ giấy. Sau khi ngân hàng bên mua ghi Nợ vào tài khoản bên mua, chứng từ UNT sẽ được trả lại ngân hàng bên bán và ghi có vào tài khoản bên bán

Do sự phức tạp về quy trình thanh toán nên UNT ít được các tổ chức kinh tế, cá nhân sử dụng một cách rộng rãi. Chính vì vậy, khối lượng thanh toán UNT qua Ngân hàng năm 2007 đạt 0.34% tổng doanh số Thanh toán không dùng tiền mặt. Một con số khiêm tốn.

2.2.2.4 Thư tín dụng:

 Năm 2007, SHB-HN phát sinh những món thanh toán thư tín dụng như là L/C nhập và L/C xuất. Do chưa được NHNN cấp phép thanh toán quốc tế do mới thành lập, vì vậy, SHB-HN phải thanh toán nhờ qua một Ngân hàng trung gian thanh toán. Việc thanh toán trung gian qua một  Ngân hàng khác có hai mặt của nó. Một mặt, thông qua Ngân hàng này, SHB sẽ được Ngân hàng nước ngoài biết đến dần tăng uy tín cho SHB trên thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, việc thanh toán qua trung gian sẽ mất rất nhiều thời gian đối với khách hàng nếu như người thụ lý trực tiếp không biết cân đối thời gian, Hồ sơ thanh toán L/C sẽ phụ thuộc vào quy chế, quy định TTQT của ngân hàng trung gian. Lợi nhuận cũng sẽ bị chia xẻ cho bên trung gian thanh toán.

2.2.2.5 Thẻ thanh toán

Cuối năm 2007 SHB-HN triển khai chương trình thẻ ATM, nhưng lượng thẻ phát hành ra cuối năm 2007 triển khai phát hành thử nghiệm đối với nhân viên của mình. Sang năm 2008 mới chính thức triển khai phát hành thẻ ra bên ngoài. Nhưng lượng thẻ phát hành ra trong 6 tháng đầu năm là tương đối ít chỉ phát hành được gần 300 thẻ chưa đạt 10% so với chỉ tiêu đề ra trong 6 tháng đầu năm mà toàn chi nhánh Hà nội phải đạt được. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Năm 2008 lượng thẻ phát hành ra rất ít, chủ yếu tập trung tại Chi nhánh. Còn các phòng giao dịch chỉ phát hành một số lượng rất nhỏ, mặc dù đã đưa ra nhiều chương trình khuyến mãi miễn phí phát hành thẻ ATM. Vẫn chưa thu hút được lượng khách hàng vào phát hành. 6 tháng đầu năm lượng thẻ phát hành chỉ đạt 6% so với kế hoạch đã đề ra (4600 thẻ / năm 2008).

Nguyên nhân: Thẻ của SHB hiện tại phát hành và sử dụng thông qua hệ thống của VCB, do vậy, ngoài các chức năng: rút tiền, truy vấn số dư, chuyển khoản, mua hàng hoá tại POS, thẻ của SHB chưa thể bổ sung các dịch vụ khác nên khó có thể cạnh tranh được với Ngân hàng khác đã triển khai rất rộng rãi một cách độc lập. Thẻ của SHB-HN là thẻ ghi nợ nội địa nên tiện ích của nó cũng hạn chế

2.3 Đánh giá về hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà nội – Chi nhánh Hà nội

2.3.1 Kết quả đạt được

Từ khi thành lập đến nay, Thanh toán không dùng tiền mặt tại SHB-HN có những bước phát triển đáng mừng. Phát triển cùng với xu thế của thời đại, hình thức thanh toán đa dạng, phong phú, thái độ phục vụ khách hàng tốt… Đáp ứng nhu cầu của khách hàng doanh nghiệp cũng như cá nhân, thu hút thêm nhiều khách hàng mới, góp phần tăng doanh số Thanh toán không dùng tiền mặt.  Về mặt kỹ thuật, đến nay SHB-HN đã được trang bị hệ thống mạng máy tính nối mạng Citad với Ngân hàng nhà nước, Thanh toán liên Ngân hàng với các Ngân hàng. Thanh toán trực tiếp thông qua NHNN hoặc thanh toán gián tiếp thông qua Ngân hàng Đầu tư hay Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng như công tác Thanh toán không dùng tiền mặt. Nhiều ứng dụng công nghệ đã được áp dụng trong các nghiệp vụ ngân hàng thanh toán bù trừ, thanh toán nội bộ giữa các ngân hàng. Thông tin báo cáo phục vụ cho  công tác quản lý và các nghiệp vụ khác. Công nghệ tin học cũng đã được áp dụng rộng rãi trong chuyển tiền điện tử, thông tin phòng ngừa rủi ro, thanh toán giám sát từ xa… Do đó tốc độ chu chuyển rất nhanh giảm thời gian đọng vốn trong thanh toán. Rút ngắn đáng kể thời gian chờ đợi của khách hàng. Làm cho món tiền chuyển đến tay người thụ hưởng trong khoảng thời gian là sớm nhất. Đảm bảo an toàn và chính xác. Về nghiệp vụ vẫn đảm bảo được tính chặt chẽ và thông thoáng.

Nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố nhân lực. Con người quyết định sự thành công hay thất bại của ngân hàng. Do đó, Ngân hàng đã thường xuyên cử cán bộ đi đào tạo nhằm tiếp thu và nắm bắt những thay đổi kể cả về nghiệp vụ lẫn phương tiện thanh toán nhằm đáp ứng được nhu cầu công việc trong giai đoạn công nghệ phát triển mạnh như hiện nay. Trên cơ sở tổ chức biên chế sẵn có, liên tục tổ chức đào tạo lại và phân công công tác hợp lý nhằm tránh lãng phí nhân lực.

Việc chuyển tiên được thực hiện kênh chuyển tiền citad nối mạng trực tiếp với mạng máy tính của NHNN. chỉ online trực tiếp trong khoảng thời gian từ 9h đến 16h trong ngày. Nên làm một thanh toán viên phải là một người có tinh thần tốt và phong độ làm việc rất miệt mài thì mới có thể đảm  nhiệm được vị trí thanh toán viên. Trong thời gian 6 tiếng làm việc trong trạng thái tâm lý căng thẳng và tập trung cao đồ vì rủi ro của những món tiền chuyển là rất lớn. Vì vậy, Người làm thanh toán viên  luôn là những người xuất sắc của ngân hàng.

SHB-HN còn thực hiện một kênh thanh toán đó là kênh thanh toán bù trừ giấy trực tiếp tại NHNN. NHNN mở cửa phiên bù trừ vào 9h sáng và 14h chiều hàng ngày trong tuần. Ưu điểm của hình thức bù trừ giấy là chi phí rất rẻ. Những món thực hiện bù trừ giấy là những món đi trong nội thành Hà Nội mà khách hàng chỉ mất một khoản phí là 5 500 đồng/món  với bất kỳ số tiền là bao nhiêu nhưng người hưỏng sẽ phải chờ đợi ít nhất là một ngày mới nhận được món tiền  trong khi đó, thanh toán bằng điện tử online phí đắt hơn nhưng người hưởng sẽ nhận được tiền ngay chỉ sau một vài tiếng, tức là có thể nhận ngay trong ngày.

SHB-HN thực hiện thanh toán bằng hệ thống máy vi tính khá hoàn chỉnh và thực hiện quyết toán ngay trong ngày và cân đối với SHB.

Qua việc phân tích, đánh giá thực trạng thanh toán nói chung và Thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng. SHB-HN những năm gần đây ta có thể thấy rằng

Mặc dù phải đối mặt với nên kinh tế sôi động, chịu sự cạnh tranh gay gắt của các Ngân hàng khác trên địa bàn. Nhưng SHB-HN đã và đang từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế. Với sự quyết tâm của Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ công nhân viên đã vượt qua những khó khăn trở ngại của những ngày đầu mới thành lập. Đặc biệt là năm 2008, một năm đầy biến động đối với ngành Ngân hàng. Giành thế chủ động hoà nhập với nền kinh tế thị trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà SHB giao, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát trỉên kinh tế chung.

Nhận thức được tầm quan trọng của Thanh toán không dùng tiền mặt, SHB-HN đã chủ động đầu tư hiện đại hoá trang thiết bị, đưa công nghệ thông tin vào phục vụ công tác thanh toán tại Ngân hàng. Đồng thời, tích cực ứng dụng tin học vào hoạt động của Ngân hàng, từng bước xây dựng Ngân hàng theo hướng hội nhập và hiện đại hoá trang thiết bị, đưa công nghệ thông tin vào phục vụ công tác Thanh toán không dùng tiền mặt. Sắp tới triển khai đưa máy ATM vào hoạt động. Đã căn bản thực hiện chuyển đổi công tác thanh toán từ phương pháp thủ công sang phương pháp tin học hiện đại. chuyển hẳn từ thanh toán bằng thư qua bưu điện hoặc điện thoại sang phương thức thanh toán qua mạng vi tính đảm bảo anh toàn, chính xác, thuận lợi…

Song song với việc hiện đại hoá về mặt vật chất, trình độ cán bộ nghiệp vụ thanh toán, trình độ khoa học để làm công nghệ mới và phong cách làm việc theo hướng cải cách hàng chính cho phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của cơ chế thị trường

Hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện có hiệu quả đã góp phần vào kết quả hoạt động chung của toàn bộ hệ thống. Tạo ra khoản thu nhập cho Ngân hàng bằng việc thu phí dịch vụ.

Hoạt động thanh toán của SHB-HN hiệu quả càng thu hút nhiều khách hàng mở tài khoản và giao dịch tại đây. Những nghiệp vụ phát sinh sẽ được hạch toán kịp thời, chính xác. Thực hiện nghiêm túc các quy chế về chứng từ, quỹ đảm bảo thanh toán, quỹ tiền mặt và khả năng thanh toán.

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt tại SHB-HN

2.3.2.1 Tồn tại

Qua phân tích thực trạng Thanh toán không dùng tiền mặt tại SHB-HN ta thấy: tỷ trọng doanh số Thanh toán không dùng tiền mặt chiếm khá cao (khoảng 75%) trong tổng doanh số thanh toán chung. Tuy nhiên so với một số các Ngân hàng khác thì chưa cao. Các hình thức thanh toán chưa phát huy hết được những ưu điểm vốn có của nó, có những thể thức như thẻ thanh toán chưa được phát hành nhiều, đặc biệt là thẻ tín dụng trong nước chưa được đưa vào sử dụng tại Ngân hàng mình. Hiện tại hình thức sử dụng chủ yếu là UNC và séc rút tiền mặt thông thường. Chưa tận dụng được ưu việt của Séc chuyển khoản và bảo chi. Hoạt động thanh toán chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

SHB-HN mới thành lập và đi vào hoạt động nên vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chương trình hoạt động, khai thác và tìm kiếm thị trường. Do đó phần nào cũng ảnh hưởng đến công tác thanh toán nói chung và Thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng của Ngân hàng. Thực tế, hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt mới chỉ được sử dụng phần nhiều ở các doanh nghiệp quốc doanh, Công ty cổ phần, các doanh nghiệp tư nhân lớn và các cơ quan nhà nước. Khu vực tư nhân gần như như nằm ngoài quá trình Thanh toán không dùng tiền mặt mà đây là một thị trường nhiều tiềm năng và rộng lớn, chiếm 70% thu nhập quốc dân.

 Bên cạnh đó, trang thiết bị còn hạn chế đặc biệt là phần mềm hạch toán (Smartbank , Phiên bản 3.5.5 mua của công ty FPT, nhưng sản xuất từ năm 1991) hạch toán chậm, thường trục trặc do đường truyền viễn thông, điện lưới đang hoạt động bị mất… do vậy, không hạch toán kịp thời được các giao dịch của khách hàng dẫn đến ách tắc. Đặc biệt, là hình thức thanh toán thẻ chưa được triển khai rộng, trong khi SHB đang bắt đầu triển khai hoạt động thẻ thì đối với các Ngân hàng thành lập từ trước đã đi vào ổn định nên việc quảng bá rất khó khăn. Máy rút tiền ATM đắt, chưa lắp đặt được đồng loạt, vẫn phải rút nhờ trong hệ thống liên minh thẻ.

Mặc dù đã đầu tư, nhưng công nghệ chưa hiện đại, phần mềm hạch toán chuyển tiền hay bị lỗi, và vẫn còn chậm đặc biệt là đường truyền dữ liệu từ NHNN hay bị ách tắc đôi khi không chuyển đi được, có những món chuyển tiền lớn làm từ sáng hoặc đầu giờ chiều nhưng do ách tắc đường truyền nên cuối giờ không kịp đẩy đi được. Đã gây tổn thất lớn cho doanh nghiệp trong quá trình thanh toán hàng hoá cũng như nộp Thuế vào NSNN.

SHB đã triển khai trương chình Internet Banking, SMS banking … Ưu điểm của hình thức này là khách hàng có thể ngồi ở nhà nếu tham gia đăng ký dịch vụ này nó sẽ thông báo số dư qua mạng Internet hay điện thoại di động của khách hàng đăng ký nhưng nhược điểm của hình thức này là mỗi một mã số khách hàng chỉ đăng ký được một tài khoản tham gia chương trình trong khi khách hàng có nhiều tài khoản cần theo dõi sổ phụ và sao kê thì lại không được.

Xem thêm: Lời kết luận hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

2.3.2.2 Nguyên nhân

*Nguyên nhân khách quan:

Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển từ nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, tạo cho các tầng lớp dân cư thói quen thanh toán với nhau phổ biến là bằng tiền mặt, tâm lý khi giao dịch muốn sở hữu ngay, cầm chắc trong tay số tiền thanh toán. Thói quen sử dụng tiền mặt là một thói quen lâu đời của người Việt Nam, do đó khó có thể thay đổi trong “một sớm, một chiều” được. Lẽ đó, mọi sự tiếp cận với phương tiện thanh toán mới, công nghệ thanh toán mới đang ở mức ban đầu cả về tổ chức và thực hiện.

Thu nhập của dân cư chưa cao vì vậy việc mở tài khoản tiên gửi cá nhân chỉ là hình thức. Có tài khoản nhưng vẫn thực hiện những giao dịch rút tiền mặt ra để chi phí. Ngân hàng có thực hiện hình thức chi trả lưong cho nhân viên, nhưng do mức lương chỉ đủ cho chi phí tối thiểu hàng ngày nên “Chủ tài khoản” lập tức rút tiền ra chi phí do đó không đem lại hiệu quả cho hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt.        

Sự tác động từ nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó có tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán. Khối lượng giao dịch trên thị trường này là một kênh rất lớn phát triển Thanh toán không dùng tiền mặt, Giao dịch tài khoản chứng khoán chủ yếu được thực hiện bằng hình thức thanh toán chuyển khoản, sẽ thúc đẩy rất lớn tới Thanh toán không dùng tiền mặt tại các ngân hàng. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ cho phép mọi người gần gũi hơn với các hình thức Thanh toán không dùng tiền mặt, nó có tác dụng tuyên truyền sâu rộng các phương thức Thanh toán không dùng tiền mặt tới mọi chủ thể tham gia thanh toán. Khi thị trường chứng khoán phát triển, các doanh nghiệp phải công khai tình hình tài chính của mình cho các cổ đông và phải tạo niềm tin cho các nhà đầu tư với hi vọng tăng giá trị của doanh nghiệp trên thị trường mà việc đầu tiền nên làm mà ai cũng biết đó là thực hiện giao dịch qua hệ thống tài khoản trong Ngân hàng. Thực tế, năm 2006 đến 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển rất sôi động kéo theo đó Thanh toán không dùng tiền mặt cũng được sử dụng rất hữu hiệu. Các cổ đông đã sử dụng công cụ Thanh toán không dùng tiền mặt trong hoạt động mua bán chứng khoán cả trên sàn lẫn thị trường tự do OTC. Nhưng đến cuối năm 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam xuống dốc kéo theo hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng giảm sút đến nay vẫn chưa có dấu hiệu tăng trở lại.

Mặc dù, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, nghị quyết về công tác Thanh toán không dùng tiền mặt  nhưng vẫn chưa đạt đến sự thống nhất, hoàn thiện, còn gây nhiều bất cập trong thanh toán. Các văn bản pháp lý về Thanh toán không dùng tiền mặt vẫn còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp với thực tế nên chưa tạo môi trường và hành lang vững chắc cho hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.

Cơ chế, chính sách, môi trường và tổ chức quản lý thanh toán hiện đại trong điều kiện nền kinh tế ở Việt Nam, trước sự bùng nổ và phát triển thương mại điện tử, CNTT trên thế giới, thì còn khá nhiều bất cập.

Nhà nước chưa có chính sách phối kết hợp các ngành liên quan trong quá trình thanh toán để đưa Thanh toán không dùng tiền mặt trở thành hình thức thanh toán có tính “Xã hội hoá” cao. Hiện nay, các cơ quan, doanh nghiệp mới chỉ coi tổ chức Thanh toán không dùng tiền mặt là trách nhiệm riêng của ngành Ngân hàng.

*Nguyên nhân chủ quan:

Hệ thống cơ sở hạ tầng chưa phát triển tương xứng và đồng bộ ảnh hưởng đến công tác Thanh toán không dùng tiền mặt đặc biệt là đối với công tác thanh toán bằng thẻ. Thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý của người Việt Nam còn kém. Cơ sở hạ tầng công nghệ thanh toán đang trong giai đoạn hình thành cùng với việc vận dụng các kỹ thuật, qui trình CNTT, thanh toán hiện đại…

Do mặt bằng xã hội chưa cao về mọi mặt, trình độ dân trí còn thấp làm cho hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt bị hạn chế. Trình độ hiểu biết của khách hàng có hạn chế nên việc tiếp cận và sử dụng các hình thức Thanh toán không dùng tiền mặt chưa phát triển.  Khách hàng không biết hoặc biết rất ít về các hoạt động thanh toán của Ngân hàng. Họ thường chỉ biết đến Ngân hàng là một tổ chức huy động tiết kiệm và cho vay.

Mặt khác thu nhập của dân cư nói chung còn ở mức thấp; nhu cầu thiết yếu người dân vẫn mua ở chợ “tự do” là chủ yếu; Các món chi tiêu thường nhỏ nên người dân vẫn ưa chuộng thanh toán bằng tiền mặt, chưa có thói quen giao dịch qua Ngân hàng. Thêm vào đó thói quen sử dụng tiền mặt, đơn giản, thuận tiện bao đời nay không dễ một sớm, một chiều thay đổi nhanh được; đồng thời muốn sử dụng phương tiện thanh toán hiện đại lại cũng cần có sự hiểu biết nhất định. ( Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt )

Công tác tuyên truyền, quảng cáo của Ngân hàng còn mang tính hình thức, chưa hiệu quả, còn ở tình trạng “đợi khách” chưa thực sự tiếp cận lôi cuốn khách hàng bằng những hình thức khuyến mại Marketing. Tại tiết đ, điểm 2, Điều 5 (Nhiệm vụ và quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước) Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 có quy định “Tổ chức hệ thống thanh toán qua Ngân hàng, làm dịch vụ thanh toán, quản lý việc cung ứng các phương tiện thanh toán”. Như vậy, theo Luật định thì chỉ có Ngân hàng Nhà nước là người được quyền tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng. Do vậy, việc thanh toán qua ngân hàng tốt hay không tốt thì trách nhiệm trước tiên phải là ngành Ngân hàng. Với cách đặt vấn đề như vậy thì, ngân hàng không “chỉ là tổ chức trung gian” một cách đơn thuần như ý kiến trên đây. Trong lĩnh vực thanh toán thì ngân hàng là người được giao nhiệm vụ đứng ra tổ chức thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế. Theo đó, nếu cho rằng, “Thanh toán không dùng tiền mặt chỉ có thể thực hiện được khi các chủ thể thanh toán mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng” thì việc mở tài khoản của các chủ thể thanh toán nói ở đây cần được hiểu là một trong những điều kiện tiên quyết để tổ chức Thanh toán không dùng tiền mặt; chứ không phải Ngân hàng chỉ ngồi chờ các chủ thể thanh toán đến mở tài khoản rồi mới tổ chức thanh toán…Đó là nguyên nhân làm hạn chế sự hiểu biết của dân chúng về ngân hàng. Từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu qủa của Thanh toán không dùng tiền mặt.

Các ngân hàng chưa có cơ chế phối hợp thống nhất trong hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt với nhau, chủ yếu giao dịch trong hệ thống của mình thông qua Ngân hàng Nhà nước. Dẫn đến tốc độ thanh toán chậm, thủ tục rườm rà không khuyến khích khách hàng sử dụng.

Các hình thức thanh toán của Việt Nam bao gồm cả Thanh toán không dùng tiền mặt còn nhiều bất cập, nhiều chứng từ và thủ tục không cần thiết gây chậm chẽ cho quá trình thanh toán. Bản thân các hình thức Thanh toán không dùng tiền mặt trong Ngân hàng nói chung và SHB – HN nói riêng cũng chưa thực sự thuận tiện để người dân có thể sử dụng. Cụ thể:

UNC là hình thức thanh toán phổ biến nhưng đối với những món chuyển tiền ngoài hệ thống do hiện nay SHB-HN đang hạch toán tập trung tại chi nhánh Hà Nội, (SHB chuyển tiền qua chi nhánh Hà Nội, Chi nhánh Hà Nội làm đầu mối đẩy điện đi các chi nhánh và các PGD phía bắc) dẫn đến khối lượng công việc lớn quá tải trong khi bộ phận thanh toán mỏng chỉ có hai thanh toán viên nên xử lý công việc chậm dẫn đến có sự trậm chễ  trong công tác thanh toán. Tuy nhiên, trong qúa trình chuyển điện, đôi khi có sự thiếu hụt vốn tạm  thời  (đây là nguyên nhân của hầu hết các NHTM) cũng dẫn đến sự chậm chễ trong thanh toán.

SCK và SBC có phạm vi thanh toán còn hạn chế chỉ bó hẹp trong phạm vi địa bàn tỉnh, thành phố, chỉ áp dụng đối với những khách hàng có tài khoản ở cùng một Ngân hàng hoặc giữa các Ngân hàng khác hệ thống nhưng có tham gia TTBT trên địa bàn.

SCK ít được sử dụng vì trong trường hợp khách hàng không đảm bảo khả năng thanh toán ngay. Ngân hàng chưa cho phép khách hàng chi quá số dư khi tạm thời thiếu vốn. SCK ít sử dụng do thủ tục thanh toán không thuận tiện, Bên bán phải nộp Séc vào Ngân hàng, Ngân hàng làm thủ tục thanh  toán bù trừ giấy tại NHNN dẫn đến thủ tục rườm rà làm cho qúa trình thanh toán chậm lại.  

SBCchỉ sử dụng trong trường hợp bên Bán và Bên mua không tin tưởng nhau, có thủ tục rườm rà, không thuận tiện, người mua phải lưu ký một số tiền bằng mệnh giá của tờ Séc vào một tài khoản riêng. Sau đó ngân hàng tiến hành phong toả số liền này gây lên hiện thượng vốn doanh nghiêp bị ứ đọng. Thời gian thanh toán Séc bảo chi lâu.

UNT có nhiều hạn chế như thời gian luân chuyển chứng từ lâu do quy trình thanh toán còn lòng vòng, không thuận tiện, chỉ sử dụng cho các khoản thanh toán có giá trị thấp, chuyển khoản tiền định kỳ thường xuyên, cố định hàng tháng .

Về Thư tín dụng, SHB-HN thanh toán quốc tế chưa được thanh toán trực tiếp, phải thanh toán nhờ qua Ngân hàng khác nên thời gian xử lý hồ sơ phải nhân lên gấp đôi, do vậy vẫn còn tình trạng xử lý hồ sơ chậm. Làm cho khâu thanh toán của khách hàng bị ách tắc và chậm chễ. Mặt khác do thanh toán gián tiếp qua tổ chức trung gian khác nên SHB chỉ TTQT được bằng ngoại tệ USD bằng nguồn của mình, hợp đồng TTQT bằng loại ngoại tệ khác: EURO, Yên nhật …khách hàng phải ký quỹ bằng VND theo tỷ giá tạm tính, sau đó chuyển toàn bộ số tiền VND cần thanh toán sang Ngân hàng trung gian, mua ngoại tệ cần thiết để thanh toán, dẫn đến việc chênh lệch số tiền do tỷ giá biến động và SHB-HN sẽ chịu lỗ do việc chênh lệch tỷ giá mang lại. 

SHB – HN cũng như nhiều Ngân hàng khác chưa đề ra những chính sách khách hàng phù hợp, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành trên điạ bàn, chưa có biện pháp tuyên truyền, quảng cáo thường xuyên sâu rộng các hoạt động Ngân hàng cũng như tiện ích của việc Thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng tới các bộ phận dân cư để khuyến khích người dân sử dụng.

Bên cạnh đó, kiến thức hiểu biết của các cán bộ Ngân hàng về hệ thống thanh toán hiện đại không đồng đều dẫn đến một số ít cán bộ Ngân hàng chưa nắm bắt kịp sự biến đổi của công nghệ Thanh toán không dùng tiền mặt.

DOWNLOAD

Xem thêm: ==> Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập 

Lời kết: Trên đây Thuctaptotnghiep đã chọn lọc cho các bạn Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt từ những bài đạt điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài. Hy vọng với bài viết này có thể giúp cho các bạn có thêm tài liệu tham khảo để hoàn thành thật tốt bài luận của mình. Ngoài ra, trong quá trình làm bài các bạn gặp khó khăn trong vấn đề thiếu tài liệu hoặc không có thời gian viết bài luận cần thuê người viết, các bạn liên hệ qua zalo: 0934.536.149 để được hỗ trợ làm tốt bài luận của mình nhé.

Chúc các bạn hoàn thành thật tốt bài báo cáo thực tập của mình!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *