THỰC TRẠNG NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG

Ngân hàng

Dưới đây Thuctaptotnghiep chia sẻ cho các bạn về Thực trạng nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng chọn lọc từ các bài điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài báo cáo thực tập kế toán. Các bạn tham khảo các mẫu dưới đây để hoàn thành thật tốt bài làm của mình nha.

Lưu ý: Trong quá trình làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp, nếu các bạn gặp khó khăn về đề tài hay chưa có công ty thực tập các bạn có thể liên hệ với dịch vụ làm báo cáo thực tập trọn gói qua:

SĐT  / Zalo: https://zalo.me/0934536149

MỤC LỤC

THỰC TRẠNG NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG

2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần  Ngoại thương Việt Nam

2.2.1. Tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

2.2.1.1. Một số nội dung cơ bản của chính sách cho vay khách hàng của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

♦ Đối tượng vay vốn

Chính sách cho vay của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không giới hạn vào một loại đối tượng nào cụ thể và hạn chế việc đưa ra nhiều loại chính sách khác nhau cho các đối tượng khác nhau. Để đảm bảo tính bình đẳng, chính sách cho vay được áp dụng cho tất cả các đối tượng vay vốn.

♦ Nguyên tắc cho vay

Khách hàng vay vốn phải của Ngân hàng Ngoại thương phải có tài sản đảm bảo:

  • Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng;
  • Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

♦ Điều kiện cho vay

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện:

  • Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định pháp luật;
  • Mục đích sử dụng vốn hợp pháp
  • Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
  • Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả khi, có hiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật.
  • Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hướng dẫn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

♦ Mức cho vay

Trong chính sách cho vay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không quy định cố định mức cho vay, mà giao quyền cho các giám đốc chi nhánh tự quyết định mức cho vay căn cứ theo nhu cầu vay vốn, khả năng hoàn trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương và quy đinh của Pháp luật.

♦ Thời hạn cho vay

Không quy định giới hạn tối đa về thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay được xác định căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn của khách hàng và thời hạn được phép kinh doanh, hoạt động của khách (đối với các trường hợp hoạt động có thời hạn).

♦ Lãi suất cho vay

Ngân hàng Ngoại thương thực hiện chính sách lãi suất cho vay linh hoạt. Hội sở chính không áp dụng biện pháp quản lý lãi suất cho vay đối với chi nhánh, mà không qua công cụ lãi suất cho vay vốn và các hướng dẫn không mang tính bắt buộc. Các hướng dẫn này thay đổi theo từng thời kỳ và nhằm cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình lãi suất  trong toàn hệ thống cũng như trên thị trường, qua đó giúp chi nhánh chủ động đưa ra một mức lãi suất có lợi cho mình.

Việc áp dụng các mức lãi suất cho từng khoản vay cụ thể do chi nhánh và khách hàng thỏa thuận.

Phương thức áp dụng lãi suất cũng linh hoạt. Các chi nhánh có quyền tự chủ quyết định phương thức lãi suất cố định hay có điều chỉnh (định kỳ hoặc theo thông báo trên thị trường quốc tế hoặc của Ngân hàng Ngoại thương).

♦ Bảo đảm tiền vay

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tự xem xét quyết định và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong việc lựa chọn biện pháp bảo đảm tiền vay nhằm giảm thiểu rủi ro cho các khoản vay ở mức thấp nhất.

Cần lưu ý, các biện pháp bảo đảm tiền vay được xác định là các biện pháp làm tăng khả năng thu hồi vốn vay, chứ không phải là điều kiện đầu tiên và bắt buộc khi xem xét quyết định cho vay. Vấn đề quyết định là khả năng trả nợi của chính phương án, dự án vay vốn.

♦ Một số lưu ý trong quá trình thực hiện chính sách cho vay

Thẩm định kỹ phương án/dự án vay vốn; mặc dù quyết định cho vay dựa trên cơ sở xem xét nhiều khía cạnh, song kinh nghiệm rút ra trong hoạt động thực tế cho thấy, bản thân dự án/phương án vay vốn có vay trò quyết định đến hiệu quả của khoản vay.

Để đảm bảo tính khách quan trong thẩm định, Ngân hàng Ngoại thương áp dụng cơ chế phân tách trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay. Vì vậy, bộ phận thẩm định (cán bộ tín dụng) có quyền độc lập đưa ra ý kiến đánh giá của mình trong báo cáo thẩm định.

Khi tiến hành thẩm định, ngoài yếu tố pháp lý, cần phải làm rõ các khía cạnh: tính khả thi của dự án/phương án (như về mặt tổ chức triển khai, kỹ thuật, cơ cấu nguồn vốn v.v.), tính hiệu quả và khả năng tự trả nợ của chính phương án/dự án đó (phân tích về dòng tiền, khả năng sinh lời v.v.).

Kiểm soát chặt chẽ giai đoạn trong và sau khi cho vay, tránh tình trạng chỉ tập trung đánh giá khách hàng trong giai đoạn thẩm định (trước khi cho vay). Việc kiểm soát giai đoạn trong và sau khi cho vay sẽ có tác dụng:

  • Đảm bảo việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích như đã thỏa thuận.
  • Cập nhật thông tin thường xuyên về khách hàng, kể cả các khách hàng tốt.
  • Phát hiện kịp thời các dấu hiẹu rủi ro và áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp.

Coi trọng khâu đàm phán và soạn thảo nội dung hợp đồng tín dụng vì đây là cơ sở pháp lý ràng buộc khách hàng phải thực hiện các cảm kết với ngân hàng. Trong văn bản Hướng dẫn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam về quy chế cho vay đối với khách hàng có đưa ra một số mẫu hợp đồng tín dụng nhằm giúp chi nhánh bảo đảm một số nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng. Trong thực tế, nội dung của hợp đồng tín dụng có thể được điều chỉnh, bổ sung nhưng đảm bảo tính pháp lý và quyền lợi cao nhất cho ngân hàng khi xảy ra tranh chấp.

2.2.1.2. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng

♦ Quan điểm tổng quát của Ngân hàng Ngoại thương về rủi ro tín dụng

  • Không tập trung cấp tín dụng quá cao cho 01 khách hàng, 01 ngành nghề/lĩnh vực; các nhóm khách hàng, ngành nghề/lĩnh vực có liên quan với nhau; 01 loại tiền tệ; và tại một địa bàn.
  • Khi quyết định cấp tín dụng cho một dự án đầu tư lớn phải được thực hiện theo chế độ tập thể (nhiều thành viên cùng tham gia quyết định cho vay thông qua nhiều mức xét duyệt và biểu quyết hoạt động tín dụng), bảo đảm tính khách quan.
  • Áp dụng hạn mức quyết định cấp tín dụng và/hoặc thời hạn cấp tín dụng tùy thuộc và năng lực của chi nhánh.

♦ Hình thức

Việc quản lý rủi ro tín dụng được thực hiện dưới hình thức:

  • Các Quy chế, Quyết định, Quy định do Chủ tịch Hội đồng Quản trị hoặc Tổng Giám đốc ban hành.
  • Định hướng hoạt động tín dụng trong từng thời kỳ.
  • Công văn, Thôgn báo cho thành viên Ban Điều hành ký.

♦ Các nội dung quản lý rủi ro tín dụng cơ bản

Giới hạn tín dụng đối với 01 khách hàng

  • Khái niệm

Giới hạn tín dụng của một khách hàng là Tổng mức dư nợ tín dụng tối đa mà Ngân hàng Ngoại thương chấp nhận giao dịch đối với khách hàng đó trong một thời ký (1 năm).

Tổng mức dư nợ tín dụng đề cập trong Giới hạn tín dụng gồm: dư nợ cho vay, số dư bảo lãnh và phàn L/C miễn ký quỹ, dư nợ cho vay chiết khấu, dư nợ cho vay thấu chi.

  • Mục đích và ý nghĩa

Áp dụng giới hạn tín dụng nhằm định hướng hoạt động quản trị rủi ro của Ngân hàng Ngoại thương theo chuẩn mực quốc tê và có những ý nghĩa sau:

  • Quản lý rủi ro đối với một khách hàng. Trước đây, mỗi phòng ban nghiệp vụ tự đánh giá rủi ro khách hàng riêng để cung cấp loại dịch vụ mà phòng ban mình được phân công (phòng tín dụng xây dựng mức cho vay độc lập với việc phòng thanh toán xây dựng mức hạn mức mở L/C), do đó thông tin về một khách hàng bị phân tán. Giới hạn tín dụng sẽ khắc phục tình trạng này.
  • Tăng cường tính tập thể, khách quna trong hoạt động tín dụng. Do Giới hạn tín dụng phải được thông qua Hội đồng Tín dụng nên thực chất việc cấp tín dụng đến việc khách hàng được một tập thể xem xét quyết định.
  • Mở rộng quyền chủ động của chi nhánh trong hoạt độn tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu linh hoạt của khách hàng. Do Giới hạn tín dụng được xác định định kỳ, trước khi khách hàng có nhu cầu nên chi nhánh có thể chủ động tiếp cận khách hàng, rút ngắn thời gian thẩm định.
  • Thời hạn và Thẩm quyền xác định Giới hạn tín dụng

Việc xác định Giới hạn tín dụng cho khách hàng phải được tiến hành xong chậm nhất là vào tháng 6 hàng năm đảm bảo cơ sở lập kế hoặch tiếp cận khách hàng trong năm.

Việc duyệt Giới hạn tín dụng cho khách hàng được chia thành 2 cấp, theo đó các Hội đồng tín dụng cơ sở có các mức thẩm quyền duyệt khác nhau tuỳ thuộc vào năng lực chi nhánh. Các Giới hạn tín dụng vượt thẩm quyền của Hội đồng tín dụng  cơ sở phải trình ra Hội đồng tín dụng Trung ương xem xét phê duyệt.

♦ Phân vùng đầu tư

Để đảm bảo chất lượng tín dụng và thuận tiện trong quá trình giám sát khoản vay, mỗi chi nhánh sẽ tập trung cấp tín dụng cho các khách hàng thuộc những vùng đầu tư nhất định. Chi nhánh có thể cấp tín dụng cho các khách hàng ngoài vùng đầu tư của mình nếu được Tổng Giám đốc cho phép bằng văn bản. Tuy nhiên, chi nhánh nên tận dụng tối đa các cơ hội kinh doanh thuộc vùng đầu tư của mình trước khi đầu tư ra ngoài.

Chi nhánh có thể gặp trường hợp khách hàng nằm tại địa bàn đầu tư của chi nhánh khác (chi nhánh sở tại) nhưng có đơn vị phụ thuộc hoặc dự án đầu tư hoạt động hoặc được triển khai tại địa bàn đầu tư của mình. Trong trường hợp này, chi nhánh có thể cho khách hàng vay để phục vụ nhu cầu kinh doanh của đơn vị phụ thuộc hoặc dự án, với điều kiện là có thỏa thuận bằng văn bản với chi nhánh sở tại.

Việc phân bổ vùng đầu tư được tiến hành trên cơ sở:

  • Đặc điểm địa lý nơi chi nhánh đặt trụ sở;
  • Năng lực tài chính của chi nhánh.

♦ Phân chia thẩm quyền quản lý rủi ro tín dụng cơ bản

Nhằm vừa tạo tính linh hoạt, vừa đảm bảo mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng, Tổng Giám đốc ban hàng quy định thẩm quyền xét duyệt cho vay theo các cấp như sau:

  • Giám đốc chi nhánh:

Thẩm quyền xét duyệt cho vay đối với mỗi chi nhánh được quy định khác nhau, tùy thuộc vào tình hình thực tế trên địa bản và năng lực quản lý. Mức thẩm quyền cao nhất là 60 tỷ đồng, thấp nhất là 20 tỷ đồng đối với từng lầm cho vay dự án đầu tư và mở L/C, bảo lãnh miễn ký quỹ (trừ lĩnh vực/mặt hàng mang tính đặc thù riêng). Các khoản cho vya khác có giá trị nằm trong Giới hạn tín dụng đã được duyệt, Giám đốc chi nhánh được quyền chủ động quyết định. Đối với các khoản cho vay vượt ngoài phạm vi nói trên, Chi nhánh phải trình Tổng Giám đốc xem xét phê duyệt.

  • Tổng Giám đốc

Các khoản thuộc Hội sở chính hoặc do chi nhánh gửi lên được chia làm 3 cấp: các khoản có giá trị đến 100 tỷ đồng do Phó Tổng Giám đốc phụ trách tín dụng được quyền xem xét và quyết đinh; các khoản từ trên 100 tỷ đến 120 tỷ đồng do Tổng Giám đốc quyết định; các khoản lớn hơn 120 tỷ đồng phải do Hội đồng tín dụng Trung ương xem xét phê duyệt.

  • Hội đồng tín dụng

Hội đồng tín dung là tổ chức hỗ trợ cho Tổng Giám đốc và Giám đốc chi nhánh, có nhiệm vụ và quyền ra quyết định các khoản cấp tín dụng có giá trị lớn, mức độ phức tạp để đảm bảo tính khách quan.

Hình thức làm việc của Hội đồng tín dụng là tổ chức hợp các thành viên. Các cuộc họp đều phải có biên bản với đầy đủ các chữ ký thành viên. Quyết định các khoản cấp tín dụng có giá trị lớn, mức độ phức tạp để đảm bảo tính khách quan.

Hình thức làm việc của Hội đồng tín dụng là tổ chức họp các thành viên. Các cuộc họp đều phải có biên bản với đầy đủ các chữ ký thành viên, theo nguyên tắc đa số (quá bán).

Hệ thống Hội đồng tín dụng gồm 2 cấp: Hội đồng tín dụng cơ sở do chi nhánh thành lập, và hội đồng tín dụng Trung ương do Hội Sở Chính thành lập.

♦ Mức dư nợ tối đã đối với từng chi nhánh

Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội tại địa bàn và năng lực quản lý rủi ro tại chi nhánh, Tổng Giám đốc khống chế mức dư nợ tốt đã quy VND đối với từng chi nhánh. Đây là các mức dư nợ khống chế, chi nhánh không được vượt, trừ trường hợp cho sự chấp thuận bằng văn bản của Tổng Giám đốc.

♦ Giới hạn khác

Ngoài ra, tùy tình hình thực tế tại từng thời điểm và trên cơ sở đánh giá những biến động đột ngột có tác động xấu đến công tác quản lý rủi ro tín dụng, Tổng Giám đốc có thể ban hành văn bản giới hạn, ngừng cho vay mới , hoặc áp dụng các kỹ thuật giảm dư nợ đối với một nhóm khách hàng,mặt hàng/lĩnh vực đầu tư.

2.2.1.3. Quy trình tín dụng trung và dài hạn tai Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

            Tại Ngân hàng Ngoại thương, việc cho vay các dự án trung và dài hạn do phòng Đầu tư dự án (đối với các chi nhánh có phòng Đầu tư dự án) đảm nhiệm. Quy trình cho vay theo các bước:(i) Đề xuất cho vay, (ii) Thẩm định rủi ro các khoản vay, (iii) Phê duyệt khoản vay, (iv) Soạn thảo ký kết hợp đồng, (v) Nhập dữ liệu vào hệ thống, (vi) Rút vốn vay, (vii) Quản lý, giám sát khoản vay/khách hàng vay, (viii) Điều chỉnh tín dụng, (ix) Thu hồi nợ vay, (x) Sử lý đối với các khoản nợ quá hạn.

2.2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

2.2.2.1. Nguồn cho vay trung và dài hạn

            Nguồn hình thành nên các khoản cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng Ngoại thương gồm các khoản: Vốn tự có của ngân hàng ngoại thương, tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng; Ngân hàng Ngoại thương phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi; nguồn đi vay trung dài hạn của các tổ chức tín dụng và ngân hàng Nhà nước; và một phần vốn ngắn hạn của Ngân hàng ngoại thương.

Bảng 8: Nguồn vốn dùng để cho vay trung và dài hạn

của Ngân hàng Ngoại thương

Đơn vị: triệu VNĐ

Chỉ tiêu 2005 2006 2007
1. Tiền gửi

Trong đó tỷ trọng

118.169.425 135.000.327 168.267.383
– Tiền gửi không kỳ hạn 45.636.450 47.689.033 62.278.118
– Tiền gửi có kỳ hạn 72.532.975 87.202.294 115.989.265
+ Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng 42.452.306 46.063.006 47.089.674
+ Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng (1) 30.080.669 41.139.288 68.899.591
Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng/tiền gửi 25.46% 30.47% 40.95%
2. Tiền vay

Trong đó tỷ trọng

3.876.977 9.664.796 10.223.459
– Vay ngắn hạn 2.895.074 6.354.603 6.397.841
– Vay trung và dài hạn (2) 981.903 3.310.193 3.825.618
Vay trung và dài hạn/tiền vay 25.32% 34.25% 37.42%
3. Phát hành giấy tờ có giá (3) 3.113.970 7.405.678 3.639.582
4. Vốn chủ sở hữu 8.415.901 11.127.248 12.981.202
5. Tổng nguồn vốn trung và dài hạn (1+2+3) 34.176.542 51.855.159 76.364.791
6. Tổng số 125.160.372 152.070.801 178.490.842
7. Tổng nguồn vốn trung và dài hạn/tổng số 27.31% 34.1% 41.96%

Nguồn: Bản cân đối kế toán của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương

Tiền gửi của khách hàng tăng lên qua các năm. Vốn huy động năm 2007 đạt trên 168.000 tỷ VND, tăng 24.44% so với năm 2006 và 42.37% so với năm 2005. Chứng tỏ công tác huy động vốn của ngân hàng đang có hiệu quả tốt. Trong đó, tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng cũng tăng lên và tăng đột phá trong năm 2007. Năm 2006 tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tăng so với năm 2005 là   % và tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng trên tổng tiền gửi năm 2006 là 30,47%, tăng 5.01% so với năm 2005 (Năm 2005 là 25.46%). Năm 2007, tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng và tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng trên tổng tiền gửi tăng nhiều so với trong năm 2006 và năm 2005. Điều này cho thấy, quy mô của tiền gửi trung và dài hạn ngày càng tăng đáng kể, công tác huy động vốn trung và dài hạn ngày càng được chú ý hơn, đặc biệt trong năm 2007, với mức tăng ấn tượng .

Tiền vay cũng là một trong những nguồn tiền mà ngân hàng có thể cho vay trung và dài hạn. Qua bảng số liệu, tiền vay của Ngân hàng Ngoại thương tăng lên nhanh chóng qua các năm. Trong đó, vay trung và dài hạn cũng tăng lên đáng kể từ năm 2005 đến năm 2006, rồi năm 2007. Năm 2005, vay trung và dài hạn còn ở con số khiêm tốn là 981.903 triệu VNĐ, thì đến năm 2006 con số này đã tăng lên 3.37 lần, ở mức 3.310.193 triệu VNĐ và đến năm 2007, nó đã tăng lên 3.825.618 triệu VNĐ. Tỷ trọng của vay trung dài hạn trên tổng tiền vay của năm 2006 là 34.25%, tăng so với năm 2005 (năm 2005 là 25.32%) là 9.93% và năm 2007 là 37.42%, tăng lên so với năm 2006 là 3.17%. Nếu doanh số cho vay trung và dài hạn lớn, ngân hàng có nhiều khách hàng vay vốn trung và dài hạn thì tiền vay nhiều chứng tỏ ngân hàng đang mở rộng cho vay trung và daì hạn. Nếu doanh số cho vay trung và dài hạn nhỏ, chứng tỏ tiền vay nhiều là không hợp lý, hoặc ngân hàng đang đầu tư một lượng lớn vốn tín dụng trung và dài hạn vào các khoản đầu tư khác.

Huy động vốn trung và dài hạn từ kênh phát hành giấy tờ có giá là một trong những ưu thế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Giấy tờ có giá mà ngân hàng Ngoại thương phát hành bao gồm trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi. Năm 2005, số tiền phát hành giấy tờ có giá là 3.113.970 triệu VNĐ. Năm 2006, số tiền phát hành giấy tờ có giá tăng lên 4.291.708 triệu VNĐ (tăng 66.87%), đạt ở mức 7.405.678 triệu VNĐ. Tuy nhiên, năm 2007, nguồn từ phát hành giấy tờ có giá giảm xuống 3.766.096 triệu VNĐ, còn 3.638.582 triệu VNĐ

Vốn chủ sở hữu là một trong những nguồn Ngân hàng Ngoại thương dùng để cho vay trung và dài hạn. Nhìn vào vốn chủ sở hữu trên bảng số liệu ta thấy, vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tăng lên đáng kể trong năm 2006 so với năm 2005, và tỷ lệ này giảm một năm sau đó song vốn chủ sở hữu của Ngân hàng vẫn tăng lên theo số tuyệt đối. Vốn chủ sở hữu lớn là một trong những ưu thế của Ngân hàng Ngoại thương trong việc mở rộng cho vay trung và dài hạn.

Vì tiền gửi trên 12 tháng của khách hàng, tiền vay trung và dài hạn, phát hành giấy tờ có giá đều tăng lên, do đó, tổng nguồn trung và dài hạn cũng tăng lên tương ứng. Năm 2005 là 3.113.970 triệu VNĐ, năm 2006 là 7.405.678, tăng lên gấp đôi so với năm 2005 nhưng năm 2007 lại giảm xuống xấp xỉ bằng năm 2005.

Quy mô các nguồn tiền chủ yếu dùng để tài trợ cho tín dụng trung và dài hạn đều tăng lên (trừ phát hành giấy tờ có giá) cho thấy Ngân hàng Ngoại thương đã áp dụng những chính sách đúng đắn của mình như chính sách lãi suất linh hoạt, các lợi ích khác đi kèm khi huy động vốn.

Xem thêm: Lời mở đầu nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng

2.2.2.2. Quy mô  tín dụng trung và dài hạn

Bảng 9:  Quy mô dư nợ tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Đơn vị: triệu VNĐ

Chỉ tiêu Năm 2005 Tỷ trọng Năm 2006 Tỷ trọng Năm 2007 Tỷ trọng
Dư nợ tín dụng ngắn hạn 45.984.430 75.24% 49.838.171 73.57% 63.914.176 70.41%
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn 15.059.550 24.67% 17.904.348 26.43% 26.860.112 29.59%
Tổng dư nợ 61.043.981 100 67.742.519 100 90.774.288 100

Nguồn: Báo cáo kiểm toán Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Tổng dư nợ tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương năm sau đều tăng hơn so với năm trước, đặc biệt là năm 2007, sau khi Ngân hàng Ngoại thương cổ phần hóa. Nếu dư nợ năm 2006 là 67.742.519 triệu VNĐ, tăng lên so với năm 2005 là 6.698.538 triệu VNĐ (tăng 9.89%) thì con số dư nợ năm 2007 là 90.774.288 triệu VNĐ tăng lên 23.031.769 triệu VNĐ ( tăng 25.37%). Điều này cho thấy khả năng thu hút khách hàng của Ngân hàng Ngoại thương ngày càng cao, uy tín của Ngân hàng Ngoại thương được cải thiện đáng kể so với các năm trước đó.

Nhìn vào con số tuyệt đối trong dư nợ tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng Ngoại thương cho thấy. Năm 2007 là năm dư nợ tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng Ngoại thương cao nhất và tăng lên đáng kể so với năm 2006. Dư nợ tín dụng trung và dài hạn năm 2007 tăng lên so với năm 2006 là 33.34 %. Năm 2006 chỉ tăng so với năm 2005 là 15.89 %. Điều này cho thấy khách hàng để cho vay trung và dài hạn của ngân hàng Ngoại thương ngày càng lớn, đặc biệt sau khi là vào năm 2007, sau khi Ngân hàng Ngoại thương cổ phần hóa.

Dư nợ tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng Ngoại thương cũng chiếm một tỷ lệ ngày càng cao trong tổng dư nợ. Năm 2005 là 24.67%, năm 2006 là 26.43% (tăng lên 1.76 %) và năm 2007 là 29.59% (tăng lên 3.16%). Điều đó cho thấy, Ngân hàng đang ngày càng chú ý tới các khoản cho vay trung và dài hạn. Tuy nhiên, nhìn vào tỷ trọng dư nợ tín dụng trung và dài hạn trên tổng dư nợ, thấy rằng tỷ trọng của dư nợ tín dụng trung và dài hạn trên tổng dư nợ tín dụng là rất thấp so với dư nợ tín dụng ngắn hạn

2.2.2.3. Sử dụng vốn trung và dài hạn

Bảng 10: Bảng hệ số sử dụng vốn trung và dài hạn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Đơn vị: triệu VNĐ

Chỉ tiêu Năm 2005 Tỷ lệ Năm 2006 Tỷ lệ Năm 2007 Tỷ lệ
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn 15.059.550 0.44 17.904.348 0.34 26.860.112 0.35
Nguồn vốn trung và dài hạn 34.176.542 1 51.855.159 1 76.364.791 1

Nguồn: Báo cáo kiểm toán của Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Dư nợ tín dụng trung và dài hạn trên tổng nguồn vốn trung và dài hạn cho biết mức độ sử dụng vốn trung và dài hạn của Ngân hàng Ngoại thương tài trợ cho tín dụng trung và dài hạn. Nhìn vào tỷ lệ trên ta thấy, tất cả các tỷ lệ của cả ba năm 2005, 2006 và 2007 đều nhỏ hơn 1 rất nhiều, cho thấy nguồn vốn trung và dài hạn của Ngân hàng là nhiều, đảm bảo an toàn cho các khoản vay trung và dài hạn. Tuy nhiên, nguồn vốn trung và dài hạn của ngân hàng là lớn và nguồn cho vay trung dài hạn chỉ đạt từ 30% đến trên 40% (năm 2005 là 44%, năm 2006 là  34% và năm 2007 là 35%), điều này cho thấy một lượng lớn vốn trung dài hạn dùng để đầu tư và các tài sản khác hoặc không sử dụng hết. Nếu sử dụng không hợp lý sẽ gây lãng phí vì nguồn vốn trung dài hạn là nguồn đắt, sử dụng không hợp lý sẽ làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng.

2.2.2.4. Tình hình nợ quá hạn.

            Nợ quá hạn luôn là vấn đề được các Ngân hàng thương mại quan tâm bởi lẽ đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc đánh giá chất lượng các khoản tín dụng. Nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng trung và dài hạn nói riêng. Để đánh giá tình hình nợ quá hạn trung và dài hạn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ta xem xét bảng dưới đây:

Bảng 11: Nợ quá hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Đơn vị: triệu VNĐ

Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tổng dư nợ 61.043.981 67.742.519 90.774.288
Tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn 15.059.550 17.904.348 26.860.112
Nợ quá hạn 1.145.846 808.721 989.439
Nợ quá hạn/Tổng dư nợ 1.88% 1.19% 1.09%
– Nợ quá hạn trung và dài hạn 792.009 491.136 592.575
– Nợ quá hạn trung dài hạn/Nợ quá hạn 69.12% 60.73% 59.89%
– Nợ quá hạn trung dài hạn/Tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn 5.2% 2.74% 2.21%

Nguồn: Báo cáo kiểm toán của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

            Nợ quá hạn trong năm 2006 đã giảm đáng kể so với năm 2005 và năm 2007, nợ quá hạn có tăng nhẹ so với năm 2006. Tuy nhiên tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ lại giảm trong năm 2006 và giảm nhẹ trong năm 2007. Nguyên nhân của việc nợ quá hạn tăng trong năm 2007 mà tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ giảm một phần là do tổng dư nợ năm 2007 lớn hơn nhiều so với năm 2006 và năm 2005. Chỉ tiêu nợ quá hạn trên tổng dư nợ của Ngân hàng trong cả ba năm đều thấp từ 1% tới 2%, cho hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng là tốt, điều này cần được phát huy hơn nữa, để tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ ngày càng giảm trong các năm tiếp theo.

Nợ quá hạn trung và dài hạn phản ánh số tiền khách hàng sử dụng tín dụng trung dài hạn không trả khi đến hạn trả nợ. Nợ quá hạn trung và dài han giảm đáng kể trong năm 2006 và lại tăng lên năm 2007. Tỷ lệ nợ quá hạn trên nợ quá hạn giảm mạnh trong năm 2006 và giảm nhẹ vào năm 2007. Năm 2005, tỷ lệ này là 69.12%, sang năm 2006 tỷ lệ này là 60.73% (giảm 8.39%) và năm 2007 giảm nhẹ 0.84% xuống còn 59.89%. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là cao so với nợ quá hạn ngắn hạn trên tổng dư nợ. Điều này cho thấy, công tác thu hồi nợ trung và dài hạn của Ngân hàng được cải thiện, nhưng cần rút ngắn hơn nữa.

Nợ quá hạn trung và dài hạn trên tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn cho biết khả năng thu hồi gốc và lãi của các khoản cho vay trung và dài hạn. Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ khả năng thu hồi nợ là không tốt, ngân hàng gặp nhiều rủi ro trong các khoản cho vay của mình. Trong bảng số liệu, năm 2005, tỷ lệ này còn cao là 5.2 % thì đến năm 2006 và 2007 nó đã hạ thấp xuống dưới 3%. Tỷ lệ này là có thể chấp nhận được trong các ngân hàng thương mại.

2.2.2.5. Chỉ tiêu lợi nhuận

            Lợi nhuận là một trong các chỉ tiêu tốt để đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn càng cao cho thấy chất lượng tín dụng của Ngân hàng ngày càng được cải thiện.

Bảng 12: Thu nhập từ cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Đơn vị: triệu VNĐ

Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tổng lợi nhuận 1.292.553 2.877.021 3.120.112
Dư nợ tín dụng 61.043.981 67.742.519 90.774.288
Tổng lợi nhuận/Tổng dư nợ tín dụng 2.12% 4.24% 3.43%
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn 360.364 828.007 946.642
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn 15.059.550 17.904.348 26.860.112
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn/Dư nợ tín dụng trung và dài hạn 2.39% 4.62% 3.52%
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn/tổng lợi nhuận 27.88% 28.78% 30.34%

Nguồn: Bán cáo kiểm toán Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Lợi nhuận thu được tăng dần qua các năm. Tuy nhiên, tổng lợi nhuận trên dư nợ tín dụng tăng trong năm 2006 và giảm xuống vào năm 2007. Nguyên nhân là do dư nợ tín dụng năm 2007 tăng mạnh. Lợi nhuận tín dụng trung và dài hạn cũng tăng lên, tăng mạnh trong năm 2006.Năm 2006 là 828.007 triệu VNĐ, tăng so với năm 2005 là 476.643 triệu VNĐ (Năm 2005 là 360.364). Năm 2007, lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn cũng tăng lên so với năm trước, tăng 118.635 triệu VNĐ.

Tỷ số lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn trên dư nợ tín dụng trung và dài hạn phản ánh lợi nhuận thu được từ tín dụng trung và dài hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ tín dụng. Nó phản ánh khả năng sinh lời từ các khoản cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng Ngoại thương. Trên bảng số liệu, tỷ lệ này tăng trong năm 2006 và giảm vào năm 2007. Năm 2005, tỷ lệ này là 2.39%, năm 2006 tăng lên đến 4.62%, rồi năm 2007 lại giảm 3.52%.

Tỷ số lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn trên tổng lợi nhuận của Ngân hàng cho biết trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng Ngoại thương thì lợi nhuận thu được từ tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là bao nhiêu phần trăm. Tỷ lệ này đều tăng qua các năm. Trên bảng số liệu, tỷ lệ này chiếm gần 1/3 trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng. Điều này cho thấy, hoạt động tín dụng trung và dài hạn đang sinh lãi lớn cho Ngân hàng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập của Ngân hàng và nếu ngân hàng tiếp tục mở rộng tín dụng trung và dài hạn trong các năm tới sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn nữa.

            Thông qua phân tích các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong ba năm qua, có thể thấy chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam đã được nâng cao và cải thiện đáng kể, bước đầu đã đạt được một vài kết quả nhất định. Tuy nhiên, cũng còn nhiều hạn chế mà Ngân hàng Ngoại thương cần khắc phục. Dưới đây sự đánh giá về thực trạng chất lượng của Ngân hàng, rút ra những kết quả đạt được mà nêu lên những hạn chế và nguyên nhân của nó, đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục tại Ngân hàng.

2.3. Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

2.3.1. Kết quả đạt được

Trong thời gian qua hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam có những chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng khích lệ:

♦ Nguồn vốn dùng để cho vay trung và dài hạn lớn

Trong các năm qua, Ngân hàng Ngoại thương là một trong những ngân hàng có nguồn vốn dồi dào nhất trong các ngân hàng Thương mại ở Việt Nam. Trong đó, nguồn vốn trung và dài hạn luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn vốn. Đặc biệt, trong năm 2005 và năm 2006, Ngân hàng Ngoại thương phát hành một lượng lớn giấy tờ có giá, đem lại một lượng vốn trung và dài hạn cho ngân hàng.

♦ Các chỉ tiêu đều diễn biến theo hướng tích cực

Dư nợ tín dụng trung và dài hạn tăng lên qua các năm và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ. Theo bản công bố thông tin năm của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng dự tính dư nợ tín dụng tăng trung bình 26%, theo đó, dư nợ tín dụng cũng tăng lên tương ứng. Sự gia tăng về mặt tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong tổng dư nợ của Ngân hàng là hoàn toàn phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của đất nước: tăng cường đầu tư cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các dự án cơ sở hạ tầng…

Tổng dư nợ tăng qua các năm, tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn cũng tăng vào các năm và nợ quá hạn giảm xuống. Nợ quá hạn cao chứng tỏ rủi ro của ngân hàng trong việc không thu hồi được nợ là cao. Nhưng tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn của ngân hàng Ngoại thương giảm trong các năm qua. Tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài han trên tổng dư nợ trung và dài hạn của Ngân hàng Ngoại thương giảm mạnh trong năm 2006 và giảm trong năm 2007. Trong hai năm, năm 2006 và năm 2007, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ và tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn trên nợ dư nợ tín dụng trung và dài hạn đều nhỏ hơn 3%, đây là mức có thể chấp nhận được đối với các Ngân hàng thương mại. Cho thấy, công tác thẩm định, khả năng thu hồi nợ, sử lý nợ… của Ngân hàng tương đối tốt.

Lợi nhuận từ cho vay trung và dài hạn cũng tăng lên theo từng năm. Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn trong năm 2006 tăng nhanh, và cũng tăng trong năm 2007. Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng cũng tăng đều trong ba năm và chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng.

Lợi nhuận tăng cao và dư nợ tín dụng trung dài hạn ở mức hợp lý là do Ngân hàng vận dụng chính sách tín dụng sau:  Thứ nhất, Ngân hàng đã chủ động mở rộng cho vay các nhóm khách hàng mà hoạt động kinh doanh có độ an toàn cao; hạn chế cho vay đối với những nhóm hàng hoạt động kinh doanh có rủi ro lớn. Thứ hai, Tận dụng cơ hội phát triển tín dụng tại các khu vực có môi trường kinh tế thuận lợi; áp dụng chính sách cho vay thận trọng tại các khu vực kinh tế chưa phát triển đồng đều, ổn định. Thứ ba, Mở rộng cho vay các ngành kinh tế mũi nhọn, mặt hàng có thị trường tiêu thụ ổn định; cho vay thận trọng đối với mặt hàng có nhiều biến động về thị trường, giá cả.

♦ Chính sách cho vay linh hoạt, chặt chẽ

Chính sách cho vay của Ngân hàng Ngoại thương rất linh hoạt, quy trình thẩm định tín dụng chặt chẽ, khách quan, theo chuẩn quốc tế. Từ chính sách về đối tượng vay vốn, mức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay…Tính chặt chẽ thể hiện ngay trong từng chính sách. Chẳng hạn, trong chính sách quản lý rủi ro tín dụng, việc phân chia thẩm quyền quyết định hoạt động tín dụng thể hiện sự chặt chẽ trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.

♦ Rủi ro về tín dụng được giảm thiểu

Rủi ro tín dụng bao hàm những tổn thất mà Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam có thể gánh chịu khi khách hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã được Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương bảo lãnh, hoặc không thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi các khoản tiền vay theo hợp đồng. Trong đó, các khoản cho vay trung và dài hạn, do thời gian thu hồi vốn dài nên thường chứa đựng rủi ro cao. Trong các năm qua, để giảm thiểu tổn thất có thể xảy ra: Thứ nhất, Ngân hàng Ngoại thương đã tiến hành áp dụng quy trình Quản trị rủi ro mới với những nội dung cơ bản: tách bạch chức năng của ba bộ phận: (i) Quản lý quan hệ khách hàng, (ii) Quản lý rủi ro tín dụng – tái thẩm định đề xuất; và tác nghiệp (Quản trị hạn mức/tín dụng…) xử lý giao dịch cho khách hàng. Thứ hai, phân định tách bạch trách nhiệm và quyền hạn của các Phòng ban chuyên môn. Với cơ chế trách nhiệm được phân định và tách bạch rõ ràng cho từng phòng ban chuyên môn/bộ phận sẽ tạo điều kiện cho xử lý một cách minh bạch kho sảy ra say sót; Thứ ba, Ngân hàng Ngoại thương đã xây dựng hệ thống chấm điểm phân loại khách hàng, phân bổ hạn mức phù hợp giữa các cấp, các chi nhánh. Thứ tư, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ.

Những thành tựu trên đây phản ánh chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam ngày càng cao, tạo ra cho ngân hàng nguồn lợi nhuận lớn, tăng sức cạnh tranh cho Ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.3.2.1. Hạn chế

            Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam đã được cải thiện, không ngừng nâng cao, song chất lượng tín dụng vẫn chưa cao, chưa xứng với tiến năng của ngân hàng.

            ♦ Quy mô tín dụng trung và dài hạn nhỏ

Dư nợ tín dụng trung và dài hạn còn thấp trên tổng dư nợ tín dụng. Tín dụng ngắn hạn vẫn là hoạt động chiếm ưu thế trong hoạt động tín dụng của Ngân hang, với tỷ trọng dư nợ ngắn hạn trong tổng dư nợ từ 70% – 80%, trong khi đó tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn lại chiếm quá thấp. Điều này là chưa hợp lý, và tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn cần tăng hơn nữa.

♦ Số lượng khách hàng vay vốn chưa nhiều

Nguồn vốn trung và dài hạn thường được tài trợ cho việc các khoản vay trung và dài hạn. Theo lý thuyết, nguồn vốn có thể dùng để cho vay trung và dài hạn là nguồn tự có của ngân hàng, vốn vay trung và dài hạn, vốn huy động trung và dài hạn, và một bộ phận nhất định vốn ngắn hạn. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ sử dụng từ 30% – 40% trên tổng nguồn vốn trung và dài hạn (chưa kể nguồn ngắn hạn) để cho vay trung và dài hạn. Điều này cho thấy, số lượng khách hàng xin sử dụng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng chưa nhiều. Một lượng lớn vốn trung và dài hạn được ngân hàng sử dụng vào các mục đích đầu tư khác.

♦ Thu hồi nợ trung và dài hạn còn yếu

Nợ quá hạn và nợ quá hạn trung và dài hạn tuy rằng ở mức dưới 3% trên tổng dư nợ và trên tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn, nhưng tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn khá cao (trên 2%) và số tuyệt đối của khoản này là rất lớn. Tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn trên tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn cần giảm xuống dưới 2% trong những năm tới.

Mặt khác, nếu so với công tác thu hồi nợ ngắn hạn thì công tác thu hồi nợ trung và dài hạn kém hơn. Dư nợ tín dụng trung và dài hạn trên nợ quá hạn của Ngân hàng là cao, trung bình là 60%, trong khi, dư nợ tín dụng trung và dài hạn chỉ chiếm 20% – 30%, còn dư nợ tín dụng ngắn hạn chiếm tới 70% – 80% trên tổng dư nợ.

♦ Cơ cấu khách hàng chưa phù hợp

Đối tượng khách hàng của Ngân hàng chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp quốc doanh. Mặc dù hiện nay, quá trình cổ phần hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở các doanh nghiệp này vẫn còn nhiều, và mặc dù các doanh nghiệp quốc doanh được cổ phần hóa thì lối làm việc trây ì vẫn khó chấm dứt, chưa chủ động sáng tạo. Trong khi đó, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang làm ăn hiệu quả, và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các thành phần kinh tế, thì lại khó tiếp cận với tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng.

♦ Thu lãi từ tín dụng trung và dài hạn chưa nhiều

Mặc dù lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn tăng trong ba năm qua, song con số này chưa lớn. Trong năm 2007, dư nợ tín dụng lên tới 90.774.288 triệu VNĐ, mà lợi nhuận chỉ là 3.120.112 triệu VNĐ. Và trong khi, dư nợ tín dụng trung và dài hạn năm 2007 là 26.860.112 triệu VNĐ, song thu lãi từ tín dụng trung và dài hạn chỉ là 946.642 triệu VNĐ. Thu lãi từ tín dụng trung và dài hạn chưa cao, chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng chưa tốt, vì một khoản tín dụng có chất lượng tốt thì nó phải đem lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng và không phát sinh nợ quá hạn.

2.3.2.2. Nguyên nhân

♦ Nguyên nhân khách quan

  • Trình độ quản lý yếu kém của các doanh nghiệp:

Trình độ quản lý của doanh nghiệp yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Nhiều doanh nghiệp di quản lý, sử dụng vốn vay không hợp lý làm cho hiệu quả dự án giảm xút, ảnh hưởng tới khả năng trả nợ cho ngân hàng.

  • Môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp gay gắt

Trong điều kiện hội nhập, doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt. Sự cạnh tranh găy gắt giữa hàng hóa nội địa với hàng nội địa, hàng nội địa với hàng ngoại. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải đối mặt với tình trạng: hàng hóa nhập lậu, trốn thuế, làm cho khả năng tiêu thụ sản phẩm của nhiều doanh nghiệp bị giảm sút, thu nhập không đảm bảo trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng. Ngoài ra, các doanh nghiệp không theo kịp với sự thay đổi của chính sách kinh tế vĩ mô nên không điều chỉnh hoạt động sản xuất – kinh doanh cho phù hợp, nguy cơ thua lỗ cao.

  • Công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp chưa tốt

Công tác hạch toán kế toán đối với với các doanh nghiệp còn chưa được chấp hành nghiêm chỉnh. Nhiều doanh nghiệp sổ sách kế toán ghi chép rất lộn xộn, trình độ của người làm công tác kế toán còn thấp nên các số liệu không đủ tính tin cậy. Khả năng lập dự án của các doanh nghiệp đa số vẫn chưa đạt yêu cầu. Các số liệu thu thập của doanh nghiệp về khả năng thị trường nhiều khi là những số liệu lạc hậu và không có thực.

  • Cạnh tranh của các ngân hàng khác

Ngân hàng phải đối mặt với sự đối mặt với sự cạnh tranh của nhiều ngân hàng trên cùng địa bàn về lãi suất cho vay, hình thức dịch vụ đi kèm…Đặc biệt là các ngân hàng cổ phần, ngoài việc đưa ra các hình thức ưu đãi hấp dẫn, các chương trình khuyến mại lớn cho khách hàng, thì tác phong làm việc của các ngân hàng cổ phần chuyên nghiệp, theo cơ chế giao việc nhân viên, tức là mỗi nhân viên phải hoàn thành một khối lượng công việc nhất định được giao, điều này tạo ra tinh thần trách nhiệm cao với công việc. Dẫn đến khách hàng đến với các ngân hàng này ngày càng đông, một phần giải thích cho việc vốn trung và dài hạn của ngân hàng lớn, song chỉ một lượng ít vốn được sử dụng cho vay trung và dài hạn.

  • Sự can thiệp của Chính phủ

Sự can thiệp của Chính phủ vào hoạt động tín dụng của ngân hàng làm cho ngân hàng nhiều khi không chủ động trong kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm lợi nhuận của Ngân hàng…Các khoản cho vay theo chỉ thị của chính phủ nhiều khi yếu tố hiệu quả không đặt lên hàng đầu. Các dự án được cấp tín dụng theo kiểu này thường là các dự án có nhu cầu vốn đầu tư lớn. Do đó, khi rủi ro sảy ra, tổn thất cho Ngân hàng là rất lớn.

♦ Nguyên nhân chủ quan

  • Chính sách tín dụng chưa phù hợp

Ngân hàng tập trung nhiều hơn cho hoạt động truyền thống, có lợi thế, đặc biệt là lượng vốn dùng để đầu tư chứng khoán (trái phiếu) rất lớn hơn là mở rộng cho vay trung và dài hạn. Trong bản cân đối kế toán của bản công bố thông tin của Ngân hàng Ngoại thương năm 2007, lượng chứng khoán Ngân hàng đầu tư trong năm 2006 và 2007 là hơn 30 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, dư nợ tín dụng trung và dài hạn năm 2007 là hơn 26 nghìn tỷ. Trong thời gian tới, ngân hàng cần chú ý hơn vì nguồn vốn trung và dài hạn là nguồn vốn đắt, lãi suất cao, chi phí lớn, cần sử dụng cho vay trung và dài hạn nhiều hơn để đem lại lợi nhuận cao hơn là đầu tư chứng khoán.

  • Hiệu quả Marketing còn yếu

Sự không hợp lý trong sử dụng vốn trung dài hạn của Ngân hàng Ngoại thương là do hiệu quả marketing của Ngân hàng đối với tín dụng trung và dài hạn chưa tốt. Ngân hàng Ngoại thương là một ngân hàng có thương hiệu mạnh, tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu tín dụng cho thấy, hoạt động tín dụng trung và dài hạn còn chưa tương xứng với tiềm năng của ngân hàng. Do đó, cần đẩy mạnh hoạt động Marketing cho tín dụng trung và hạn của Ngân hàng nhằm thu hút thêm khách hàng, từ đó nâng cao lợi nhuận cho khách hàng.

  • Công tác thẩm định chưa hoàn thiện

Nội dung thẩm định các dự án sử dụng vốn vay trung và dài hạn của Ngân hàng tuy đầy đủ nhưng còn nhiều điểm chưa hợp lý, cần phải được nghiên cứu hoàn thiện. Thứ nhất, Các dự án mà Ngân hàng Ngoại thương tài trợ chủ yếu là của Doanh nghiệp Nhà nước, được cấp có thẩm quyền phê duyệt tổng mức dự toán nên Ngân hàng thường chấp nhận ngay mức vốn chủ dự án trình lên. Cán bộ tín dụng còn xem nhẹ việc xác định tổng vốn đầu tư, kết quả thẩm đinh chưa thực sự độc lập mà thường trùng khớp với ý kiến của chủ dự án. Ngân hàng cũng chưa đề cập cụ thể tỷ lệ vốn tự có của doanh nghiệp khi tham gia dự án mới là bao nhiêu thì phù hợp, 30% , 40%…Thứ hai, Ít quan tâm tới tính chính xác của giá bán dự kiến cũng như các yếu tố tác động tới giá bán như lạm phát, biến động đầu vào, tình hình sản xuất tiêu thụ, cạnh tranh…trong từng năm. Thứ ba, xác định khả năng tiêu thụ chủ yếu từ thông tin dự báo thị trường chung, và tình hình hiện tại của những đối thủ cạnh tranh trên thị trường một cách cảm tính, thiếu đi sự tham khảo cần thiết của cơ quan chuyên môn, điều này khiến nhận xét mang tính chủ quan, không hợp lý, làm giảm phần nào tính chính xác của kết quả thẩm định; Thứ tư, các chỉ tiêu đánh giá tính khả thi về mặt tài chính, khả năng trả nợ…của một dự án trung và dài hạn chưa đủ chặt chẽ. Cán bộ thẩm định quá coi trong về mặt đảm bảo tiền vay hơn là hiệu quả tài chính, nhiều dự án cuối cùng cho vay dựa trên tài sản đảm bảo.

  • Trình độ cán bộ ngân hàng chưa cao

Cán bộ ngân hàng là nhân tố quyết định tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn. Cán bộ tín dụng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và chưa có nhiều kinh nghiệm, ảnh hưởng đến năng lực thẩm định các dự án, đặc biệt đối với những dự án có quy  mô lớn, tính chất phức tạp. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn ảnh hưởng rất lớn đến năng lực thẩm định dự án của cán bộ tín dụng. Ngoài ra, lực lượng cán bộ tín dụng mỏng cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng. Cán bộ tín dụng giỏi, kinh nghiệm chỉ tập trung ở Trung ương và một vài chi nhánh lớn. Ở các chi nhánh khác, các cán bộ tín dụng làm những công việc như thẩm định,…chỉ mang tính hình thức, không tính đến tính khả thi của dự an mà cán bộ chỉ quan tâm tới khả năng trả nợ và biện pháp bảo đảm tiền vay của khách hàng.

  • Hoạt động kiểm soát nội bộ của Ngân hàng còn hạn chế

Bộ phận kiểm soát của Ngân hàng còn lơi là chưa phát hiện kịp thời những thiếu sót trong hoạt động thẩm định và hoạt động tín dụng để hạn chế rủi ro cho hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng. Dẫn đến tình trạng  thu hồi nợ chưa cao.

  • Công nghệ thông tin và trang thiết bị công nghệ còn yếu

Công nghệ thông tin cả về quy trình nghiệp vụ lẫn trang thiết bị công nghệ quyết định  (yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh) còn yếu, chưa thực hiện đi trước một bước và chưa tương xứng với một Ngân hàng có quy mô hoạt động lớn như Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam. Các thông tin phục vụ công tác quản lý điều hành chưa đầy đủ, tức thời và vẫn mang tính thủ công. Điều này làm hạn chế hoạt động tín dụng cũng như tín dụng trung và dài hạn. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn từ đó cũng bị ảnh hưởng.

Xem thêm: Đề cương nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng

THỰC TRẠNG NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG 2

2.2. Thực trạng hiệu quả cho vay DAĐT  trung và dài hạn NHNo&PTNT Việt Nam

2.2.1 Quy trình nghiệp vụ cho vay trung và dài hạn của NHNo&PTNT Việt Nam

Ngân hàng xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc đảm bảo tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay. Ngân hàng kiểm tra các tài liệu khách hàng gửi đến, đồng thời tiến hành thẩm định tính khả thi, hiệu quả của DAĐT  hoặc phương án sản xuất kinh doanh và khả năng hoàn trả nợ vay.

Trong trường hợp cần thiết hoặc pháp luật có quy định thì ngân hàng thành lập hội đồng tín dụng hoặc thuê cơ quan tư vấn liên quan đến thẩm định DAĐT  của khách hàng.

Quy trình cho vay được bắt đằu từ khi CBTD tiếp nhận hồ sơ khách hàng và kết thúc khi tất toán – thanh lý hợp đồng tín dụng, được tiến hành theo ba bước:

Bước 1: Thẩm định trước khi cho vay bao gồm: Tiếp nhận hồ sơ dự án; Thẩm định; Quyết định cho vay, hoặc trình Trung ương nếu vượt thẩm quyền; Lập, ký hợp đồng tín dụng khế ước vay vốn; Giải ngân cho vay.

Các hồ sơ xin vay vốn được chủ dự án gửi đến phòng tín dụng của chi nhánh. CBTD tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và hồ sơ vay vốn; Kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ vói những nội dung thuộc hồ sơ pháp lý, hồ sơ khoản vay, hồ sơ bảo đảm tiền vay và mục đích vay vốn.

Điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin về khách hàng và dự án đầu tư. Phân tích ngành, phân tích và thẩm định khách hàng vay vốn. Về khách hàng, CBTD tìm hiểu và phân tích về tư cách và năng lực pháp lý, năng lực điều hành, năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, mô hình tổ chức, bố trí lao động trong doanh nghiệp. Phân tích khả năng tài chính; Phân tích tình hình quan hệ với ngân hàng.

CBTD dự kiến lợi ích cho ngân hàng bằng cách tiến hành tính toán lãi, phí và/ hoặc các lợi ích khác có thể thu được nếu như khoản vay được phê duyệt. Phân tích, thẩm định dự án đầu tư.

CBTD phân tích, thẩm định DAĐT  để đưa ra kết luận về tính khả thi, hiệu quả về mặt tài chính của dự án đầu tư, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra để phục vụ cho việc quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay.

Kiểm tra tình trạng thực tế của TSBĐ tiền vay, phân tích thẩm định TSBĐ tiền vay.

Kiểm tra mức độ đáp ứng một số điều kiện về tài chính, chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng theo “Quy trình tính điểm tín dụng”. Khi kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng được tổng hợp vào báo cáo thẩm định cho vay.

Trên cơ sở kết quả thẩm định theo các nội dung trên, CBTD phải lập báo cáo thẩm định cho vay. Những món vay vượt thẩm quyền của Chi nhánh thì gửi hồ sơ  trình Trung ương. CBTD cùng lãnh đạo phòng xem xét khả năng nguồn vốn và điều kiện thanh toán của Chi nhánh để phê duyệt khoản vay. Ký kết hợp đồng, hợp đồng bảo đảm tiền vay, giao nhận giấy tờ và TSBĐ sau đó giải ngân.

Trong quá trình giải ngân, mỗi hợp đồng doanh nghiệp có thể rút vốn làm nhiều lần, mỗi lần phải lập giấy nhận nợ. Cán bộ tín dụng giám sát việc rút vốn vay từng lần của khách hàng để đảm bảo vốn rút ra đúng nội dung yêu cầu chi trả của khách hàng và phù hợp với mục đích vay, vào hồ sơ theo dõi và tiến hành định kỳ hạn nợ cho từng khoản rút vốn theo điều kiện vay. Khi phát tiền kỳ sau, cán bộ tín dụng kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng món tiền kỳ trước đồng thời thường xuyên bám sát tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng để sớm phát hiện những lệch lạc trong sử dụng vốn vay, những khó khăn mà khách hàng gặp phải để có cơ hội cố vấn tốt cho khách hàng vượt qua và bảo vệ được vốn đã cho vay, tránh rủi ro. Trong trường hợp cần thiết thì thu ngay vốn đã phát cho vay, quản lý chặt tài sản, hàng hoá bảo đảm thế chấp, cùng khách hàng tìm biện pháp vượt khó khăn. Khi khả năng thanh toán đã được tái lập bình thường, cán bộ tín dụng báo cáo ban lãnh đạo xét cho sử dụng tiếp số vốn đã ký cho vay. Ngân hàng cũng có thể ngừng phát tiền vay nếu doanh nghiệp không rút vốn trong thời hạn ghi trên hợp đồng.

Bước 2: Kiểm tra, giám sát trong khi cho vay, CBTD phải đôn đốc người vay sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả số tiền vay, hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn, đồng thời thực hiện các biện pháp thích hợp nếu người vay không thực hiện đầy đủ, đúng hạn các cam kết.

Trong giai đoạn này, cán bộ tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay, cùng kế toán viên theo dõi kỳ hạn nợ, chủ động lập giấy thu nợ. Bằng việc xem xét các báo cáo tài chính định kỳ của doanh nghiệp, nếu thấy có vấn đề, cán bộ tín dụng có kiến nghị để doanh nghiệp kịp thời xử lý.

 Trong trường hợp khách hàng gặp khó khăn, cần được gia hạn nợ, cán bộ tín dụng lập tờ trình xin gia hạn, nếu được duyệt thì thông báo cho khách hàng. Các nguyên nhân để ngân hàng phải gia hạn nợ bao gồm các nguyên nhân khách quan như biến động thị trường, các nguyên nhân bất khả kháng và cả các nguyên nhân chủ quan chưa tính toán chính xác khả năng trả nợ của doanh nghiệp.

Bước 3: Thanh lý hợp đồng tín dụng: Khi khách hàng trả hết nợ, CBTD tiến hành đối chiếu, kiểm tra về số tiền trả nợ gốc, lãi, phí… để tất toán khoản vay. Khi bên vay yêu cầu, CBTD soạn thảo biên bản thanh lý hợp đồng trình Trưởng phòng tín dụng kiểm soát và trình lãnh đạo ký biên bản thanh lý.

Giải chấp tài sản bảo đảm: CBTD kiểm tra tình trạng giấy tờ, tài sản thế chấp, cầm cố; lập biên bản giao trả tài sản bảo đảm nợ vay trình Trưởng phòng tín dụng kiểm soát, trình lãnh đạo ký.

2.2.2 Khách hàng vay của NHNo&PTNT Việt Nam 

Hiện nay cơ cấu khách hàng vay của NHNo&PTNT Việt Nam  như sau:

Bảng 2.3: Cơ cấu khách hàng theo Dư nợ

Đơn vị tính: %.

Thành phần KT Năm 2005 % tăng, giảm  (+,-) so  năm 2004 Năm 2006 % tăng, giảm(+,-) so với năm 2005 Năm 2007 %tăng, giảm (+,-) so với năm 2006
DNNN. 11,1 -24,4% 11,1 0% 8 – 27,9%
DNNQD. 29,2 +56,6% 31,7 +8,6% 36.3 + 14,5%
Hộ sản xuất 59,4 +8,8% 56,9 – 4,2% 55,5 – 2,5%
Hợp tác xã 0,3 -19,2% 0,3 0% 0,3 0%

Nền khách hàng của NHNo&PTNT Việt Nam hiện nay có thể nói là không thực sự đa dạng, chủ yếu tập trung vào các hộ sản xuất hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ. NHNo&PTNT Việt Nam đã và đang khẳng định nông nghiệp nông thôn là thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng cho vay khu vực kinh tế tư nhân. Trong tổng dư nợ, toàn bộ khu vực nông thôn chiếm trung bình hơn 70% dư nợ cho vay, hộ sản xuất chiếm 55,5 tổng dư nợ. Đến cuối năm 2006, ngân hàng đã đầu tư cho hơn 9 triệu hộ với số vốn xấp xỉ 105 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 57% tổng dư nợ. Tuy nhiên, sang năm 2007, tỷ trọng này giảm xuống còn 55,5% tổng dư nợ. Cho vay Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng mạnh từ 31,7% năm 2006 lên 36,3% năm 2007. Khách hàng doanh nghiệp ngoài quốc doanh của NHNo&PTNT Việt Nam chủ yếu thuộc những ngành kinh tế mũi nhọn. Những khách hàng này thường sử dụng những dịch vụ khép kín cho ngân hàng và thời gian vay vốn của họ thường đa dạng bao gồm ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Hiện nay cơ cấu tiền vay tại NHNo&PTNT Việt Nam như sau: 60,3% dư nợ là vay vốn ngắn hạn. 39,7% dư nợ là vay vốn trung dài hạn phục vụ đầu tư. 

Bảng 2.4: Cơ cấu khách hàng tổ chức theo ngành nghề

Ngành nghề. Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tỷ lệ % trên tổng dư nợ % tăng, giảm  (+,-) so  năm 2004 Tỷ lệ % trên tổng dư nợ % tăng, giảm (+,-) so  năm 2005 Tỷ lệ % trên tổng dư nợ % tăng, giảm  (+,-) so  năm 2006
Nông lâm nghiệp và thuỷ sản 50,6 +12,7% 30 -40,7% 23 – 23,3%
Sản xuất và chế biến 12,7 +11,6% 10 -21,2% 10 0%
Thương mại và dịch vụ 20,6 +53,3% 24 +16,5% 30 +25%
Xây dựng 12,6 +64,7% 15 +19% 16 +6,6%
Ngành khác 3,5 -67,5% 21 +500% 21 0%
Tổng cộng 100   100   100  
               

Nguồn: NHNo&PTNT Việt Nam.

Phân theo các lĩnh vực của nền kinh tế có năm nhóm chính: Nông lâm nghiệp và thủy sản; Sản xuất và chế biến; Thương mại và dịch vụ; Xây dựng; Các ngành khác. NHNo&PTNT Việt Nam cho vay các ngành dịch vụ trung dài hạn chủ yếu tập trung vào cho vay kinh doanh bất động sản, khách sạn, nhà hàng… Trong lĩnh vực thương mại  và dịch vụ nước ta còn có điều kiện phát triển như những năm qua thì tỷ lệ cho vay của đối với lĩnh vực này cao: năm 2005 tăng 53,3% so với năm 2004, như vậy cũng là hợp lý do NHNo&PTNT Việt Nam là một trong các ngân hàng Thương mại quốc doanh hoạt động hiệu quả và có mạng lưới các chi nhánh lớn nhất ở Việt Nam nên việc nhạy cảm với tình hình kinh tế nói chung là điều dễ hiểu. Tuy nhiên có thể thấy rằng cùng với sự tăng lên tỷ trọng của ngành Thương mại và dịch vụ trong cơ cấu khách hàng tổ chức theo ngành nghề thì tỷ lệ cho vay của NHNo&PTNT Việt Nam đối với nhóm ngành Nông lâm nghiệp và thuỷ sản cũng đã giảm từ 30% (năm 2006) xuống còn 23% (năm 2007). Ngành Sản xuất và chế biến cũng giảm dần tỷ trọng trong tổng dư nợ.

Đối với khu vực ngành xây dựng chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng cũng tăng đều trong những năm qua là do sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các ngân hàng khác và cũng một phần do định hướng trong chính sách của Nhà nước ta đối với các ngân hàng thương mại. Ví dụ như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã gắn liền với thị trường cho vay ngành xây dựng từ khi thành lập đến nay.

Bảng 2.5: Cơ cấu khách hàng theo vùng kinh tế năm 2007

Đơn vị: tỷ đồng

Khu vực Số dư Tăng so đầu năm Tốc độ tăng trưởng
Khu vực miền núi cao – Biên giới 8.140 1.572 23,9%
Khu vực Trung du Bắc bộ 17.036 3.595 26,7%
Khu vực thành phố Hà Nội 29.176 8.610 41,8%
Khu vực đồng bằng sông Hồng 31.155 7.563 32,1%
Khu vực Khu 4 cũ 16.558 3.107 23,1%
Khu vực Duyên hải Miền trung 17.037 2.957 21,0%
Khu vực Tây Nguyên 17.104 4.707 38,0%
Khu vực thành phố Hồ Chí Minh 46.676 17.821 61,8%
Khu vực Đông Nam Bộ 23.104 4.795 26,2%
Khu vực Tây Nam Bộ 36.196 5.775 19,0%
Tổng cộng 242.180 60.500 33,3%

Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh NHNo&PTNT Việt Nam

Tình hình tiền tệ – tín dụng trong những năm qua không có biến động lớn nhưng nói chung sang năm 2007 sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại về tín dụng khốc liệt hơn, tốc độ tăng trưởng dư nợ chủ yếu là ở 2 thành phố lớn là Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đạt ở mức 41,8% và 61,8%  tổng dư nợ. Các Chi nhánh trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam đã có nhiều dự án đồng tài trợ để cùng chia sẻ rủi ro và nguồn vốn cho vay do đó đã có sự hợp tác nhất định để cùng phát triển. NHNo&PTNT Việt Nam đã có những chính sách để nâng cao vị thế của mình. Tận dụng được lợi thế về mạng lưới rộng, có Chi nhánh đặt tại tất cả các khu vực trong cả nước, Ngân hàng đã mở rộng được phạm vi hoạt động, đưa ra những chính sách khách quan nhằm khuyến khích các đơn vị vay vốn lớn, làm ăn có hiệu quả về mở tài khoản và đặt quan hệ tín dụng với ngân hàng trên cơ sở các chính sách của NHNN và NHN0& PTNT Việt nam. Chính sách khách hàng luôn thay đổi phù hợp vơí cơ chế thị trường, đổi mới phong cách phục vụ nhằm giữ khách hàng cũ, khách hàng truyền thống và mở rộng quan hệ với khách hàng mới. Áp dụng chính sách lãi suất linh  hoạt đối với từng đối tượng khách hàng, giảm chi phí thanh toán, phục vụ chứng từ giao dịch trực tiếp và thu tiền mặt tại đơn vị, thay đổi thủ tục bảo lãnh, thủ tục vay nhằm thuận tiện cho khách hàng mà vẫn đảm bảo an toàn vốn tín dụng.

2.2.3 Doanh số cho vay.

Bảng 2.6: Các chỉ tiêu tín dụng

    Đơn vị (Tỷ đồng).

Chỉ tiêu. Năm 2005 Tăng trưởng so với 2004 Năm 2006 Tăng trưởng so với 2005 Năm 2007 Tăng trưởng so với 2006 Tỷ trọng trong dư nợ.
2005 2006 2007
Tổng dư nợ tín dụng. 161.106 13,4% 181.679,5 12,7% 242.180,1 33,3%      
Ngắn hạn. 90.847 14,2% 106.274 17% 145.995 37,3% 56,4% 57% 60,3%
Trung, dài hạn 70.259 11,9% 80.056 13,9% 96.185 20,2% 43,6% 43% 39,7%

Nguồn: NHNo&PTNT Việt Nam

Cùng với tốc độ tăng trưởng doanh số tín dụng cao qua các năm, dư nợ cho vay DAĐT trung dài hạn cũng có những bước tăng trưởng đáng kể, đặc biệt là các DAĐT thương mại phục vụ sản xuất kinh doanh. Việc doanh số cho vay và dư nợ tín dụng năm sau luôn cao hơn năm trước đã chứng tỏ các chính sách mới của chính phủ trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước cũng như các bộ luật có liên quan đến hoạt động đầu tư như luật doanh nghiệp, luật đầu tư đã và đang dần đi vào cuộc sống, ngày một hoàn chỉnh và phù hợp với thông lệ quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội mở rộng thị trường và hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả dẫn đến hoạt động của các ngân hàng cũng từng bước đi tới ổn định và phát triển.

Trong  cho vay trung và dài hạn NHNo&PTNT Việt Nam  đã chú trọng đầu tư vào các ngành các lĩnh vực có xu hướng phát triển mạnh, các sản phẩm dịch vụ có ưu thế cạnh tranh cao. Do đó các dự án dầu tư đều phát huy hiệu quả, khách hàng đã mở rộng và nâng cao năng lực sản xuất, đưa ra thị trường nhiều sản phảm dịch vụ mới, có uy tín trong cạnh tranh. Dư nợ cho vay DAĐT  trung dài hạn tập trung chủ yếu vào một số ngành kinh tế lớn như: ngành thuỷ sản, mía đường, xi măng, điện lực, bất động sản. Năm 2005, dư nợ trung và dài hạn của ngành thuỷ sản chiếm 26,5% dư nợ thuỷ sản. Các ngành khác như mía đường, xi măng, điện lực cũng chiểm tỷ lệ lớn trong tổng dư nợ. Riêng ngành điện, NHNo & PTNT Việt Nam đã có văn bản cam kết từ năm 2006-2010 sẽ dành 8.000tỷ đồng đầu tư cho các dự án sản xuất điện do Tổng công ty điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư, mà trọng điểm là các dự án Sơn La, Buôn Tua Sarh, Sê San 4, Huội Quảng. Tổng số vốn NHNo & PTNT Việt Nam tham gia đầu tư cho ngành điện là 14.500 tỷ đồng. Năm 2006 và năm 2007, dư nợ cho vay trung, dài hạn chiếm tối đa 50% tổng dư nợ các ngành kinh tế lớn. Riêng cho vay bất động sản, dư nợ cho vay DAĐT  trung dài hạn chiếm 80,8% tổng dư nợ của ngành.

Qua biểu đồ trên ta thấy dư nợ tín dụng trung và dài hạn đã không ngừng tăng trưởng qua các năm. Năm 2005, dư nợ cho vay DAĐT  trung dài hạn là 70.259 tỷ đồng, năm 2006 đạt 80.056 tỷ đồng, năm 2007 đạt 96.185 tỷ đồng. Như vậy mức dư nợ bình quân trong ba năm qua đạt hơn 82.000 tỷ đồng. NHNo&PTNT Việt Nam đã tập trung cho vay DAĐT  trung dài hạn vào các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau; từ lĩnh vực thương mại, sản xuất, dịch vụ tới những lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng. NHNo&PTNT Việt Nam đã có nhiều đổi mới trong cho vay trung và dài hạn như xác định mức tín dụng cho từng doanh nghiệp, phân loại doanh nghiệp, đầu tư các dự án có hiệu quả. Ngân hàng đã cẩn trọng khi xem xét quyết định cho vay, qua phân tích tài chính, phân tích dự án, đánh giá năng lực khách hàng, phân tích những tiềm ẩn rủi ro, mới quyết định đầu tư vốn hay từ chối cho vay.

Nhìn chung công tác cho vay DAĐT trung và dài hạn của NHNo&PTNT Việt Nam  trong ba năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể, thu hút được nhiều Tổng công ty, doanh nghiệp lớn sản xuất kinh doanh ổn định, hiệu quả đến với Ngân hàng. Đó là kết quả của chính sách tín dụng hiệu quả kết hợp với chính sách nguồn vốn đa năng.

2.2.4. Cơ cấu cho vay DAĐT  trung và dài hạn 

Thực hiện chính sách đa năng tổng hợp trong kinh doanh, Ngân hàng đã không ngừng mở rộng hoạt động cho vay, đặc biệt là hình thức cho vay trung và dài hạn. Số liệu về cho vay trung, dài hạn của NHNo&PTNT Việt Nam ba năm gần đây nhất cho chúng ta thấy NHNo&PTNT Việt Nam đã không ngừng nỗ lực đẩy mạnh thời hạn cho vay dài hơn đối với các thành phần kinh tế góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hiện tại, hai nhóm khách hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu cho vay DAĐT  trung và dài hạn là nhóm khách hàng hộ nông dân và kinh doanh cá thể và nhóm khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tỷ trọng lớn tiếp theo sau hai nhóm khách hàng trên là nhóm doanh nghiệp Nhà nước, và cuối cùng là các nhóm khách hàng khác.

Đối với nhóm khách hàng là hộ nông dân và kinh doanh cá thể thì tỷ lệ cho vay trong tổng dư nợ cho vay dự án trung và dài hạn có sự tăng giảm không ổn định qua các năm. Ví dụ: Năm 2002 tỷ lệ là 34%; năm 2005 là 31%; năm 2007 là 26%. Tuy nhiên, nhóm khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh lại có tỷ lệ cao, tăng đều và ổn định qua các năm

Bảng 2.7: Cho vay các DNNQD trong tổng dư nợ cho vay DAĐT trung và dài hạn

Đơn vị tính:  triệu  đồng

Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Dư nợ DAĐT trung và dài hạn 25.276 54.681 64.104 70.351 62.098 71.209
Dư nợ DNNQD 2.565 8.387 12.927 17.252 17.387 22.787
Tỷ lệ % 10% 15% 20% 25% 28% 32%

Nguồn: Báo cáo tài chính NHNo&PTNT Việt Nam

Nhóm khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong những năm gần đây được NHNo&PTNT Việt Nam đầu tư khá nhiều. Những năm gần đây, NHNo&PTNT Việt Nam đã duy trì và phát triển tốt mối quan hệ hợp tác với các Tập đoàn và Tổng công ty lớn (Điện lực, LILAMA, xăng dầu, Cà phê, Lương thực,  Sông Đà, VinaShin…) thực hiện ký kết hợp đồng tín dụng đầu tư nhiều dự án với hình thức đồng tài trợ hoặc đầu tư độc lập.

Nguyên nhân sự vượt trội của các khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thể nêu ở một vài điểm sau:

  • Thứ nhất, các Tập đoàn và Tổng công ty lớn là những ngành kinh tế trọng điểm, khả năng sinh lời cao, dự án hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội.
  • Thứ hai, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang là thị trường tài chính đầy tiềm năng. Quy mô của các doanh nghiệp thuộc loại này đã được mở rộng. Rất nhiều các công ty tư nhân hoạt động theo mô hình Công ty mẹ, Công ty con với những lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh riêng biệt. Trong mấy năm gần đây, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thực sự là khu vực kinh tế năng động và hiệu quả
  • Thứ ba, trong những năm tới, khu vực kinh tế này được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển cả về lĩnh vực hoạt động và quy mô. Ngoài ra, với sự khuyến khích và tăng cường công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước thì khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sẽ trở thành thị trường cho vay hấp dẫn đối với NHTM.

Như vậy, cũng trong tình hình chung của các Ngân hàng Thương mại, cơ cấu cho vay trung và dài hạn của hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam có xu hướng lệch hẳn về các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Ngân hàng đã phát huy lợi thế của mình, có chính sách khách hàng phù hợp nên đã tăng cường được mối quan hệ tín dụng tốt đẹp với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, Ngân hàng cũng không xem nhẹ các thành phần kinh tế khác. Điều này thể hiện ở doanh số cho vay trung và dài hạn với các thành phần kinh tế khác vẫn tăng tiếp tục tăng trong những năm qua.

2.2.5. Nợ quá hạn về cho vay trung và dài hạn.

            Kinh doanh tiền tệ là hoạt động chứa nhiều rủi ro trong hoạt động kinh tế. Đối với Ngân hàng Thương mại, hiệu quả tín dụng bị suy giảm khi khách hàng không trả được nợ gốc và lãi đúng hạn. Từ sau năm 1995, các Chi nhánh trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam đã có nhiều đổi mới trong hoạt động tín dụng. Từ hoạt động mang tính nửa bao cấp, nửa kinh doanh chuyển sang hoạt động kinh doanh đa năng tổng hợp, NHNo&PTNT Việt Nam  phải chịu trách nhiệm quản lý, giám sát việc sử dụng vốn vay. Vì vậy, đối với bản thân NHNo&PTNT Việt Nam mục tiêu an toàn hiệu quả của công tác cho vay luôn được đặt lên hàng đầu. Đến nay, hiện tượng mất vốn tại NHNo&PTNT Việt Nam gần như không còn tồn tại, nợ quá hạn luôn ở mức thấp.

Bảng 2.8 : Phân loại dư nợ theo nhóm của tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đến 11/ 2007

Chỉ tiêu Dư nợ cho vay (triệu đồng)
Nợ đủ tiêu chuẩn 193.216.580
Nợ cần chú ý 32.472.985.
Nợ dưới tiêu chuẩn 10.027.280
Nợ nghi ngờ 3.911.467
Nợ có khả năng mất vốn 5.446.636
Tổng cộng 245.254.948

Nguồn: NHNo&PTNT Việt Nam

  • Năm 2006, Tổng dư nợ xấu 3503 tỷ đồng, giảm so với năm 2005 là 187 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,8%/ tổng dư nợ, giảm 0,24% so với năm trước; trong đó nợ nhóm 5: 1.546 tỷ, nhóm 4: 617 tỷ, nhóm 3: 1.294 tỷ đồng
  • Số đã trích dự phòng rủi ro năm 2006 là: 4.098,9 tỷ, trong đó:
  • Chi nhánh đã trích và chuyển về Trụ sở chính: 3.975tỷ đồng
  • Đã xử lý rủi ro năm 2006 là: 3.761 tỷ đồng
  • Thu nợ sau xử lý rủi ro: 666 tỷ đồng, đạt 61% so kế hoạch nhưng quá thấp so với số đã được xử lý.
  •  Tình hình nợ quá hạn về cho vay DAĐT  trung và dài hạn như sau:

Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ nợ xấu qua các năm

      Tỷ lệ nợ xấu cho vay DAĐT  trung dài hạn của NHNo&PTNT Việt Nam năm ở mức thấp (1,9%) là do ngân hàng đã bám sát các đơn vị, thực hiện tốt khâu thẩm định, duy trì tốt các hoạt động kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay. Với phương châm mở rộng cho vay trung, dài hạn với những bộ phận khách hàng mang tính chiến lược; thu hút những khách hàng lớn, tài chính lành mạnh, kinh doanh hiệu quả, có khả năng trả nợ để đầu tư và loại dần những khách hàng làm ăn kém hiệu quả vì vậy trong năm 2007, hiệu quả cho vay DAĐT  trung dài hạn của NHNo&PTNT Việt Nam đã tăng lên rõ rệt. Hầu hết các món vay trong năm 2006 và năm 2007 đều thu nợ được. Nợ quá hạn của những món vay mới phát sinh rất ít và đều thu được. Điều này được thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu giảm từ 2,3% (năm 2005) xuống còn 1,9% (năm 2007)

            Tuy nhiên, với những món cho vay từ những năm trước, khả năng thu hồi nợ quá hạn gặp rất nhiều khó khăn do các đơn vị có nợ quá hạn loại này làm ăn cầm chừng, thua lỗ, vật tư đảm bảo cho các món vay hầu hết là không đủ giá trị đảm bảo cho khoản vay. Nhiều Chi nhánh có tỷ lệ dư nợ cho vay bất động sản chiếm tỷ trọng cao (Chi nhánh Nam Sài Gòn 62%, Chi nhánh 8 là 61%, Đông Sài Gòn 49%, Nhà Bè 65,7% (số liệu tháng 9/2006). Trong đó, tiến độ thực hiện dự án của một số khoản vay rất chậm, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn (khoản vay của Công ty TNHH Nam Cường, Him Lam…)

            Một số doanh nghiệp do cơ chế, chính sách thay đổi dẫn đến khả năng trả nợ khó khăn vì không có nguồn thu. Đối với các Doanh nghiệp này, nguồn thu chủ yếu là dựa vào việc xử lý tài sản thế chấp. Tuy nhiên, hiện nay việc xử lý tài sản thế chấp gặp rất nhiều khó khăn, cần phải có sự tác động, ủng hộ, giúp đỡ của nhiều cấp, nhiều ngành.

2.2.6 Nguồn vốn NHNo&PTNT Việt Nam huy động để cho vay DAĐT  trung và dài hạn

Để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư trung và dài hạn, NHNo&PTNT Việt Nam đã tập trung và huy động từ nhiều nguồn khác nhau. Trong các nguồn này thì vốn tự có là một trong những nguồn hình thành để các NHTM cho vay trung, dài hạn. Đây là nguồn vốn ổn định, an toàn nhất nhưng lại quá nhỏ bé so với nhu cầu vay vốn của toàn bộ nền kinh tế. Đối với NHNo&PTNT Việt Nam cũng vậy, bước đầu thành lập NHNo&PTNT Việt Nam được cấp vốn điều lệ ban đầu 2.200 tỷ đồng, đến nay NHNo & PTNT Việt Nam có số tự có 19.647 tỷ (năm 2007). Đây là con số khá lớn nhưng không phải vốn tự có đó có thể tập trung toàn bộ để cho vay trung, dài hạn mà còn phải đảm bảo các chức năng hoạt động khác của ngân hàng, trong đó chỉ riêng việc mua sắm tài sản cố định đã có thể chiếm khá nhiều vốn tự có của ngân hàng.  Vấn đề đặt ra là, hiện nay có những doanh nghiệp, công ty mà vốn hoạt động đã hàng nghìn tỷ đồng. Khi cho vay các doanh nghiệp này, khách hàng và ngân hàng vẫn phải chấp hành điều 79 của luật các TCTD là tổng dư nợ đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của NHTM. 

Bảng 2.9: Cơ cấu nguồn vốn

Đơn vị tính: tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2005 Tỷ trọng so với tổng nguồn Năm 2006 Tỷ trọng so với tổng nguồn Năm 2007 Tỷ trọng so với tổng nguồn
Tổng nguồn 190.657,2   233.900,5   295.047,8  
Tiền gửi khách hàng 181.388,6 95% 203.369,6 91% 269.944,7 91%
Không kỳ hạn và dưới 12 tháng 106.952,9 56% 100.602,1 45% 127.868,1 43%
Từ 12 tháng trở lên 74.435,7 39% 102.767,5 46% 142.076,6 48%

Nguồn: Báo cáo tăng trưởng nguồn vốn NHNo & PTNT Việt Nam

 Ba năm gần đây NHNo&PTNT Việt Nam luôn có tỷ trọng tiền gửi ở mức trên 90% tổng nguồn vốn, tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức trên 39% /năm và tăng đều qua các năm: từ 39% (năm 2005) lên 46% (năm 2006), 48% (năm 2007). Điều này cho thấy khả năng huy động vốn của NHNo&PTNT Việt Nam và sự tin tưởng của khách hàng gửi tiền. Tiền gửi không kỳ hạn và dưới 12 tháng giảm dần qua các năm, tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên tăng làm cho cơ cấu nguồn vốn và lãi suất ổn định giúp cho ngân hàng tránh được rủi ro về lãi suất, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cơ cấu vốn sử dụng để cho vay DAĐT  trung và dài hạn.

2.4 Đánh giá thực trạng hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn.

2.4.1 Những kết quả đạt được

Hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT Việt Nam đã bắt đầu có sự tăng trưởng theo một định hướng đầu tư mới, đó là đầu tư trọng điểm cho các DAĐT  trung dài hạn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đối với ngân hàng thương mại nói chung và NHNo & PTNT Việt Nam nói riêng, quản lý tốt các khoản vốn vay là vấn đề được coi trọng hàng đầu vì nhờ đó ngân hàng mới giảm được rủi ro, bảo toàn được vốn và mở rộng tín dụng. NHNo & PTNT Việt Nam đã áp dụng một loạt các biện pháp để hạn chế rủi ro và xử lý rủi ro trên cơ sở thực hiện nghiêm túc quy trình tín dụng, từ khâu tìm kiếm khách hàng, thẩm định khách hàng, quyết định cho vay đến khâu thu nợ… được áp dụng trong điều kiện cụ thể của ngân hàng. Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng thực hiện phương châm đầu tư thận trọng, có hiệu quả về mặt kinh tế xã hội, đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng phải phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế đã được định hướng trong chính sách tín dụng của chính sách tài chính quốc gia trong từng thời kỳ. Vốn cho vay DAĐT  trung và dài hạn của NHNo & PTNT Việt Nam được đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Hiệu quả cho vay DAĐT  trung và dài hạn là một chỉ tiêu có tính tương đối và khá trìu tượng. Các khoản tín dụng trung và dài hạn được coi là hiệu quả khi nó thoả mãn được nhu cầu của Ngân hàng, khách hàng và phù hợp với nền kinh tế hiện tại. Đối với NHNo & PTNT Việt Nam, hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn còn thể hiện ở sự đóng góp vốn trung và dài hạn vào các mục tiêu chung của nền kinh tế nhằm tạo công ăn việc làm, tiết kiệm ngoại tệ… Đây là chỉ tiêu khó đánh giá về mặt định lượng.

Trong những năm qua tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng đã thực hiện một loạt các biện pháp được triển khai nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT  trung dài hạn:

  • – Thực hiện phân lọai nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo Quyết định 493/2005 – QĐ – NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo hướng bám sát thông lệ quốc tế
  • – Tăng cường công tác giáo dục cho cán bộ nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, thường xuyên tiến hành kiểm tra, kiểm soát hoạt động tín dụng. Ngân hàng lựa chọn những CBTD tinh thông nghề nghiệp, nhiệt tình công tác vào những công trình trọng điểm, để giúp đỡ và tư vấn cho doanh nghiệp được vay vốn nhanh chóng, sớm đưa các công trình vào sản xuất kinh doanh, manh lại lợi ích cho cả Ngân hàng và khách hàng.
  • – Coi trọng phân tích khách hàng, kiên quyết chỉ đầu tư dự án khả thi, có hiệu quả. Ngân hàng đẩy mạnh hoạt động tín dụng trung và dài hạn phục vụ cho công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước theo hướng kết hợp nhiều hình thức cho vay bằng nhiều loại vốn, tìm kiếm các dự án có hiệu quả và chú trọng các dự án trọng điểm trong các chương trình phát triển kinh tế của các bộ ngành.
  • – Nâng cao chất lượng thông tin, báo cáo và dự báo rủi ro trong hoạt động tín dụng
  • – Tổ chức ký kết và triển khai thoả thuận hợp tác toàn diện với Hiệp hội DNN&V Việt Nam và một số Doanh nghiệp về Đầu tư cho phát triển DNN&V Việt Nam. Chủ động đẩy mạnh hoạt động tiếp cận khách hàng nên số lượng  khách hàng có quan hệ với NHNo & PTNT Việt Nam tăng nhanh (năm 2007 có 23.480 khách hàng là doanh nghiệp quan hệ tín dụng, tăng 1.459 doanh nghiệp so với năm 2006). Tính đến năm 2007 đã có nhiều dự án cho vay trung và dài hạn đã và đang hoạt động tốt, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. NHNo & PTNT Việt Nam đã xử lý dứt điểm nợ tồn đọng, tăng cường giám sát các khoản cho vay, nâng tỷ trọng cho vay bằng tài sản và kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo an toàn, hiệu quả.
  • – Đối với mọi dự án đầu tư, NHNo&PTNT Việt Nam đều thực hiện nghiêm túc việc lập hồ sơ xét duyệt cho vay, thẩm định dự án, phân tích tín dụng, phát hiện rủi ro tiềm ẩn, loại trừ dự án kém hiệu quả và thực hiện các bước kiểm tra, đảm bảo mỗi khoản vay đều có người chịu trách nhiệm, nhưng mức độ khác nhau.
  • – Ngân hàng thường xuyên bám sát mọi hoạt động của doanh nghiệp, hướng dẫn đơn vị lập hồ  sơ vay vốn, tổ chức giao dịch một cửa, tránh mọi phiền hà cho doanh nghiệp trong quan hệ vay vốn,
  • – Để tạo nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn, Ngân hàng đã khai thác triệt để nguồn vốn huy động, tăng tỷ trọng vốn trung dài hạn thông qua việc phát hành trái phiếu, tăng tiền gửi và tiền tiết kiệm dài hạn trong dân cư, khai thác nhiều nguồn tài trợ trung dài hạn của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế……
  • – Ngân hàng thay đổi cơ cấu cho vay trung và dài hạn, chủ yếu hướng vào các ngành công nghệ cao, công nghệ mũi nhọn, phục vụ cho phát triển kinh tế. NHNo & PTNT Việt Nam đã có định hướng chiến lược kinh doanh đúng đắn phù hợp với chính sách tiền tệ của Đảng và Nhà Nước, do đó công tác tín dụng trung và dài hạn đã đáp ứng nhu cầu bức thiết của nền kinh tế và bản thân Ngân hàng. NHNo & PTNT Việt Nam đã thực sự trở thành bạn hàng đáng tin cậy của các doanh ngiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Ngân hàng hoạt động với phương châm “Mang phồn thịnh đến với khách hàng“, xây dựng uy tín và niềm tin giữa khách hàng và Ngân hàng.

2.4.2  Tồn tại và chưa hiệu quả trong cho vay DAĐT trung và dài hạn

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong hoạt động cho vay DAĐT  trung và dài hạn còn tồn tại và chưa hiệu quả trong cho vay DAĐT trung và dài hạn cần phải giải quyết như sau:

Một là, tăng trưởng nguồn vốn trung và dài hạn. Nguồn vốn tự có của ngân hàng không đủ để dùng cho vay DAĐT  trung dài hạn. Việc tăng trưởng nguồn vốn nhất là trung hạn và dài hạn trong dân cư và huy động từ nguồn tiền gửi của khách hàng vẫn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, là khâu mở đường cho hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Việt Nam. Để huy động vốn thì phải đảm bảo lợi ích cho người gửi có lãi suất huy động cao, nhưng cho vay DAĐT  trung và dài hạn cũng với lãi suất cao thì doanh nghiệp không chấp nhận được. Đây là vấn đề khó khăn tạo sức ép đối với Ngân hàng trong kinh doanh.

            Hai là, công tác đánh giá phân loại khách hàng, phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính của khách hàng còn chưa được thường xuyên và quan tâm đúng  mức để từ đó đưa ra những chính sách tín dụng phù hợp, kịp thời. Việc chuyển dịch cơ cấu khách hàng theo thành phần kinh tế, theo ngành, lĩnh vực sản phẩm còn mang tư tưởng khách hàng truyền thống, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, đã và đang chứa đựng nhiều tiềm ẩn rủi ro. Trong cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế của NHNo & PTNT Việt Nam thì cho vay nói chung và cho vay DAĐT  nói riêng đối với những doanh nghiệp ngoài quốc doanh là quá thấp. Điều này sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng bởi lẽ với xu hướng sắp xếp lại các doanh nghiệp như hiện nay nếu mảng tín dụng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không được quan tâm đúng mức thì NHNo & PTNT Việt Nam  sẽ mất đi một lượng khách hàng không nhỏ.

Ba là, việc thực hiện các quy chế, quy trình thẩm định tài chính dự án, việc tuân thủ các hành lang pháp lý có lúc có nơi chưa nghiêm dẫn đến thiếu sót trong hồ sơ, sơ suất trong xử lý nghiệp vụ.

Bốn là, chất lượng cán bộ còn nhiều bất cập, còn thiếu kinh nghiệm trong công tác tín dụng. NHNo & PTNT Việt Nam có bề dày truyền thống về cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp nên khi cho vay các DAĐT  trung và dài hạn công tác kinh tế kỹ thuật và tư vấn đầu tư của cán bộ tín dụng thực hiện chưa được tốt. Việc phân tích đúc rút kinh nghiệm về tín dụng đầu tư còn quá ít, chưa có tính thống nhất, chưa ngang tầm với yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động. Có lúc ở từng bộ phận, do chưa nhận thức đầy đủ về tăng trưởng, buông lỏng điều kiện tín dụng là tăng nguy cơ tiềm ẩn rủi ro.

            Năm là, hệ thống thông tin tín dụng còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến công tác quản lý, điều hành và việc cập nhật thông tin phục vụ cho công tác thẩm định, nên khả năng nghiên cứu, đánh giá khách hàng, dự báo tình hình tín dụng còn yếu, bị động, có lúc còn bị lỡ cơ hội. Việc phối hợp, tìm hiểu thông tin về khách hàng giữa các Ngân hàng trong và ngoài hệ thống chưa tốt, dẫn đến tình trạng không kiểm soát được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là nguyên nhân chứa đựng nhiều tiềm ẩn rủi ro.

              Sáu là, hệ thống kiểm soát chưa hiệu quả. Việc phân tích đánh giá thực trạng tín dụng chưa được thực hiện triệt để, chưa phản ánh chính xác chất lượng,  nhất là khối các doanh nghiệp xây lắp và những đơn vị có những khoản nợ tồn đọng, sản phẩm dở dang lớn; chưa kiên quyết trong công tác xử lý tồn đọng, nợ xấu.

2.3.8. Các nguyên nhân của tồn tại và chưa hiệu quả cho vay dự án trung và dài hạn.

2.3.8.1.Nguyên nhân từ phía ngân hàng.

Về tăng trưởng nguồn vốn trung và dài hạn: nguồn vốn dùng để cho vay DAĐT  trung dài hạn chưa có tính ổn định. Vốn tự có là một trong những nguồn hình thành để các NHTM cho vay trung, dài hạn. Đây là nguồn vốn ổn định, an toàn nhất nhưng lại quá nhỏ bé so với nhu cầu vay vốn của toàn bộ nền kinh tế. Ngân hàng hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn huy động. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên lại chiếm tỷ trọng không cao làm ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay DAĐT  trung và dài hạn.

Về công tác đánh giá phân loại khách hàng, phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính của khách hàng còn chưa được thường xuyên và quan tâm đúng  mức để từ đó đưa ra những chính sách tín dụng phù hợp, kịp thời: Nguyên nhân do ngân hàng thường quan niệm rằng, những doanh nghiệp quen thuộc, nên không cần giám sát chặt chẽ và giải quyết cho vay chỉ dựa vào những thông tin do doanh nghiệp cung cấp, thay cho những số liệu đáng tin cậy. Tính khả thi của dự án và hiệu quả của khoản vay chưa trở thành mục tiêu tôn chỉ trong hoạt động tín dụng.

Về việc thực hiện các quy chế, quy trình thẩm định tài chính dự án, việc tuân thủ các hành lang pháp lý có lúc có nơi chưa nghiêm dẫn đến thiếu sót trong hồ sơ, sơ suất trong xử lý nghiệp vụ: Nguyên nhân do ngân hàng chưa có cơ chế thích hợp trong việc thẩm định và xét duyệt cho vay, cũng như xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng. Hoạt động phân tích ngành, phân tích đánh giá thị trường để xây dựng cơ cấu đầu tư tín dụng còn yếu, chưa chủ động xây dựng chiến lược cụ thể về đầu tư tín dụng cho từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế.

Về chất lượng cán bộ còn nhiều bất cập, còn thiếu kinh nghiệm trong công tác tín dụng: Nguyên nhân do trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm của một số cán bộ chưa cao, nhất là kiến thức về phân tích ngành, thị trường, thẩm định DAĐT  trung và dài hạn. Cán bộ tín dụng của NHNo & PTNT Việt Nam  còn thiếu kinh nghiệm, không lường hết được rủi ro hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nên chưa thật sự chú ý tới khâu kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng tại đơn vị. NHNo & PTNT Việt Nam còn thiếu cán bộ được đào tạo chuyên ngành, chuyên môn kỹ thuật để thẩm định tính khả thi, hiệu quả của dự án

Về hệ thống thông tin tín dụng còn nhiều hạn chế: Nguyên nhân hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng giữa NHNN với NHNo & PTNT Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu. Sự hợp tác, trao đổi thông tin trong việc xét duyệt cho vay và quản lý vốn vay của khách hàng vay NHNo & PTNT Việt Nam với các ngân hàng khác chưa tốt, thiếu các thông tin cần thiết, trung thực về tình trạng dư nợ, hiệu quả kinh doanh của khách hàng nên không tránh được rủi ro. Mặc dù NHNo & PTNT Việt Nam đã có phòng chuyên trách thông tin phòng ngừa rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng nhưng cho đến nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa thực sự là công cụ tốt để ngăn ngừa rủi ro, tiêu cực trong hoạt động ngân hàng

Hoạt động Marketing trong ngân hàng chưa thực sự được chú ý. Mạng lưới hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Việt Nam rộng khắp mọi miền của đất nước, từ nông thôn đến thành thị. Đối tượng cho vay của NHNo & PTNT Việt Nam không chỉ bó hẹp trong phạm vi nông nghiệp nông thôn mà NHNo & PTNT Việt Nam cho vay tất cả các đối tượng khách hàng tại các khu vực thành thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, các DAĐT  thuộc các lĩnh vực ngành nghề mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, công việc Marketing này mới chỉ đơn thuần được thực hiện dưới dạng những hoạt động bề nổi như tuyên truyền quảng cáo chứ chưa xuất phát từ thực tiễn của việc nghiên cứu nhu cầu thị trường, nắm bắt nhu cầu khách hàng để tìm cách thoả mãn nhu cầu ấy. Lâu nay, hoạt động Marketing vẫn thường được coi là nhiệm vụ của nhân viên giao dịch trong khi đây lại là nhiệm vụ của tất cả nhân viên ngân hàng. Điểm yếu này cần phải được khắc phục nhanh chóng nếu như muốn phát triển, tìm kiếm những khách hàng mới với những tiềm năng mới.

Về hệ thống kiểm soát chưa hiệu quả: Nguyên nhân do hệ thống kiểm soát chưa phát huy được tác dụng của nó. Sau khi cho vay, NHNo&PTNT Việt Nam không kiểm tra sát khách hàng để biết khách hàng sử dụng vốn có đúng mục đích, có hiệu quả hay không. Ngân hàng yên tâm với các tài sản bảo đảm cho khoản vay, trong khi các tài sản này có thể còn bị đánh giá sai lệch về mặt giá trị.

2.3.8.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng.

Khả năng của các doanh nghiệp trong việc đáp ứng các yêu cầu về chế độ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng còn thấp. Vướng mắc chủ yếu thường gặp phải là doanh nghiệp không có đủ vốn theo chế độ, không đủ tài sản thế chấp theo quy định đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, không có nhiều dự án khả thi. Để đảm bảo nguyên tắc an toàn, ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp vay vốn phải có vốn tự có tối thiểu tham gia vào dự án là 15%.

Về dự án sản xuất kinh doanh, có nhiều doanh nghiệp lập được các phương án kinh tế khá tốt nhưng do không cụ thể hoá được thành các dự án khả thi, nên cũng không được ngân hàng cho vay vốn. Khả năng quản lý và sử dụng vốn vay của doanh nghiệp còn thấp, cộng với tình trạng làm ăn thiếu trung thực thường xuyên xảy ra giữa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với nhau và với các ngân hàng, biểu hiện  ở sử dụng vốn vay không đúng mục đích, cung cấp thông tin không chính xác cho ngân hàng, lừa đảo chiếm dụng vỗn lẫn nhau là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Bên cạnh đó theo quyết định 1.300 của NHNo & PTNT Việt Nam đã quy định đối với khách hàng được vay vốn không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của NHNo & PTNT Việt Nam phải thoả mãn điều kiện: “Sử dụng vốn vay có hiệu quả và trả nợ gốc, lãi vốn vay đầy đủ trong quan hệ vay vốn với Chi nhánh NHNo&PTNT Việt Nam hoặc các tổ chức tín dụng khác; Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, phù hợp với quy định của pháp luật; Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ; Được xếp hạng tín nhiệm theo tiêu chí phân loại khách hàng của Tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt Nam. Điều này tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc vay vốn của ngân hàng để đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh. Song đối với ngân hàng, rủi ro lại càng cao vì phương án sản xuất kinh doanh dù có tốt đến đâu cũng có thể xảy ra những rủi ro, khi đó ngân hàng sẽ không có gì đảm bảo cho khoản tín dụng của mình. Thêm vào đó ngân hàng lại không có một sự hỗ trợ nào của Nhà nước khi các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng gặp rủi ro.

2.3.8.3. Nguyên nhân từ nền kinh tế

Về khả năng nguồn vốn, huy động vốn đầu tư toàn xã hội năm 2007 tăng 16,4% so với năm 2006, bằng 40,6% GDP; trong đó vốn đầu tư của khu vực dân cư và tư nhân tăng 19,5%, chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư. Cam kết vốn đầu tư nước ngoài đạt 20,3 tỷ USD (năm 2006 đạt 12 tỷ USD), vốn đầu tư gián tiếp 5,7 tỷ USD, kiều hối đạt 9 tỷ USD và ODA đạt 5,4 tỷ USD. Tuy nhiên, biến động về lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) liên tục giảm còn 4,25%/ năm; chỉ số giá tiêu dùng tăng cao ( năm 2007 tăng 12,36%). Chỉ số giá tiêu dùng tăng đã tạo sức ép đến việc tăng lãi suất huy động vốn làm ảnh hưởng đến hoạt động về nguồn vốn của các NHTM.

Về khả năng hấp thụ vốn: Năm 2007, tổng khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội đạt gần 462 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP tăng 15,6% so với năm 2006. Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng tăng, lãi suất đi vay tăng, giá vàng và các yếu tố đầu vào quan trọng cho sản xuất tăng nhanh làm cho nhiều Công trình, Dự án trung và dài hạn dở dang gặp nhiều khó khăn. NHNN Việt Nam thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm kiềm chế lạm phát đã buộc các Ngân hàng phải xác định lại cơ cấu đầu tư tín dụng trung dài hạn. 

            Về thông tin khách hàng: Hiện nay ở Việt Nam  chưa có cơ quan chuyên trách về xếp hạng tín nhiệm đối với các doanh nghiệp, vì vậy ngân hàng thiếu thông tin khi xem xét đánh giá khách hàng để quyết định cho vay. Điều đó một mặt hạn chế  khả năng mở rộng tín dụng, mặt khác làm tăng thêm tình trạng rủi ro tín dụng của các Ngân hàng, do đánh giá khách hàng không chính xác khiến cho chất lượng tín dụng không được cao.

Xem thêm: Kiến nghị – Giải Pháp nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng

THỰC TRẠNG NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG 3

2.2. Thực trạng hoạt động cho vay trung và dài hạn với DNNQD tại CN NHCTCG

Thế mạnh của NHCT là tài trợ cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và thương nghiệp – đây cũng là lĩnh vực hoạt động chính của các DNNQD hiện nay.

2.2.1. Tình hình cho vay trung và dài hạn nói chung của ngân hàng

Tình hình cho vay trung và dài hạn với các thành phần kinh tế của CN NHCTCG được thể hiện trong bảng số liệu dưới đây.

   Bảng 2.5: Dư nợ cho vay phân theo thời gian

  Đơn vị: triệu đồng

 

Dư nợ

Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Cho vay ngắn hạn 755.558 63 277.244 46 178.360 36,6
Cho vay trung và dài hạn 444.200 37 325.017 54 309.231 63,4
Tổng dư nợ 1.199.758 100 601.885 100 487.591 100

Các số liệu thống kê trong bảng trên cho thấy giá trị tuyệt đối của các khoản dư nợ cho vay trung và dài hạn tuy có giảm nhưng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trên với tổng dư nợ cho vay lại qua không ngừng tăng lên (năm 2005: 37%, năm 2006: 54%, năm 2007: 63,4%). Như vậy cho vay trung và dài hạn cho nền kinh tế đã được NHCTCG chú trọng phát triển và đến nay đã đạt tỷ lệ dư nợ khá cao.

2.2.2. Tình hình cho vay đối với DNNQD nói chung           

Cho vay đối với các DNNQD (bao gồm cả cho vay ngắn, trung và dài hạn) được thể hiện trong bảng số liệu dưới đây.

Bảng 2.6: Dư nợ cho vay phân theo thành phần kinh tế

Đơn vị: triệu đồng

 

Dư nợ

Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
DNQD 631.073 52,6 341.276 56.7 311.808 64
DNNQD 568.687 47,4 260.609 43,3 175.783 36
Tổng dư nợ 1.199.760 100 601.885 100 487.591 100

Chỉ xét riêng tới chỉ tiêu dư nợ cho vay ta đã thấy NHCTCG vẫn chủ yếu tập trung cho vay với khối DNQD, tỷ trọng vay vốn của khu vực này luôn chiếm hơn 50% và lại còn có xu hướng tăng lên trong các năm từ 2005 tới 2007. Điều này có nghĩa là các DNNQD vẫn chưa được thực sự quan tâm đúng mức. Tỷ trọng dư nợ của khối DNNQD liên tục giảm từ 47,4% năm 2005 xuống 36% năm 2007. Kết quả này một phần là do chính sách hạn chế tín dụng nhằm đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh trong tình hình kinh tế biến động trong thời gian qua của NHNN cũng như bản thân NHCTVN.

2.2.3. Tình hình cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD

Qua 2 bảng số liệu độc lập về dư nợ cho vay phân theo thời gian và phân theo thành phần kinh tế, phần nào chúng ta đã thấy được thực trạng của hoạt động cho vay trung và dài hạn ở chi nhánh. Cho vay trung và dài hạn liên tục tăng trưởng song lại tập trung chủ yếu vào khối DNQD trên địa bàn hoạt động của ngân hàng.

Để có được sự đánh giá chính xác về tình hình cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD tại CN NHCTCG, chúng ta trước hết sẽ xem xét số liệu cụ thể về tình hình cho vay trung và dài hạn riêng đối với riêng khu vực DNNQD được thống kê ở bảng dưới đây.

Bảng 2.7: Tình hình cho vay trung và dài hạn với DNNQD tại NHCT CG

Đơn vị: triệu đồng

 

Chỉ tiêu

Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng %

2006/2005

Số tiền Tỷ trọng %

2007/2006

1.Doanh số cho vay

_ DNQD

_ DNNQD

652.322

365.302

287.019

100

56

44

495.017

301.861

193.156

100

60,98

39,02

76

83

67

724.390

463.248

261.142

100

63,95

36,1

150

153

135

2.Doanh số thu nợ

_ DNQD

_ DNNQD

649.291

395.704

253.586

100

60,9

39,1

614.200

350.094

264.106

100

57

43

98

88

104

740.176

407.096

333.080

100

55

45

120

116

126

3.Dư nợ đến 31/12

_ DNQD

_ DNNQD

444.200

233.649

210.551

100

52,6

47,4

325.017

184.317

140.700

100

56,7

43,3

73

79

67

309.231

197.753

111.478

100

63,95

36,05

95

107

79

4. Dư nợ quá hạn

_ DNQD

_ DNNQD

28.010

15.224

12.786

100

59

41

15.921

9.871

6.050

100

62

38

56,8

64,8

47,3

8.700

5.351

3.010

100

64

36

54,6

54,2

49,7

2.2.3.1.     Doanh số cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD

      Doanh số cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản vốn trung và dài hạn mà ngân hàng đã phát ra cho DNNQD vay trong một khoảng thời gian nào đó, không kể món vay đó đã thu hồi hay chưa. Đây là chỉ tiêu phản ánh con số tuyệt đối cho thấy khả năng mở rộng cho vay.  Do đó, nếu kết hợp được doanh số cho vay của nhiều thời kỳ thì ta sẽ thấy được phần nào về xu hướng của hoạt động cho vay này. Qua bảng số liệu 2.7 ta thấy, doanh số cho vay trung và dài hạn với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có xu hướng giảm qua các năm. Đây là do xu thế giảm chung của hoạt động cho vay trong ba năm từ 2005 tới 2007 tại CN NHCTCG

  • Năm 2005: đạt 287 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng là 44% tổng doanh số cho vay trung và dài hạn toàn chi nhánh
  • Năm 2006: doanh số cho vay bằng 67% năm 2005, chiếm tỷ trọng 39,02% trên tổng doanh số
  • Năm 2007: doanh số cho vay bằng 90,9% so với năm 2005, bằng 135% so với năm 2006; chiếm tỷ trọng 36,1% tổng doanh số cho vay.

      Như vậy, không chỉ doanh số cho vay có xu hướng biến động không đều trong ba năm qua: từ 287 tỷ năm 2005 xuống còn 193 tỷ năm 2006 và tăng lại là 261 tỷ năm 2007. Bên cạnh đó cả tỷ trọng cho vay trung và dài hạn với DNNQD trong tổng cho vay trung và dài hạn đang giảm sút (năm 2005: 44%, năm 2006: 39,02%, năm 2007: 36,1%). Đây là một điểm khác biệt so với xu hướng chung của các NHTM hiện nay là tăng cường cho vay đối với các DNNQD.

2.2.3.2.     Doanh số thu nợ cho vay trung và dài hạn với DNNQD

Đây là toàn bộ các món nợ mà ngân hàng đã thu về từ các khoản cho vay trung và dài hạn với DNNQD kể cả năm nay và các năm trước đó.

  • Năm 2005: chiếm tỷ trọng 39,1% tổng doanh số thu nợ trung và dài hạn
  • Năm 2006: bằng 104% năm 2005, chiếm tỷ trọng 43% tổng doanh số thu nợ cho vay trung và dài hạn
  • Năm 2007: bằng 126% năm 2006, bằng 217% so với năm 2005, chiếm tỷ trọng 45% tổng doanh số thu nợ trung và dài hạn

Tính đến 31/12/2007, doanh số thu nợ cho vay trung và dài hạn của DNNQD là 333 tỷ đồng trên tổng doanh số cho vay là 261 tỷ đồng. Doanh số cho vay biến động không đều, tỷ trọng cho vay giảm, còn doanh số thu nợ lại liên tục tăng qua các năm (2005: 39,1; 2006: 43%; 2007: 45%) chứng tỏ dư nợ cũ đang được tích cực thu hồi, và việc thu nợ mới cũng tỏ ra có hiệu quả. Con số này cũng đồng thời cũng giải thích cho việc chi  nhánh giảm cho vay đối với các DNNQD là nhằm mục đích thu hồi nôt nợ cũ. Chỉ tiêu doanh số thu nợ cho thấy ngân hàng ba năm qua ngân hàng thực hiện thu nợ rất hiệu quả, các khoản vay đảm bảo an toàn cao (bắt nguồn từ việc các DNNQD có sử dụng đúng mục đích khoản vay). Chỉ tiêu này của CN NHCTCG ngày càng cao đã phản ánh chất lượng các khoản vay ngày càng tốt.

2.2.3.3.     Dư nợ cho vay trung và dài hạn của DNNQD

Là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm xác định nào đó ngân hàng hiện còn cho DNNQD vay bao nhiêu vốn trung và dài hạn, và đây cũng là khoản mà ngân hàngcần thu về.

  • Năm 2005: đạt 210 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 47,4% tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn của chi nhánh.
  • Năm 2006: đạt 141 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 43,3% tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn, giảm 32,86% so với năm 2005
  • Năm 2007: đạt 111 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 36,05% tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn, giảm 21,27% so với năm 2006.

Tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn có xu hướng giảm dần qua các năm làm cho dư nợ cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD cũng giảm theo. Năm 2005 dư nợ cho vay trung và dài hạn với DNNQD đạt 210 tỷ thì tới năm 2007 chỉ còn 111 tỷ đồng, tức là con số tuyệt đối đã giảm gần 2 lần. Tỷ trọng dư nợ của DNNQD trên tổng dư nợ trung và dài hạn với nền kinh tế cũng giảm từ 47,4% năm 2005 xuống còn 36,05% vào năm 2007. Rõ ràng là có sự thu hẹp rất lớn trong cho vay trung và dài hạn của chi nhánh đối với khu vực kinh tế này. Tóm lại là, dư nợ cho vay trung và dài hạn với DNNQD của CN NHCTCG ba năm gần đây liên tục giảm sút chứng  hoạt động tài sản của ngân hàng chưa cao, trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế…

2.2.3.4.     Nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn vay trung và dài hạn của DNNQD
  • Nợ quá hạn:

            Trong những năm trước đây, nợ quá hạn của khối kinh tế ngoài quốc doanh luôn chiếm tỷ trọng lớn nhưng bắt đầu từ năm 2003 đã có sự đổi hướng. Nợ quá hạn của khối kinh thế quốc doanh chiếm phần lớn (do một số DNQD gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, tài chính giảm sút, không có tài sản đảm bảo để xử lý nợ quá hạn) đã tăng tỷ trọng từ 59% năm 2005 lên 64% năm 2007, nợ quá hạn khối kinh tế ngoài quốc doanh giảm dần. Tỷ trọng nợ quá hạn cho vay trung và dài hạn của DNNQD năm 2005 là 41%, năm 2006 là 38%, và đến năm 2007 chỉ còn 36% so với tổng nợ quá hạn cho vay trung và dài hạn của toàn chi nhánh.

Biểu đồ 2.1: Tình hình nợ quá hạn cho vay trung và dài hạn của NHCTCG

  • Tỷ lệ nợ quá hạn:

      Tỷ lệ nợ quá hạn: chỉ tiêu này thường nói lên chất lượng tín dụng của khoản vay. Thông thường tỷ lệ này dưới 5% thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng bình thường. Nếu ở một thời điểm nhất định nào đó mà tỷ lệ này lớn thì nó phản ánh chất lượng cho vay tại ngân hàng kém và rủi ro cao. Xem xét số liệu được thống kê tại thời điểm 31/12/2007

Bảng 2.8: Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay trung và dài hạn của DNNQD

                                                                                                Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Nợ quá hạn DNNQD 12.786 6.050 3.010
Dư nợ DNNQD 210.511 140.700 111.478
Tỷ lệ NQH DNNQD (%) 6,03 4,3  2,7

Dễ dàng nhận thấy rằng, tỷ lệ nợ quá hạn cho vay trung và dài hạn của DNNQD có sự chuyển biến tích cực theo thời gian, từ 6,03% năm 2005 giảm xuống còn 2,7% năm 2007.

Như vậy, xem xét tình hình nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn cho vay trung dài hạn của DNNQD tại NHCTCG trong ba năm qua, ta thấy rằng tỷ lệ nợ quá hạn hoàn toàn nằm trong khoảng 5% – 10% là tỷ lệ nợ quá hạn an toàn. Có thể khẳng định rằng chất lượng cho vay trung và dài hạn với DNNQD của chi nhánh là khá tốt.

2.3. Đánh giá về tình hình cho vay trung và dài hạn với DNNQD tại Chi nhánh NHCT Cầu Giấy

2.3.1. Những kết quả đạt được

Trong thời gian ba năm từ 2005 tới 2007, dưới sự chỉ đạo kịp thời và cương quyết của ban lãnh đạo, cùng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ nhân viên toàn chi nhánh, hoạt động cho vay trung và dài hạn với DNNQD của NHCTCG đã có những chuyển biến tích cực và tiến bộ rõ rệt.

  • Nguồn huy động trung và dài hạn ngày càng tăng trưởng

Từ khi thành lập đến nay, CN NHCTCG đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về nguồn vốn cũng như chất lượng nguồn vốn để trở thành một trong những chi nhánh mạnh của hệ thống NHCTVN.

Năm 2006 thị trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất trong nước và trên thị trường quốc tế, tình hình lạm phát và cạnh tranh về huy động vốn giữa các tổ chức tín dụng trong nước gây ảnh hưởng không nhỏ tới công tác huy động vốn của các NHTM nói chung và NHCTVN nói riêng. Trước biến động về giá huy động vốn trên thị trường, CN NHCTCG đã chủ động áp dụng sách sách lãi suất linh hoạt trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường, cải thiện quản trị thanh khoản dựa trên hệ thống thông số an toàn. Các biện pháp chủ động và linh hoạt trong điều chỉnh lãi suất đối với cá nhân, doanh nghiệp cả VNĐ và ngoại tệ đã góp phần giảm thiểu tác động thị trường lên công tác huy động vốn, nâng cao hệ số sử dụng vốn.

Tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng có xu hướng tăng lên qua từng năm (năm 2005: 50,79%; năm 2006: 54,39%; năm 2007: 56,67%). Nguồn vốn chi nhánh dùng cho vay trung và dài hạn có sự đóng góp lớn của nguồn vốn huy động tại chỗ (huy động vốn chuyển về từ NHCTVN hưởng lãi điều hòa). Tỷ lệ huy động vốn tại chỗ so với tổng nguồn vốn huy động tăng dần qua các năm (2004: 87%, 2005: 90%, 2006: 92%) là cơ sở đảm bảo cho một nguồn vốn bền vững, ổn định về kỳ hạn.

  • Cho vay trung và dài hạn với DNNQD tăng về chất lượng

CN NHCTCG ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trên địa bàn cũng như trong toàn hệ thống NHCTVN trong đầu tư vốn trung và dài hạn. Số lượng các đơn vị DNNQD có quan hệ vay vốn với chi nhánh ngày càng tăng đáng kể, số lượng các DNNQD đặt mối quan hệ tài chính lâu dài với chi nhánh cũng theo đó tăng lên. Các món vay có khối lượng vay ngày càng lớn và trải rộng trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế từ xây dựng, đóng tàu, giáo dục tới sản xuất máy móc, … Một số món vay trung và dài hạn trong năm 2007 của chi nhánh phải kể tới là: Công ty cổ phần phát triển Đại Lâm vay trung hạn 6,1 tỷ phục vụ sản xuất kinh doanh (thời gian trả nợ là 06 năm); Công ty cổ phần vận tải Bình Minh vay 30 tỷ đóng tàu trọng tải 4.300 tấn (thời gian trả nợ là 09 năm); Công ty trách nhiệm hữu hạn tư vấn đầu tư phát triển Bộ giáo dục đào tạo Phương Nam vay 20 tỷ để thực hiện một phần dự án xây dựng trường phổ thông dân lập Phương Nam (thời gian trả nợ là 06 năm)

Chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD nói riêng ngày càng có chuyển biến tốt. Một phần nhờ vào quán triệt phương châm của cấp lãnh đạo “ mở rộng cho vay đến đâu chắc đến đó”; một phần nữa là do công tác thẩm định món vay, kiểm tra trước và sau khi cho vay được các cán bộ tín dụng của chi nhánh thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ. Tại CN NHCTCG, mỗi cán bộ tín dụng tiến hành thẩm định từ ban đầu cho tới khi thu hồi vốn đối với một dự án kinh tế có nhu cầu vay vốn. Xuất phát từ yếu tố đó, mỗi cán bộ tín dụng có ý thức hơn về trách nhiệm của mình, tập trung chuyên môn sâu vào dự án mình phụ trách. Đó là cơ sở để đưa ra kỳ hạn nợ sát với yêu cầu thực tế mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và ngân hàng đồng thời thuận lợi trong việc kiểm tra giám sát món vay, đôn đốc thu nợ đạt kết quả tốt. Đây là cơ sở để doanh số thu nợ với khu vực DNNQD không ngừng tăng lên, khẳng định hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đối tác của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh hoàn toàn nằm ở mức an toàn, và có xu hướng ngày càng giảm xuống cho thấy chất lượng cho vay trung và dài hạn với DNNQD ngày càng tăng

Song song với quá trình tìm hiểu doanh nghiệp và dự án đầu tư trên cơ sở tài liệu do doanh nghiệp cung cấp, chi nhánh còn coi trọng và đẩy mạnh khâu khảo sát thực tế, nắm bắt thông tin trực tiếp từ thị trường, từ các đối tác của khách hàng và từ những bạn hàng tín nhiệm. Đó chính là một bước quan trọng giúp chi nhánh giảm và tránh được những tổn thất do sự lừa đảo, thiếu trung thực của khách hàng.

CN NHCTCG tiến hành thẩm định dự án theo đúng nội dung quy định trong văn bản hướng dẫn thẩm định cho vay trung và dài hạn của NHCTVN. Tuy nhiên trong quá trình điều tra lập hồ sơ cho vay, một số thủ tục, điều kiện vay vốn và đối tượng vay vốn được ngân hàng giải quyết linh động theo khuôn khổ pháp luật cho phép, giúp khách hàng giảm bớt thời gian chờ đợi, cũng như chi phí. CN NHCTCG không ngừng đổi mới, nâng cao phong cách giao dịch văn minh, lịch sự đồng thời nhiệt tình tư vấn về các mặt nghiệp vụ, dịch vụ của ngân hàng do đó tạo được thiện cảm phía từ khách hàng.

Chi nhánh bám sát với các quy định của NHNN cũng như NHCTVN về tỷ lệ vốn chủ sở hứu tối thiểu của từng dự án, vốn cho vay tối đa trên giá trị tài sản đảm bảo, hoạch định cụ thể về thời hạn trả nợ, … Làm tốt các công tác này chi nhánh không những đảm bảo cho sự an toàn trong hoạt động của mình mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của toàn hệ thống NHCTVN.

Như vậy, có thể khẳng định rằng chất lượng cho vay trung và dài hạn với DNNQD của chi nhánh ngày càng tăng lên.

  • Lãi suất cho vay linh hoạt

            Lãi suất cho vay trung và dài hạn được chi nhánh áp dụng linh hoạt chứ không theo chuẩn lãi suất nhất định. Lãi suất áp dụng cho vay trung và dài hạn đều là lãi suất thả nổi, được ngân hàng xác định một cách khoa học dựa trên chi phí vốn, mức độ rủi ro và lợi nhuận hợp lý của ngân hàng. Lãi suất cho vay = lãi suất tiền gửi tiết kiệm trả sau + lợi nhuận ngân hàng (mức là 3,6%/năm; 4,6%/ năm, … tuỳ tính chất từng món vay)[7]. Như vậy, chi nhánh đã bám sát vào tình hình biến động của thị trường để thực hiện công tác xác định lãi suất đối với các món vay trung và dài hạn; không chỉ đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng của mình.

  • Tỷ lệ nguồn ngắn hạn dùng cho vay trung và dài hạn hợp lý

Năm 2005, tỷ lệ nguồn ngắn hạn dùng để cho vay trung và dài hạn của CN NHCTCG là 25% – hoàn toàn phù hợp với quy định của NHNN. Các năm tiếp theo, ngân hàng hầu như không phải dùng tới nguồn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Lấy ví dụ điển hình của năm 2007, chỉ riêng nguồn tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng mà ngân hàng huy động được từ doanh nghiệp và dân cư đã là 454.029 triệu đồng, trong khi cho vay trung và dài hạn đạt 309.229 triệu đồng. Như vậy cho vay trung và dài hạn hoàn toàn nằm trong khuôn khổ đáp ứng của nguồn vốn trung và dài hạn.

  • Tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý

Doanh số thu nợ cho vay trung và dài hạn của DNNQD liên tục tăng cao qua ba năm. Tình hình nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn của NHCTCG trong ba năm qua cũng cho ta thấy rằng tỷ lệ nợ quá hạn cho vay trung và dài hạn của chi nhánh hoàn toàn nằm trong khoảng từ 5% – 10% là tỷ lệ nợ quá hạn an toàn nên có thể nhận xét rằng chất lượng cho vay DNNQD của ngân hàng khá tốt.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

            Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ đã đạt được thì hoạt động cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD của CN NHCTCG vẫn còn những mặt hạn chế. Nhìn nhận ra những điểm còn hạn chế cũng như tìm được nguyên nhân của những hạn chế này là việc làm cần thiết để tiếp tục phát triển nghiệp vụ này trong thời gian tới.

2.3.2.1.     Hạn chế

            Số lượng các DNNQD trên địa bàn hoạt động của ngân hàng ngày càng lớn, tương ứng với nhu cầu về vốn trung và dài hạn ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, huy động vốn trong chi nhánh lại tăng chưa tương xứng, thậm chí nguồn huy động trong dân cư còn giảm tới 20,26% trong năm 2007 làm cho dư nợ cho vay tín dụng trung và dài hạn năm 2007 chỉ bằng  95%, dư nợ cho vay trung và dài với DNNQD chỉ c̣n 79% so với năm 2006.

Tỷ trọng cho vay trung và dài hạn đối với khối DNNQD còn chưa tương xứng với nhu cầu của khách hàng cũng như tiềm lực của ngân hàng. Chi nhánh vẫn cho vay chủ yếu với khối lượng vốn lớn và thời gian dài cho các lĩnh vực xây dựng công trình giao thông, thi công xây lắp, điện lực, … – tức là vẫn tập trung vốn cho vay đối với khối DNQD. Dư nợ cho vay trung và dài hạn với DNNQD những năm gần đây cũng liên tục giảm. Doanh số cho vay trung và dài hạn đối với khối DNNQD trước năm 2005 tương đối lớn. Song bắt đầu từ năm 2005 trở đi lại có sự biến động bất thường (giảm mạnh vào năm 2006, tăng trở lại vào 2007). Như vậy là ở chi nhánh đang có hiện tượng đi ngược lại xu hướng chung của các NHTM là tăng cường cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD

            Thực tế cho thấy cho vay trung và dài hạn tăng trưởng rất nhanh, tập trung vào các dự án với quy mô rất lớn, phức tạp mà việc thẩm định đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, theo các tiêu chuẩn thị trường thực sự, vượt quá năng lực, kinh nghiệm, khả năng giám sát của các cán bộ tín dụng. Ví dụ điển hình là với các dự án về đóng tàu, xây dựng cầu, đường… Doanh nghiệp muốn vay vốn đều phải cung cấp cho ngân hàng toàn bộ hồ sơ công trình. Tuy nhiên các cán bộ tín dụng với chuyên môn là phân tích các con số tài chính thì các số liệu kỹ thuật, sơ đồ chế tạo, lắp ráp với họ là nằm ngoài khả năng. Do đó các dự án này được duyệt chủ yếu là dựa vào thẩm định của các cơ quan chức năng có thẩm quyền khác.

2.3.2.2.     Nguyên nhân
  • Nguyên nhân khách quan
  • Môi trường kinh tế:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong mấy năm gần đây luôn duy trì ở mức cao, kéo theo đó là lạm phát liên tục gia tăng (năm 2007 là 12,63%) tạo lãi suất âm đối với các khoản tiền gửi. Giá cả tăng mạnh làm đồng tiền bị mất giá gây ra tâm lý e ngại gửi tiền dài hạn vào hệ thống ngân hàng, thay vào đó người dân chuyển tiền sang đầu tư kinh doanh bất động sản, vàng và đôla Mỹ. Tình trạng này làm giảm đáng kể nguồn vốn huy động của ngân hàng, nhất là nguồn trung và dài hạn.

Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong huy động vốn cũng là nhân tố làm giảm lượng vốn huy động được của mỗi ngân hàng. Tình trạng “khát” vốn VND và cuộc đua lãi suất huy động giữa các ngân hàng trong mấy tháng đầu năm 2008 vừa qua là một ví dụ điển hình cho sự cạnh tranh này.

  • Môi trường pháp lý:

Lo ngại về lạm phát, nhất là tình trạng tăng trưởng tín dụng “nóng” (mức tăng trưởng tín dụng là 25% năm 2006, và lên tới 40% tính đến 8/2007) đã khiến NHNN trong mấy năm gần đây phải liên tục thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ như: tăng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn, sử dụng các công cụ thị trường mở (buộc các NHTM phải mua tín phiếu bắt buộc), tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, … nhằm giữ tốc độ tăng trưởng ở mức hợp lý. Hiện nay, NHNN còn đưa ra hạn mức tăng trưởng tín dụng cho các NHTM là 30% /năm. Chính sách tiền tệ thắt chặt này có tác dụng trực tiếp tới việc phát triển cho vay trung và dài hạn của chi nhánh với nền kinh tế nói chung và với DNNQD nói riêng.

Văn bản pháp lý về hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHCTVN quy định doanh nghiệp phải đạt vốn tự có tối thiểu là 50% trên tổng vốn đầu tư của dự án khi muốn vay vốn từ hệ thống Ngân hàng Công thương (trong khi quy định tại ngân hàng Agribank Sài Gòn là 20% và ngân hàng Nam Á là 30%). Đây chính là luật có tác dụng ràng buộc rất lớn trong việc phát triển cho vay với DNNQD vì đây là khối kinh tế có khả năng rất hạn hẹp về tài chính. Rất nhiều DNNQD tìm đến với ngân hàng nhưng đã vấp ngay phải rào cản này và không đạt được điều kiện tiến hành vay vốn.

  • Nguyên nhân từ phía các DNNQD:

Các DNNQD trên địa bàn quận Cầu Giấy chủ yếu mới được thành lập do đó luôn gặp khó khăn lớn về mặt tài chính. Nhiều doanh nghiệp không đáp ứng đủ điều kiện của ngân hàng về mức vốn chủ sở hữu tối thiểu trên tổng vốn đầu tư của dự án, về tài sản đảm bảo cho khoản vay. Xét về phương diện kinh tế là hoàn toàn có lý khi ngân hàng từ chối các khoản vay này vì không an toàn cho  hoạt động của ngân hàng. Nếu DNNQD đảm bảo được tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu thì món vay lại có giá trị nhỏ không đủ để ngân hàng bù đắp các chi phí và kiếm lời. Do đó sự yếu kém của các DNNQD chính là cản trở cho sự phát triển cho vay trung và dài hạn của ngân hàng với họ.

Chi phí ngân hàng phải dùng để tìm kiếm thông tin chính xác về DNNQD sẽ lớn hơn nhiều so với DNNN. Vì ở khối doanh nghiệp này, chế độ báo cáo tài chính, sổ sách kế toán không được thực hiện đầy đủ và thậm chí còn cố tình sử dụng nhiều loại sổ sách kinh tế để làm giả số liệu với các mục đích khác nhau.

Do vậy, mặc dù thời gian qua các DNNQD hoạt động có hiệu quả hơn xong ngân hàng vẫn chưa thực sự uy tín để ngân hàng đầu tư, đặc biệt là cho vay trung và dài hạn.

  • Nguyên nhân chủ quan từ phía CN NHCT CG

Do đặc thù của hệ thống NHCTVN là cung ứng vốn cho ngành công nghiệp và thương nghiệp là những ngành hiện nay vẫn còn nhiều sự độc quyền của khối kinh tế Nhà nước. Hơn nữa vẫn nằm trong khu vực NHTM Nhà nước do đó hoạt động cho vay của chi nhánh vẫn phải tập trung nhiều cho các DNNN  như một nhiệm vụ bắt buộc.

Môi trường hoạt động cạnh tranh gay gắt cùng với xu hướng chung mở rộng cho vay tiêu dùng với nhóm khách hàng cá nhân của các ngân hàng hiện nay, buộc chi nhánh phải san sẻ nguồn vốn trung và dài hạn dùng để cho vay với các doanh nghiệp. Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới việc phát triển cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD của chi nhánh.

Cán bộ tín dụng  chủ yếu được đào tạo tại các trường khối kinh tế nên khi thẩm định cho vay trung và dài hạn chủ yếu liên quan tới các vấn đề kỹ thuật, thông số máy móc, … sẽ gặp nhiều khó khăn, nhiều khi không có khả năng thẩm định nên phải dựa hoàn toàn vào hồ sơ do khách hàng cung cấp.

Chi nhánh gặp khó khăn trong công tác thu thập và xử lý thông tin khách hàng của mình, nhất là đối với khu vực DNNQD. Thông tin dùng để thẩm định dự án chủ yếu là do doanh nghiệp cung cấp, việc thẩm định lại chưa có cán bộ chuyên trách từng mảng như xây dựng nhà cửa, đóng tàu, đường sá, … nên công tác thẩm định chưa được thực hiện thực sự nghiêm túc và chưa chuyên sâu.

Xem thêm: Cơ sở lý luận nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng

THỰC TRẠNG NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG 4

A.Tổng chi phí dự án.

  • – Lượng vốn cần thiết là bao nhiêu và từ những nguồn nào?
  • – Ý kiến cơ bản cảu các nhà tài trợ và các bên tham gia,thể hiện sự quan tâm thật sự của họ đối với dự án trong quá trình thi công,quá trình vận hành và quá trình Maketting.
  • – Kế hoặch tài chính(theo giá trị bản tệ tương đương).
  • Bản kế hoạchnguồn vốn được lập vắn tắtvà quy đổi theo giá trị bản tệ.
  • Nguồn,số tiền ,lãi suất,thời hạn,thời gian ân hạn,hình thức đảm bảo cần thiết và tất cả các chi tiết khác về từng khoản vay ngắn hạn,dài hạn và tín dụng người cung cấp.
  • – Lịch cấp vốn trong quá trình thực hiện dự án.
  • – Tất cả các thoả thuận tài trợ dã ký kết hợp đồng tín dụng.
  • – Các biến động hoặc các vấn đề khác liên quan tới nguồn tài trợ hoặc các nguồn thay thế khác.
  • – Tất cả những sắp xếp giải quyết vấn đề nợ quá hạn/dự phòng và các khoản dự phòng thiếu hụt tiền mặt phát sinh trong nội bộ.

B. Kết quả tài chính dự kiến.

B.1. Thu nhập và doanh số.

  • – Đối với mỗi chủng loại sản phẩm chính,nêu rõ mức giá bình quân trong nước hoặc giá xuất khẩu tại nhà máy và ghía bán buôn hoặc giá bán lẻ trong ba năm gần nhất.
  • – Các mức giá hoặc thị trường có chịu sự kiểm soát của nhà nước hoặc tuân theo sự thoả thuận nào của các nhà sản xuất không?Các mức thuế quan hiện đang áp dụnghoặc dự kiến áp dụng liên quan tới thị trường của công ty.
  • – Đối với bất kỳ dự án mới hoặc hình thức mở rộng nào, đã thương lượng hợp đồng bán hàng quan trọng nào hay chưa?Nếu đã có,nêu rõ thời gian hiệu lực,giá trị,giá cả và các điều kiện thanh toán khác.
  • – Tất cả các biến động có tính thời vụ rõ rệt của doanh số và các khoản phải thu cảu công ty.
  • – Phần trăm sản lượng bán để phục vụ mục đích thay thế của khách hàng.

B.2. Chi phí sản xuất.

B.2.1 Nguyên liệu và hàng tồn kho.
  • – Khối lượng, đơn giá và tổng chi phí của từng loại nguyên liệu chính đã mua hoặc làm từ tài sản tự có trong mỗi năm cho tới khi đã đạt được công suất toàn dụng.
  • – Nguyên liệu đã mua các nguồn cung chính.
  • – Đối với các nguyên liệu công ty sản xuất từ các tài sản của mình,nêu rõ lượng dự trữ ước tính và tất cả các dữ liệu minh hoạ.
  • – Các phương pháp mua hàng và các hợp đồng mua hàng dài hạn quan trọng đang có hiệu lực,thời gian,số tiền và giá cả…vv
B.2.2. Lao động.

– Số lượng có thể huy động và thu nhập bình quân cảu các nhóm người lao động sau:

  • + Không có kỹ năng chuyên môn.
  • + Có kỹ năng chuyên môn.
  • + Có kỹ năng chuyên môn cao,kỹ thuật hoặc quản lý.
  • + Chuyên gia nước ngoài(không kể các nhóm trên)
  • – Nhu cầu lao động để thực hiện dự án bao gồm:
  • + Số lượng nhân viên lành nghề và không lành nghề.
  • + Tiền thù lao(trực tiếp và phụ cấp) và so sánh với các công ty khảc trong ngành và tất cả các hình thức chia sẻ lợi nhuận hoặc kế hoặch lương hưu.
  • + Các quy định của nhà nước.

Trạng thái cung ứng  lao động của từng nhóm,ví dụ có thể xuất hiện tình trạng thưà lao động của nhóm không lành nghề nhưng lại thiếu lao động của nhóm lanh nghề.Nếu có thể đưa ra đưa ra số liệu ước tính mức thu nhập của người lao động không lành nghề trong các ngành nghề khác nhau.

B.2.3. Nhiên liệu và điện năng.

Các chi tiết của việc mua điện năng và nếu có thể nêu mức giá cung ứng;hệ thống cung ứng đó có gặp tình trạng dư cung không(dầu,than,…vv có thể được tính vào khoản nguyên liệu)

B.2.4. Vận tải.

Số tiền thanh toán trực tiếp để thanh toán các hạng mục chính nếu có thể.Nếu có số liẹu ước tính chi phí vận chuyển nội bộđược tính trong giá các hạng mục công trình chính của thiết bị hoặc nguyên liệu thì càng tốt.

B.2.5. Hao mòn và khấu hao.
  • – Đối với mỗi nhóm thiết bị cơ bản chính và khoản đầu tư cơ bản khác,nêu rõ phương pháp khấu hao và tỷ lệ khấu hao dự kiến.
  • – Tỷ lệ khấu hao dự kiến thiết bị vô hình,như tiền trả lại trong quá trình thi công,các chi phí trước khi vận hành…vv bằng bao nhiêu?
B.2.6. Các chi phí vận hành.

Số liệu ước tính các chi phí vận hành,bao gồm các chi phí bán hàng(nếu không được khấu trừ trên thu nhập,xem phần dưới);các chi phí quản lý hành chính,bao gồm tiền lương cán bộ quản lý,phí quản lý,phí bảo hiểm,chi phí ngân hàng và các khoản chi khác.

B.2.7. Thuế.

– Các chi tiết về thuế thu nhập doanh nghiệp mà công ty dự kiến sẽ phải chịu.Cụ thể như sau:

  • + Phạm vi và thuế suất thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • + Cơ sở đánh giá.
  • + Các chi phí được miễn thuế,có thể bao gồm hoặc không bao gồm thu nhập cổ tức từ các công ty con,tiền thuê(bảo trì,nợ khó đòi,tặng biếu,phí bảo hiểm , đóng góp lương hưu…vv)
  • + Các phương pháp xác định hàng tồn kho quy định.
  • + Các phương pháp hao mòn và khấu hao quy định.

– Phạm vi và thuế xuất các loại thuế gián thu như thuế quan và tiêu thụ trong nước,thuế mua hàng,phí đóng dấu,thuế bất động sản và các hình thức thuế khác.

  • Các chi tiết và các điều kiện hưởng thuế đặc biệt và các điều kiện hưởng ưu đãi thuế.
  • C.Xây dựng báo cáo tài chính dự kiến.
  • – Xây dựng báo cáo tài chính dựa theo các bộ phận thu nhập và chi phí đã tính:
  • + Lập báo cáo thu nhập dự kiến.
  • + Lập bảng cân đối kế toán dự kiến.
  • + Lập bảng lưu chuyển tiền mặt dự kiến.
  • + Tính toán các tỷ lệ tài chính.
  • + Cấu truc khoản vay.

1.3. Ví dụ về thẩm định cho vay vốn đối với dự án đầu tư xây dựng khủ nghỉ sinh thái Lạc Hồng-Tam Đảo(Lachong Resort).

1.3.1. Giới thiệu sơ bộ về dự án.
  • – Địa điểm đầu tư:thôn II-Thị Trấn Tam Đảo-Tỉnh Vĩnh Phúc.
  • – Sản phẩm của dự án:Khu nghỉ sinh thái Lạc Hồng-Tam Đảo.
  • – Dự kiến chi phí đầu tư:40.004.839.000 VND.
  • – Nghành nghề kinh doanh:Kinh doanh Resort.
  • – Loại dự án:Mở rộng(cổ phấn hoá).
  • – Địa chỉ liên hệ:Công ty cổ phần xây dựng Lạc Hồng
  • Số 198 Phố Quan Nhân-Nhân Chính-Thanh Xuân-Hà Nội.
  • Tel/Fax/Mobil:04.5587989/04.5586391/0903.406489.
1.3.1.1.Kinh nghiệm của chủ đầu tư/Giới thiệu về hoạt động hiện tại.

– Công ty cổ phần xây dựng Lạc Hồng thành lập ngày 15/9/2003 (Giấy chứng nhận ĐKKD số 0103002861 do Sở KH-ĐT TP.Hà Nội cấp).Loại hình doanh nghiệp:công ty cổ phần.Vốn điều lệ đăng ký tính đến thời điểm 05/12/2005 của Công ty là 30.000.000.000 VND,gồm ba thành viên góp vốn.Ngoài các thành viên đã đăng ký góp vốn,Công ty còn kết nạp thêm ông Trần Văn Nghĩa-một khách hàng của Habubank(Giám đốc sân gôn Tam Đảo,góp 700.000.000 VND),Tổng công ty xây dựng Hà Nội góp 550.000.000 VND.Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc công ty là ông Lê Xuân Trường.

– Nghành nghề kinh doanh của công ty là xây dựng các công trình dân dụng công nghiệp,giao thông,thuỷ lợi,các công trình điện đến 35KV;san lấp mặt bằng;kinh doanh bất động sản;kinh doanh nhà nghỉ,khách sản,nhà hàng và khu du lịch sinh thái;kinh daonh dịch vụ ăn uống và các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch; đầu tư xây dựng và kinh doanh các khu đô thị;thuê và cho thuê nhà ở;văn phòng nhà xưởng,bến bãi,kho hàng; đầu tư xây  dựng,thuê và cho thuế hạ tầng viện thông…Hiện nay công ty đã hoạt động trên tất cả các lĩnh vực đã đăng ký.

– Năm 2005,tri giá sản lượng các công trình đầu tư,xây lắp của công ty đạt khoảng 300.000.000.000 VND,hạch toán doanh thu khoảng xấp xỉ 100.000.000.000 VND(200.000.000.VND chuyển sang năm 2006).Dự kiến năm 2006 giá trị sản lượng của công ty đạt khoảng 500.000.000.000 VND,doanh thu khoảng 300.000.000.000 VND.

1.3.1.2.Mô tả dự án.

Công ty cổ phần xây dựng Lạc Hồng đang tiến hành đầu tư xây dựng khách sản,nhà hàng,sân vườn,bãi đỗ xe,mua sắm thiết bị,công cụ, đồ dùng cho dự án Lachong Resort tại ThônII-Thị trấn Tam Đảo-Huyện Tam Đảo-Tỉnh Vĩnh Phúc.Tổng chi phí đầu tư xây dựng dự án là 40.004.839.000 VND. Đầu tư hình thành tài sản cố định là 39.522.884.000 VND(trong đó mặt bằng sản xuất 4.120.000.000 VND,xây dựng sân,vườn,kè,làm đường,khách sản,nhà hàng(gồm cả thiết bị trị giá 8.296.334.000 VND) và các công trình xây dựng khác 35.401.884.000 VND);Vốn lưu động năm đầu hoạt động là 481.954.000 VND.Vốn tự có của đơn vị là 24.004.839.000 VND-Chiếm 60% tổng chi phí đầu tư,vốn xin vay Habubank là 16.000.000.000 VND-chiếm 40%/tổng chi phí đầu tư vào dự án.

Công ty chỉ xin vay cho phần đầu tư,hoàn thiện các công trình xây dựng, mua sắm thiết bị,công cụ, đồ dùng…thời hạn xin vay là 5 năm, ân hạn trả nợ gốc 09 tháng,lãi suất theo thoả thuận.

1.3.1.3.Tài sản đảm bảo ban đầu.
Tài sản đảm bảo dự kiến. Giấy tờ Mô tả Đánh giá của cán bộ tín dụng.
Tài sản thế chấp của bên thứ ba(bảo lãnh). Đang làm sang tên sổ đỏ,sẽ xong vào quý 2 năm 2006. Quyền sử dụng hơn 2000 m2 đất ở lâu dài,các công trình xây dựng trên đất tại Thôn II-Thị trấn Tam Đảo-Vĩnh Phúc. 2.500.000.000 VND
Tài sản thế chấpcủa công ty. Hoá đơn các công trình xây dựng trên đất. Toàn bộ quyền sở hữu các công trình xây dựng trên lô đất 19.440 m2 thuê 50 năm theo giấy CNQSDĐ số AB226789 do UBND tỉnh Vĩnh Phúc cấp cho công ty CPXD Lạc Hồng ngày09/06/2005 35.500.000.000 VND
1.3.1.4.Nhận xét của cán bộ thẩm định về triển vọng của dự án.

-Thuận lợi:chủ đầu tư có quan hệ rất rộng với cả cơ quan của chính phủ(bố,chú,anh họ ông Trường đều làm ở ban cơ yếu Chính phủ),chính quyền địa phương(chơi thân với Chủ tịch,Bí thư Tỉnh Vĩnh Phúc) và với các đối tác kinh doanh(đặc biệt là với Tổng công ty xây dựng Hà Nội) do là một công ty đầu tư xây dựng trực tiếp nên Chủ dự án có kinh nghiêm trong việc xây dựng các công trình tương tự,vốn tự có tham gia của chủ dự án cao(60%),tài sản đảm bảo tốt…

-Khó khăn:Kinh doanh Resort vẫn là một lĩnh vực kinh doanh mới và chỉ có tiềm năng trong vài năm tới.

1.3.2.Nội dung thẩm định cho vay của ngân hàng Habubank đối với dự án xây dựng khu nghỉ dưỡng Lạc Hồng.
1.3.2.1.Khái quát.

– Công ty cổ phần xây dựng Lạc Hồng là một Công ty xây dựng hoạt trong lĩnh vực xây dựng,kinh doanh bất động sản,kinh doanh nhà hàng,khách sản…

– Công ty thành lập năm 2003,vốn điều lệ tính đến thời điẻm ngày 05/12/2005 là 30.000.000.000 VND gồm 3 thành viên góp vốn. Ông Lê Xuân Trường(Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc công ty góp 29.500.000.000 VND chiếm 98,33% tổng số vốn điều lệ), ông Trịnh Quang Thanh(góp 200.000.000 VND,chiếm 0,67% tổng số vốn điều lệ), ông Hoàng Nam(góp 300.000.000 VND chiếm 1,00% tổng số vốn điều lệ).Ngoài ra công ty còn kết nạp thêm ông Trần Văn Nghĩa-một khách hàng của Habubank(Giám đốc sân golf Tam Đảo,góp 700.000.000 VND).

– Ngày 7/7/2005,Tổng công ty xây dựng Hà Nội có quyết định số 1576/QĐ-HĐQT V/v góp vốn và cử người đại diện phần vốn góp của Tổng công ty vào Công ty cổ phần Xây dựng Lạc Hồng theo đó Tổng công ty xây dựng Hà Nội Tham gia góp vốn vào công ty xây dựng cổ phần Xây dựng Lạc Hồng với số tiền 550.000.000 VND. Điều này thể hiện tièm năng phát triển của Công ty cũng như uy tín của công ty(mà cụ thể là Ban lãnh đạo Công ty) đã gây dựng được đối với Tổng công ty Xây dựng Hà Nội nói riêng và ngành xây dựng nói chung.

– Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc công ty là ông Lê Xuân Trường. Ông Trường sinh năm 1970,tốt nghiệp Khoa Xây dựng Trường Đại học kiến trúc Hà Nội. Ông Trường có kinh nghiệm trực tiếp trong ngành xây dựng hơn 10 năm tại Tổng công ty xây dựng Hà Nội ở cương vị quản lý.Bố,chú,anh họ ông Trường đều làm việc tại Ban cơ yếu Chính phủ

– Công ty xây dựng Lạc Hồng là một công ty có tiềm lực tài chính(chủ sở hữu công có tiềm lực tài chính rất lớn ngoài số vốn góp vào công ty),Công ty đã và đang thực hiện các dự án xây dựng lớn.Một số công trình công ty đã và đang thực hiện:

  •    + Xây dựng Khu đô thị mới Chùa Hà Tiên:Sản lượng công trình khoảng 300.000.000.000 VND, đã thực hiện được hơn 100.000.000.000 VND(Lạc Hồng là chủ đầu tư trực tiếp)
  •    + Xây dựng Trung tâm Hội nghị Quốc gia:tổng trị giá sản lượng thực hiện 80.000.000.000 VND.
  •    + Xây dựng chung cư cao tầmg CT1(khối 25 tầng)Khu đô thị mới Mỹ Đình-Mễ Trì(trị giá công trình là 51.758.784.000 VND).
  •    + Xây dựng chung cư cao tầng CT17-Nhà E4-GĐ2 Khu đô thị mới Nam Thăng Long-Ciputra.
  •    + Xây mới nhà A9-cho khoa cấp cứu,chống độc,thận nhân tạo-Bệnh viện Bạch Mai(trị giá công trình 10.992.744.903 VND,Xây dựng 7 căn biệt thử mẫu Khu biệt thư C7-Khu đô thị mới Nam Thăng Long(trị giá công trình 15.600.000.000 VND),xây dựng câu lạc bộgia đình-Khu đô thị Nam Thăng Long(trị giá công trình 18.482.000.000 VND)…
  • Năm 2005,tri giá sản lượng các công trình đầu tư,xây lắp của công ty đạt khoảng 300.000.000.000 VND,hạch toán doanh thu khoảng xấp xỉ 100.000.000.000 VND(200.000.000.VND chuyển sang năm 2006).Dự kiến năm 2006 giá trị sản lượng của công ty đạt khoảng 500.000.000.000 VND,doanh thu khoảng 300.000.000.000 VND.
  • Hiện tại số lượng cán bộ công nhân viên của Công ty lên đến 350 người (trong đó có 100 kỹ sư xây dựng),công nhân xây dựng của công ty lúc nhiều nhất lên tới 2.700 người.
  • Công ty cổ phần Xây dựng Lac Hồng đang đầu tư xây dựng khu Resort  trên diện tích đất rộng 19.440 m2 thuê 50 năm và hơn 2000 m2 đất thổ cư mua thêm.Tổng chi phí đầu tư của dự án là 40 tỷ VND,vốn tự có của công ty là 24 tỷ VND,công ty xin vay của Habubank 16 tỷ VND.
1.3.2.2.Cơ sở hình thành dự án.

a.Các yếu tố từ môi trường bên ngoài.

– Trong những năm gần đây Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc đọ tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 10 năm bình quân đạt khoảng 7,8%/năm.Sau hơn 10 năm mở cửa nền kinh tế,tổng thu nhập quốc dân tăng 2,5 lần đạt mức xấp xỉ 43 tỷ USD vào năm 2005,thu nhập bình quân đầu người cũng được cải thiện đáng kể.Cơ cấu nền kinh tế cũng có những thay đổi đáng mừng:kinh tế nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 20% GDP,công nghiệp chiếm khoảng 45%GDP, kinh tế dịch vụ cũng đóng góp khoảng 35%GDP của cả nước.

– Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu á thì nền kinh tế Việt Nam vẫn là một trong số ít nền kinh tế năng động và có tốc độ phát triển nhanh nhất Châu á.Kế hoạch 5 năm từ 2006 đến 2010 của chính phủ là tốc độ tăng trưởng GDP đạt bình quân khoảng 8,5%/ năm.Mục tiêu phát triển kinh tế trong 10 năm trong đó kinh tế dịch vụ se chiếm khoảng 70-80% trong tổng tỷ trọng GDP của cả nước.

– Ngành du lịch và dịch vụ của Việt Nam trong những năm gần đây đạt tốc độ tăng trưởng cao,là một trong những ngành tăng trưởng cao và ổn định nhất với tốc độ tăng trưởng bình quân từ 18-20%/năm.Trong 2005,Việt Nam đã đón hơn 3,2 triệu lượt khách quốc tế và theo báo cáo có khoảng 30% số dân nội địa có nhu cầu du lịch dịch vụ.Kinh tế phát triển con người càng ngày càng quan tâm tới nhu cầu ngỉ ngơi,an dưỡng tại những nơi có khí hậu  trong lành.Du lịch sinh thái vì thế đã trở thành một ngành phát triển nhanh chóng và ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng dịch vụ.

– Du lịch theo xu hướng xây dựng các Resort đang phát triển nhanh chóng ở Việt Nam,thậm chí tạp chí ASeanTime đánh giá tièm năng phát triển các Resort Việt Nam sẽ là đối thụ đáng gờm của các quốc gia trong Khu vực Asean.Tính đến thời điểm hiện tại (27/05/2005)Việt Nam có khoán 100 Resort,tập trung nhiều nhất tại khu vực Mũi Né(với hơn 68 Resort đang hoạt động).

b.Các yếu tố từ địa điểm dự án.

– Tam đảo là tổng thể các dãy núi gồm 3 đỉnh Thiên Thể,Thạch Bàn và Phú Nghĩa nhìn giống như ba hòn đảo trong biển mây.Khu du lich Tam Đảo I nằm trên độ cao 879m so với mực nước biển trong một quần thể rộng 64hecta(có thể mở rộng thêm khoảng 40 hec ta nữa.Cách khu du lịch Tam Đảo I khoảng 9-10km là Thái Bạc.Khí hậu tại Tam Đảo quanh năm mát mẻ,nhiệt độ bình quân thường từ khoảng 16-25 độ C,du khách có thể cảm thụ được bốn màu xuan-hạ-thu –đông chỉ trong một ngày dừng chân tạ Tam Đảo, ở đây có nhiều cảnh đẹp và địa chỉ văn hoá để du khách thưởng ngoạn và vui chơi, đặc biệt Tam Đảo chỉ cách Hà Nội khoảng 86km và có đường giao thông rất thuận lợi. Đây chính là điều kiện lý tượng để xây dựng các Resort.

– Khu du lịch Tam Đảo là khu du lịch có lịch sử hình thành từ thời Pháp thuộc và trở thành một địa chỉ quen thuộc của các ông chủ và giới thượng lưu Pháp từ đầu thế kỷ 20.Tỉnh Vĩnh Phúc đang có mục tiêu biến Tam Đảo thành khu du lịch có tầm cỡ khu vực với các lĩnh vực kinh doanh:du lịch sinh thái du lịch dã ngoại,thám hiểm rừng kinh doanh khách sản,nhà hàng,thể thao giải trí…cụ thể tỉnh đang xúc tiến hoạt động đầu tư các dự án mở rộng đường lên khu du lịch Tam Đao I,xúc tiến hoạt động đầu tư vào khu du lịch Tam Đảo II,Xây dựng nhà máy xử lý rác thải,xây dựng sân golf  18 lỗ có chất lượng.Bên cạnh đó tỉnh Vĩnh Phúc cũng thu hút và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư với nhiều chính sách ưu đãi:dành cho khu đất đầu tư thuận lợi,miễn thuế và giảm 50% thúê thu nhập doanh nghiệp trong nhiều năm hoạt động…đây là một động lực to lớn khuyến khích các doanh nghiệp.

c. Các yếu tố chủ quan từ phía chủ dự án.

– Dự án Khu nghỉ dưỡng Lạc Hồng Tam Đảo là một trong những dự án được toàn thể ban lãnh đạo công ty cổ phần xây dựng Lạc Hồng đặc biệt quan tâm, được nghiên cứu và chuẩn bị trong nhiều năm(đích thân chủ tịch hội đồng quản trị công ty đã trực tiếp nhiều làn sang Malaysia và Thailan để tìm hiểu về cách xây dựng và quản lý các Resort.

– Ngành nghề hoạt động của công ty Xây dựng Lạc Hồng là xây lắp,thi công các công trình trong đó đầu tư xây dựng các khu du lịch sinh thái,kinh doanh và cung cấp các dịch vụ khách sản,nhà hàng.Do vậy,có thể nói kinh doanh và xây dựng Khu nghỉ dưỡng sinh thái Lạc Hồng-Tam Đảo là một trong những lĩnh vực chuyên nghiệp của công ty.Dự án Khu nghỉ dưỡng sinh thái Lạc Hồng-Tam Đảo đi vào hoạt động sẽ tạo ra công ăn việc làm cho khoảng 100 nhân viên của công ty.

– Dự án Khu nghỉ sinh thái Lạc Hồng –Tam Đảo của công ty thành công sẽ nâng cao hình ảnh và vị thế của công ty Xây dựng Lạc Hồng trên thương trường,tạo ra một kênh quan hệ mới,từ đó làm tăng giá trị của công ty.

d. Sản phảm tạo ra từ dự án.

Dự án tạo ra một chuỗi các nhà hàng,khách sản đạt tiêu chuẩn từ 3 sao đến 4 sao trở lên.

  • – Một toà nhà câu lạc bộ ba tầng.
  • – Một toà nhà khách sản ba tầng.
  • – Hai toà nhà khách sản(VIP).
  • – Bốn toà nhà khách sản đạt tiêu chuẩn 4 sao.
  • – Hai dãy nhà nghỉ cao cấp đạt tiêu chuẩn 3 sao.
  • – Một cầu treo các công trình đài phun nước,vườn hoa, đài phun nước…

e. Nghiên cứu thị trường.

– Kinh tế Việt Nam tăng trưởng từ khi mở cửa năm 1989 tạo ra một động lực to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế.Kinh tế tư nhân trong những năm gần đây được nâng lên một tầm cao mới và trở thành thành phần kinh tế đóng góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.

– Kinh tế tăng cao liên tục nâng cao đáng kể chất lượng sống của người dân. Điều đó thúc đẩy sự phát triển của các ngành phát triển không khói:ngành du lich,dịch vụ.Kinh tế dịch vụ đang trở thành mục tiêu theo đuổi của các nước đang phát triển(đặc biệt là các nước trong khu vực Asean. Ở Việt Nam,kinh tế dịch vụ đang dần dần đóng góp một phần quan trọng trong tổng cơ cấu GDP và đã được Chính phủ xác định là mục tiêu phát triển của nền kinh tế.

– Kinh doanh Resort là laọi hình kinh doanh mới ở Việt Nam nhưng có tiềm năng phát triển nhanh chóng.Kinh doanh Resorrt đang được rất nhiều công ty lớn quan tâm. Đặc biệt là các Resort ven biển đang có tốc độ phát triển chóng mặt với các thương hiệu Resort nổi tiếng tập trung ở các khu vực Mũi Né.Một số thương hiệu đang nổi danh như:Furama(Đà Nẵng),Sài Gòn-Phú Quốc(Kiên Giang), Ana Mandara,Vina Peart(Nha Trang)….Tuy nhiên trong hầu hết các Resort đã thành danh thì có rất ít các Resort trên núi và thám hiểm rừng.

– Tại miền Bắc hiện đã có rất nhiều đơn vị xây dựng và kinh doanh Resort với quy mô vừa và nhỏ.Các thương hiệu này đều chỉ là thương hiệu bậc trung và phục vụ nhóm khách hàng bình dân.Tam Đảo có vị trí địa lý thuận lợi cho kinh doanh Resort nghỉ dưỡng và thám hiểm rừng nhưng hiện nay vẫn chưa có đơn vị nào xây dựng và kinh doanh ngoài khu du lịch Tam Đảo I đã xuống cấp.

  •    + Hiện nay trên thị trấn Tam Đảo có khoảng 20 khách ssản đạt tiêu chuẩn từ 1 sao đến 2 sao.Giá thuê phòng trung bình từ 100.000 đến 500.000 VND một ngày tuỳ vào thời điểm thấp vụ hay cao vụ.Với số lượng và chất lượng phòng hạn chế,hiện nay khu du lịch vẫn chưa đáp ứng được những người có thu nhập khá và du khách quốc tế.
  •    + Trên cơ sơ sở tồn tại thực tế của khu du lịch Tam Đảo,Công ty xây dựng Lạc Hồng dự định sẽ xây dựng khách sản đạt tiêu chuẩn từ 3 sao đến 4 sao để đáp ứng cho các đối tượng có thu nhập khá trở lên và du khách quốc tế.
  • – Khu nghỉ dưõng Lạc Hồng Tam Đảo có nhiều thuận lợi so với các Resort khác ở khu vực phía Bắc cũng kinh doanh loại hình nghỉ dưỡng như:
  •    + Tam Đảo là một khu nghỉ dưỡng có khí hậu mát mẻ với điều kiện thời tiết lý tưởng đã nổi tiếng từ lâu nên Công ty Cổ phần Xây dựng Lạc Hồng sẽ ít tốn kém trong việc quảng bá hình ảnh.
  •    + Tam Đảo có tầm nhìn tốt hơn các Resort khác,gần các sân golf,gần các khu du lịch,gần trung tâm chùa chiền và lễ hội,sắp tới là khu quần ngựa Tam Đảo.Du khách ngoài việc đến nghỉ ngơi,vui chơi tại Lạc hồng Resort có thể dễ dàng đến các khu du lịch khác.
  •    + Do khu du lịch Tam Đạo I đã cũ nát và xuống cấp không thể đáp ứng được nhu cầu nghỉ dưỡng và vui chơi của khách du lịch có thu nhập ca và khách quốc tế nên khi dự án hoàn thành đương nhiên sẽ thu hút được nhóm khách hàng này từ Khu du lịch Tam Đạo I. Đối với các khách hàng đến chơi tại sân golf và khu quần ngựa thì Lạc Hồng Resort gần như là lưa chọn số một.
  • + Chất lượng dịch vụ tốt phục vụ trong một không gian riêng biệt là mục tiêu mà chủ dự án đang hướng tới.Công ty cổ phần xây dựng Lạc Hồng đang có quyết tâm dùng chất lượng dịch vụ là vũ khí sắc bén trong cạnh tranh.
  • + Ngoài ra để phục vụ cho mục tiêu quảng bá hình ảnh,Công ty còn dự định xây dựng một nhà hàng tại Giảng Võ,Hà Nội với diện tích 2000 m2.

Sơ đồ cơ cấu tổ chức.

Quản lý và hỗ trợ kỹ thuật.

+ Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành: ông Lê Xuân Trường.. Ông Trường sinh năm 1970,tốt nghiệp Khoa Xây dựng Trường Đại học kiến trúc Hà Nội. Ông Trường có kinh nghiệm trực tiếp trong ngành xây dựng hơn 10 năm tại Tổng công ty xây dựng Hà Nội. Ông trường chịu trách nhiệm chính đối với mọi hoạt động của Công ty.

+ Phó giám đốc: ông Trinh Quang Thanh. Ông Thanh sinh năm 1975,tốt nghiệp khoa Xây dựng Đại học kiến trúc Hà Nội. Ông Thanh đã có 6 năm kinh nghiệm trong nghề xây dựng,phụ trách các công trình xây lắp tại Hà Nội.

+ Phó giám đốc: Ông Lê Tự Nghĩa. Ông sinh năm 1974,tốt nghiệp khoa Xây dựng trường Đại học kiến trúc Hà Nội. Ông Nghĩa đã có 7 năm kinh nghiêm trong nghề xây dựng ,phụ trách các công trình Xây lắp tại Hà Nội.

+ Phó giám đốc: ông Nguyễn Duy Đôn,sinh năm 1970,tốt nghiệp khoa xây dựng trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Ông Đôn đã có 10 năm kinh nghiệm trong nghề xây dựng,làm giám đốc khu đô thị mới Chùa Hà Tiên.

+ Kế toán trưởng: Ông Vũ Văn Tích. Ông tích sinh năm 1966,tốt nghiệp cao đẳng Ngân hàng. Ông Tích đã có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành kế toán.

Để phục vụ cho việc quản lý Resort tốt hơn,Chủ dự án đã thuê một giám đốc nhà hàng melia về làm giám đốc Resort với mức lương 1500 USD /một tháng,Chủ dự án cũng đã tiến hành thuê 2 đầu bếp môt Âu,một Á với mức lương 700USD/1 tháng.Chủ dự án cũng tuyển được gần 50 nhân viên chủ yếu tốt nghiệp trung cấp dịch vụ du lịch và đã tiến hành đào tạo từ cuối 2006.

1.3.2.3.Kế hoạch đầu tư  và kế hoạch tài chính.

a. Kế hoạch đầu tư.

Công trình xây dựng. Tổng cộng Năm 2004-2005 Năm 2005-2006
Đất 4.121.000 4.121.000  
Vườn 6.340.000 2.113.333 4.226.667
Khách sản 18.482.685   9.241.343
Nhà hàng 2.559.141   1.706.094
Bể bơi 951.000   475.500
Phụ trợ 794.613   211.333
Bãi đỗ xe ô tô 402.590   402.590
Các công trình xây dựng khác 3.989.913   1.903.312
Chi phí dự phòng (5%/chi phi đầu tư) 1.882.042   908.342
Tài sản lưu động năm đầu tư 481.954   481.954
Tổng chi phí đầu tư 40.004.839   19.557.135
Kế hoặch tài chính      
 Vốn tự có 24.004.839   3.557.135
Vốn vay trung hạn 16.000.000   16.000.000
Tổng nguồn vốn 40.004.000   19.557.135

b.Kế hoạch tài chính.

Tính toán các chỉ tiêu tài chính trong 5 năm hoạt động của Công ty Cổ phần Xây dựng Lạc Hồng(Thời gian HBB đầu tư vào dự án).

– Các tỷ lệ về khả năng sinh lời.

Các chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010
Tỷ lệ lãi gộp/doanh thu. 51% 60% 63% 64% 65%
Tỷ lệ lãi trước thúê/Doanh thu. -23% 18% 32% 39% 44%
Tỷ lệ LNST/Tổng vốn -2% 5% 10% 12% 15%
Tỷ lệ LNST/Vốn chủ sở hữu. -4% 8% 14% 15% 16%

Nhận xét:Các tỷ lệ về khả năng sinh lời của công ty tương đối cao.Các chỉ số trong năm 2006 âm là do giả định năm 2006 dự án mới đi vào hoạt động 6 tháng cuối năm.

– Các tỷ lệ về khả năng thanh toán.

Các chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010
Khả năng thanh toán tổng quát 2,44 2,58 3,33 4,86 9,07
Khả năng thanh toán hiện hành 3,07 1,17 1,31 1,57 1,70
Khả năng thanh toán nhanh 2,71 1,09 1,22 1,47 1,60

Nhận xét: Các tỷ lệ khả năng thanh toán của Công ty ở mức tương đối cao do các nghĩa vụ trả nợ trung hạn được chia thành nhiều lần,số phải trả hàng năm thấp.Tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh thấp nhất là 1.09 vẫn lớn hơn 1 rơi vào năm 2007,là năm công ty phải bắt đầu trả nợ vay trong khi công suất khai thác vẫn còn thấp.

– Các tỷ lệ về vay nợ.

Các chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010
Hệ số nợ 0,41 0,39 0,3 0,21 0,11

Nhận xét: Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của công ty cao nhất là 0,41 rơi vào năm 2006(năm Công ty bắt đầu vay nợ). Đây là một tỷ lệ vay nợ thấp nếu xét tới quy mô đầu tư tương đối lớn của dự án.Tỷ lệ vay nợ giảm dần do không giả định tái đầu tư mở rộng vào các năm sau đó.

– Khả năng trả nợ(gốc và lãi vay).

Các chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Tỷ lệ khả năng trả nợ(DSCR) 1,68 1,69 1,86 2,13 2.,38 15,30

Nhận xét:Tỷ lệ khả năng trả nợ thấp nhất là 1.68 vào năm 2006,năm công ty phải thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và nhà cung cấp.DCSR cao nhất vào năm 2011 bằng 15.30 là năm công ty chỉ còn phải thanh toán nợ gốc rất nhỏ.

1.3.2.4.Phân tích độ nhạy.

Dự án có tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) là 13,5%(lớn hơn lãi suất chiết khấu là 10%),giá trị hiện tại thuần NPV là 6.305.932.000 lớn hơn 0-xét trong 10 năm hoạt động của dự án..Thời gian hoàn vốn của dự án là 7,51 năm,thời gian hoàn vốn vay của dự án là 4,28 năm.

– Tiến hành thử độ nhạy về khả năng trả nợ và thời gian hoàn vốn vay vào năm 2006 nếu:

+ Số tháng khai thác giảm 3 tháng min(DSCR)=1,34,thời gian hoàn vốn vay là 4,33 năm(khoảng 52 tháng).

  • + Công suất khai thác giảm 20% min(DSCR)=1,23,thời gian hoàn vốn vay là 5,15 năm(khoảng 62 tháng)
  • + Giá cho thuê phòng và giá dịch vụ giảm 20%:min(DSCR)=1,23,thời gian hoàn vốn vay là 5,16 năm(khoảng 62 tháng).
  • – Nhận xét:Phân tích độ nhạy trong năm 2006 cho thấy:
  • + Trường hợp thời gian khai thác giảm xuống còn 3 tháng so với dự kiến,Công ty vẫn có khả năng trả nợ tốt,dự án vẫn rất khả thi ,Công ty vẫn có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn.
  • + Trường hợp công suất khai thác giảm 20% so với dự kiến,Công ty vẫn có khả năng trả nợ nhưng thời gian trả nợ bị kéo dài thêm 2 tháng.
  • Nhìn chung thời gian trả nợ của công ty là tương đối tốt do:
  • + Vay nợ ít.(so với mức sinh lãi)
  • + Nguồn thu đều.
  • + Kể cả trong trường hợp hợp công suất giảm và giá cho thuê phòng giảm thì Công ty vẫn có khả năng trả được nợ do phần vay nợ cho dự án Khu nghỉ sinh thái Lạc Hồng-Tam Đảo rất nhỏ so với doanh thu của công ty năm 2006(dự kiến là 300.000.000.000 VND,lãi trước thuế khoảng 5% tương đương với 50 tỷ VDN.
1.3.2.5.Hiện trạng của dự án.
  • – Tháng 10 năm 2004 Công ty Cổ phần xây dựng Lạc Hồng chính thức khởi công dự án Khu nghỉ sinh thái Lạc Hồng-Tam Đảo.
  • – Cho đến hiện nay công ty đã thi công được 14 tháng,Chủ đầu tư đã hoàn thành giải phóng mặt bằng,làm đường,kè móng,xây thô các toà nhà theo thiết kế.
  • – Tổng chi phí mà chủ đầu tư đã bỏ ra vào dự án(vốn tự có) đến thời điểm hiện nay khoảng 24 tỷ VND,trong đó:chi phí đền bù giải phóng mặt bằng khoảng 5 tỷ đồng,chi phí xây dựng thô các công trình khách sản,nhà hàng,nhà nghỉ khoảng 19 tỷ VND(hồ sơ thanh toán lần một đến ngày 30/9/2005 khoảng 16 tỷ VND).
  • – Các hạng mục tiếp tục phải đầu tư:hoàn thiện các khối nhà,xây cầu treo,làm sân,vườn,mua sắm thiết bị,dụng cụ, đồ dùng..Tổng cộng khoảng 20 tỷ VND,trong đó riêng phần thiết bị là 8.296.334.000.VND.
  • – Dự kiến đầu tháng 6 /2006 dự án sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động từ ngày 15/6/2006.
1.3.2.6. Lợi ích,rủi ro và các vấn đề cần quan tâm.

– Lợi ích:

+ Thứ nhất: Đối với chủ dự án.

  • i.Làm tăng khối lượng tài sản của công ty,mở rộng ngành nghề kinh doanh.
  • ii.Nâng cao hình ảnh cũng như uy tín của công ty trên thị trường.
  • iii.Tạo một kênh quan hệ mới cho chủ dự án.

+ Thứ hai: Đối với Ngân hàng.

Ngoài hạn mức vốn vay Trung hạn có dư nợ ổn định 16 tỷ VND,Công ty cũng cam kết sẽ chuyển doanh thu của một số hợp đồng xây lắp luân chuyển qua tài khoản của Habubank với trị giá khoảng 100.000.000.000 VND một năm.

Nếu việc đầu tư vào Resort thuận lợi Công ty sẽ tiếp tục vay thêm một số hợp đồng xây lắp và hợp đồng đầu tư khác tai Habubank với mức dư nợ dự kiến khoảng 50.000.000.000 VND.

Công ty sẽ tiếp tục rất nhiều nghiệp vụ bảo lãnh dự thầu,bảo lãnh thực hiện hợp đồng,bảo lãnh thanh toán,bảo lãnh bảo hành tại Habubank với số tiền bảo lãnh khoảng vài trăm tỷ đồng.

– Rủi ro:

Hiệu quả hoạt động mang lại từ dự án là tương đối rõ rang,tuy nhiên dự án cũng không thể tránh khỏi những rủi ro nhất định:

+ Kinh doanh du lịch khách sản chịu tác động trực tiếp của tính ổn định hay bất ổn định của hệ thống chính trị,bởi thời tiết khí hậu,bởi bệnh dịch và bởi tính chất mùa vụ trong kinh doanh.Trong những năm gần đây Việt Nam đã có những cố gắng không biết mệt mỏi để nâng cao hình ảnh quốc gia đối với các du khách quốc tế.Việc Việt Nam được giới thiệu là điểm đến an toàn nhất của Châu Á của các tạp chí hàng đầu thế giới và Việt Nam khống chế kịp thời đại dịch SArs và dịch cúm gà trong thời gian vừa qua đã phản ánh được quyết tâm từ phía Chính phủ,nâng cao được  vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

+ Rủi ro lớn nhất mà dự án có thể gặp phải là khả năng quản lý và vẫn hành dự án Khu nghỉ sinh thái Lạc Hồng-Tam Đảo.Kinh doanh khách sản nhà hàng đòi hỏi phải có đội ngũ quản lý có kinh nghiệm.Chủ dự án là những ngươi không có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này.Tuy nhiên, để hạn chế rủi ro này,Giám đốc Công ty đã có phương án thuê giám đốc điều hành trực tiếp có kinh nghiệm về kinh doanh khách sản nhà hàng.

– Vấn đề cần lưu ý:

  • + Tính mùa vụ:Kinh doanh Resort chịu tác động rõ nét bởi tính mùa vụ.Cần phải hạn chế ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động kinh doanh làm giảm tính khả thi của dự án. Để giải quyết vấn đề này của dự án đã có phương án mở một nhà hàng tại Hà Nội để luân chuyển nhân viên từ nhà hàng lên Resort và ngược lại,khi mùa vụ đến và hết mùa vụ.
  • + Kiểm tra tình hình thanh toán chi phí tránh tình trạng công ty khai tăng chi phí ảnh hưởng đến giá trị tài sản thế chấp tại Habubank.
  • + Đề nghị thu phí quản lý tín dụng hàng tháng dựa trên số dư nợ cùng với lãi vay.
  • + Đây là khách hàng chiến lược của chi nhánh Vạn Phúc  nên đề nghi Ban lãnh đạo  Habubank áp dụng mức lãi suất cho vay thấp nhất có thể.
1.3.2.7.Phân tích SWOT.
Điểm mạnh

– Vốn tự có của công ty tham gia vào dự án là tương đối lớn.

– Công ty đang làm các công trình xây dựng nên dễ dàng triển khai và biến các ý tưởng của Chủ dự án thành hiện thực.

– Chủ dự án có mối quan hệ rộng trong Chính phủ cũng  như trong Chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc.

– Ban quản lý dự án có nhiều tâm huyết đối với dự án,quyết tâm thực hiện tốt Khu nghỉ dưỡng sinh thái Lạc Hồng –Tam Đảo.

Yếu tố thuận lợi

– Kinh tế tăng trưởng cao và vững chắc trong nhiều năm,chính trị ổn định. Được xem là điểm đến an toàn nhất châu á

– Du lịch được Chính phủ xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, được hỗ trợ nhiều từ các cơ quan hữu quan.

– Cơ quan chính quyền Tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều ưu đãi đầu tư.

– Khi dự án đi vào hoạt động sẽ lôi kéo được nhiều khách du lịch có thu nhập cao và khách quốc tế.

Điểm yếu

– Ban quản lý dự án chưa có kinh nghiệm trực tiếp trong hoạt động kinh doanh khách sản,nhà hàng.

– Kinh doanh Resort vẫn là một lĩnh vực kinh doanh mới ở Việt Nam và còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Yếu tố khó khăn

– Du lịch là nghành kinh doanh tương đối rủi ro,nó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khách quan,khó mà phòng ngừa.

– Tính chất vụ mùa tác động,làm cho doanh thu biến động thất thường.

1.4. Đánh giá chung về công tác thẩm định cho vay vốn trung và dài hạn tai Habubank giai đoạn 2003-2008.

1.4.1. Đánh giá về quy trình thẩm định cho vay vốn trung và dài hạn của Habubank.

Quy trình thẩm định vay vốn trung và dài hạn của Habubank tuy đã được nghiên cứu tỷ mỷ và có tác dụng hữu hiệu trong việc thẩm định cho vay. Điều này được thẻ hiên trong mức sinh lãi từ các món vay trung và dài hạn,khả năng thu hồi cả vốn lãn lãi trong những năm qua là tương đối thành công.Song không phải bất cứ quy trình nào cũng đều hoàn hảo cả mà đi cùng với sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định dự án thì quy trình thẩm định cũng cứ dần dần phải được hoàn thiện hơn phù hợp với nhu cầu thực tế.Quy trình thẩm định của Habubank theo đánh gia của em cần hoàn thiện ở những khía cạnh sau:

-Việc tiếp cận khách hàng từ đầu cho đến khi thẩm định cho vay trung và dài hạn đều do một cán bộ thẩm định làm,do đó không tránh khỏi những sai sót chủ quan từ phía cán bộ thẩm đinh.Do đó, để nâng cao tính khách quan của công tác thẩm định thì một là trong công tác tiếp nhận thông tin ban đầu từ khách hàng sẽ là một cán bộ chuyen biệt phụ trách(thẩm định sơ bộ) sau đó,tuỳ thuộc vào hồ sơ xin vay vốn cụ thể mà phân chia cho các cán bộ thẩm định khác nhau(các cán bộ này sẽ tiến hành thẩm định chi tiết) hoặc hai là việc thẩm định cùng một hồ sơ sẽ cùng do hai cán bộ thẩm định phụ trách song phương án này lại tốn  kém những cũng chắc chắn sẽ nâng cao được chất lương công tác thẩm định (thi đua giữa các cá nhân sẽ làm tưng chất lượng thẩm định).

-Trong quy trình thẩm định cho vay,việc lập tài sản đảm bảo luôn tiến hành sau khâu đánh giá khách hàng và khoản vay.Nhưng trong thực tế thì lại không nên làm như vậy mà hai công việc này có thể cùng làm một lúc để tiết kiệm thời gian. Đồng thời,tài sản đảm bảo sẽ giảm thiểu rủi ro rất nhiều,ngân hàng có thể yên tâm.

-Trong quá trình thẩm định cần có sự phối hợp giữa chuyên gia và cán bộ.Lấy ý kiến của chuyên gia sẽ nâng cao được chất lượng và đồng thời nâng cao được trình độ của cán bộ thẩm định.

1.4.2. Đánh giá về nội dung thẩm định cho vay trung và dài hạn của Habubank.

Nội dung thẩm định cho vay trung và dài hạn của Habubank bao quat được hầu hết tất cả nội dung,từ kiểm tra hồ sơ xin vay vốn của khách hàng đến thẩm định khách hàng và khoản vay và thẩm định tài chính.Tuỳ thuộc vào từng đối tượng khách hàng và từng dự án cụ thể mà can bộ thẩm định có thể tập trung nhiều vào nội dung này và chỉ nghiên cứu ít đi ơ một nội dung không quan trọng khác.Ví dụ như đối với những khách hàng quen thuộc của Habubank thì khâu thẩm định khách hàng sẽ nhanh hơn,cán bộ thẩm định tập trung nhiều hơn vào các nội dung khác.Còn đối với khách hàng mới thì cán bộ thẩm định phải xem xét,thẩm định khách hàng chặt chẽ hơn.

Nội dung thẩm định cho vay của habubank cũng có những điểm chưa được hoàn thiện cần tập trung nghiên cứu như:

  • – Nội dung thẩm định còn qua chung chung chưa cụ thể.Mới chỉ nói đến phân tích các số liệu mà khách hàng cung cấp mà chưa thật sự quan tâm những số liệu đó có chính xác không,có hợp lý không.
  • – Trong nội dung thẩm định thì cán bộ thẩm định chú trọng nhiều đến các chỉ tiêu tài chính mà chưa chú trọng đến phương án sản xuất kinh doanh để đạt được các chỉ tiêu tài chính đó.
  • -Các chỉ tiêu tài chính trong quá trình tính toán phải chính xác,thận trọng trong phương pháp tính,làm tròn số và đặc biệt là khi cho vay bằng ngoại tệ phải có sự quy đổi phù hợp.

Xem thêm: Lời kết luận nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng

1.4.3. Đánh giá về phương pháp thẩm định cho vay trung và dài hạn của Habubank.

Phương pháp được Habubank sử dụng là các phương pháp thông dụng hiện nay và tập hợp được khá đầy đủ.Trong việc thẩm định cho vay việc sử dụng đồng thời nhiều phương pháp là điều cần thiết,bởi vì ứng với từng phương pháp nó sẽ phù hợp với từng nội dung thẩm định một. Áp dụng linh hoạt các phương pháp này là điều thấy trong ví dụ thẩm định cho vay đối với dự án xây dựng khu nghỉ dưỡng Lạc Hồng-Tam Đảo.Nhưng việc áp dụng  các phương pháp này còn có hạn chế đó là cán bộ thẩm định mới chỉ áp dụng những phương pháp đơn giản như phương pháp phân tich độ nhạy,phương pháp theo trình tự,phương pháp so sánh và hấu như các phương pháp này không lượng hoá được.Còn các phương pháp phức tạp như phương pháp dự báo thì không được sử dụng nhiều hoặc chỉ dự báo mang tính dự đoán nhiều hơn mà không dẫn chứng ra được các số liệu cụ thể.

-Đối với từng nội dung thẩm định cụ thể cán bộ thẩm định cần biết cách sử dụng linh hoạt các phương pháp thẩm định.

-Nếu chỉ dựa vào các phương pháp thông thương giản đơn thì khó mà hoàn thiện được công tác thẩm định cho vay.Do đó,cần tiếp thu học hỏi các phương pháp mới của các ngân hàng hiện đại trên thế giới.

1.4.4. Ảnh hưởng của công tác thẩm định cho vay trung và dài hạn tới hoạt động của Habubank giai đoạn 2004-2008.
1.4.4.1. Những kết quả đạt được.

Thứ nhất, là những thắng lợi trong hoạt động kinh doanh của NH với những chỉ tiêu tài chính đều vượt kế hoạch từ 80% đến 250%. Mặc dù mục tiêu đặt ra tại thời điểm đầu năm 2007 là một năm đầy thách thức và cũng thành công rực rỡ của Habubank, một khởi đầu thuận lợi cho giai đoạn phát triển 2006-2010.

Thứ hai, về cơ cấu tài chính của NH. Trong năm 2007 cấu trúc tài chính của NH đã được làm mạnh một cách rõ rệt:

+ Tăng vốn điều lệ từ 1000 tỷ đồng lên 2000 tỷ đồng, với số vốn tự có đạt hơn 3200 tỷ đồng, Habubank trở thành NH cổ phần có cấu trúc tài chính an toàn nhất Việt Nam với mức thặng dư vốn cổ phần cao nhất trong hệ thống..

+ Chỉ số an toàn vốn đạt 14% là chỉ số tối ưu trong hoạt động tài chính ở một thị trường đang phát triển và tiềm ẩn nhiều rủi ro như Việt Nam.

+ Năm 2007,lợi nhuận thuần trước thuế và sau khi trich lập dự phòng đạt 460 tỷ đồng ,tăng gần gắp đôi so với năm 2006-185%,vượt kế hoặch 445 tỷ đồng dại hội XVI đề ra,bằnd103.37% kế hoặch .Với mức lợi nhuận này, tỷ lệ ROA tính trên vốn điều lệ bình quân của HABUBANK đạt 30,4% sau thuế. Đặc điểm quan trọng là nguồn lợi nhuận đạt được từ các hoạt động cốt lõi của Ngân Hàng không phải là lợi nhuận bất thường chỉ xảy ra một lần.

+ Kiểm soát tốt tình hình nợ xấu, đảm bảo tỷ lệ quá hạn thấp hơn mức cho phép; kiểm soát chặt chẽ các rủi ro hoạt động, rủi ro về thị trường và thanh khoản.

Thứ ba, là về hình ảnh và uy tín của Habubank

Habubank đã tiến thêm một bước trong quá trình xây dựng thương hiệu của mình. Với những thành công đạt được của năm 2006, Habubank là một trong những thương hiệu uy tín của Việt Nam, được khách hàng yêu thích và được các tổ chức trong nước và quốc tế ghi nhận. 2006 là năm thứ 8 liên tiếp Habubank đượcNHNN xếp loại A, và lần thức 2 liên tục nhận bằng khen của Thống đốc NHNN vì những thành tích đạt được. Trong hơn 18 năm xây dựng và phát triển, Habubank đã rất nhiều lần nhận được công nhận của các đồng nghiệp là các tập đoàn tài chính toàn cầu trên thế giới như CitiGroup, HSBC, WachovinaBank… và năm 2006, Habubank trở thành đại diện thứ 3 trong hệ thống NH Việt Nam được tạp chí The Banker-một tạp chí danh tiếng trên thế giới về lĩnh vực tài chính NH trao tặng giải thưởng “NH Việt Nam của năm 2006, 2007”.

Thứ tư, Habubank đạt được là năng lực cạnh tranh của NH, đa dạng hóa hoạt động và đáp ứng được các nhu cầu ngày càng cao của mọi đối tượng khách hàng. Số lượng khách hàng 2006 tăng 160%, trong đó có 80% khách hàng sử dụng từ hai dịch vụ trở lên của Habubank.

Thứ năm, là kết quả kinh doanh đã tiếp tục phản ánh đúng mục tiêu số 1 vủa Habubank là “Giữ vững tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và tình hình tài chính lành mạnh nhằm tối đa hóa giá trị đầu tư của các cổ đông”.

Thứ sáu, Habubank đã thành công trong việc từng bước triển khai phần mềm cốt lõi của NH hiệu quả và đúng thời gian kế hoạch, nâng cao hạ tầng thông tin phục vụ quản trị và hoạt động kinh doanh theo đúng như chiến lược thông tin đã đề ra. Đây là điều kiện tiên quyết để có thể hỗ trợ NH phát triển nhanh chóng các sản phẩm dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, là công cụ hỗ trợ kiểm soát và quản lý rủi ro tự động một cách hiệu quả khi NH ngày càng được mở rộng.

Thứ bảy, là thành công trong việc Lựa chọn được đối tác chiến lược nước ngoài sớm hơn kế hoạch dự kiến.

Thứ tám, là việc ra đời và hoạt động hiệu quả của công ty chứng khoán Habubank. Điều này một lần nữa khẳng định sự đa dạng hóa trong hoạt động kinh doanh của NH. Công ty chứng khoán Habubank mặc dù mới chính thức đi vào hoạt động từ tháng 4/2006, nhưng đến thời điểm 31/12/2006, công ty đã có gần 1500 khách hàng, với tổng giá trị khớp lệnh 9 tháng đạt trên 2000 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đã được kiểm toán thu được trong năm là 18,4 tỷ đồng.

 1.4.4.2. Những khó khăn tồn tại và nguyên nhân.

Tuy nhiên, hoạt động của Habubank vẫn còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc.

– Hoạt động kinh doanh chỉ tập trung phục vụ cho đối tượng khách hàng là doanh nghiệp và phụ thuộc nhiều vào các hoạt động tín dụng, chưa chú trọng vào phát triển các đối tượng khách hàng là các hộ gia đình, dân cư…Hình ảnh Habubank chưa được tiếp thị sâu rộng vào các trường học, khách sạn, công ty, khu quân đội, trung tâm thương mại, siêu thị…vào các đối tượng cán bộ công nhân viên, học sinh.

– Hệ thống mạng lưới phát triển vẫn còn nhỏ bé. Mới chỉ nhắm đến một vài vùng kinh tế trọng điểm như Hà Nội, TP HCM, Quảng Ninh…. Các và hình thức kênh phân phối chưa đa dạng. 

– Sản phẩm chưa phong phú, đa dạng hoá , các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao còn ít. Một phần vì thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế còn phổ biến như thanh toán tiền điện, nước…do tập quán, thói quen của nhân dân. Công nghệ thanh toán còn nhiều bất cập, chất lượng đường truyền không ổn đinh, đôi khi lỗi đường truyền, lỗi mạng dẫn đến việc thanh toán không kịp thời. Sự liên hệ, kết nối thanh toán với nhà cung cấp lớn với NH Habubank còn chưa chặt chẽ.

– Nguồn nhân lực chất lượng cao trong NH không chỉ thiếu đối với Habubank nói riêng mà đang là nhu cầu cấp bách trong toàn hệ thống tài chính, NH Việt Nam nói chung. Vì nhu cầu phát triển mạng lưới Habubank là rât nhanh chóng đòi hỏi một nguồn nhân lực phải luôn sẵn sàng và sự cạnh tranh nguồn nhân lực trong ngành Tài chính, NH làm hiện tượng chảy máu chất xám đe dọa nguồn nhân lực của nhiều NH trong đó có Habubank.

THỰC TRẠNG NÂNG CAO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG 5

2.1. Giới thiệu khái quát về Ngân hàng DongA

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của ngân hang DongA

Ngân hang thương mại TMCP Đông Á được thành lập vào ngày 1 tháng 7 năm 1992, là ngân hang thành lập mới đầu tiên theo pháp lệnh ngân hang 1992. Vốn điều lệ của ngân hang ban đầu khi mới thành lập là 20 tỉ đồng (trong đó có 80% vốn của các pháp nhân) với 03 phòng nghiệp vụ chính là tín dụng, ngân quỹ và kinh doanh.

Đến 31/12/2007 vốn điều lệ của Đông Á Bank đã tăng lên 1.600 tỷ đồng, tổng tài sản đạt 27.424 tỷ đồng. Mạng lưới hoạt động trải rộng trên cả nước với đầy đủ các sản phẩm dịch vụ của một ngân hang hiện đại. Tổng số cán bộ nhân viên là 2.677 người. Hiệu quả kinh doanh không ngừng tăng trưởng từ khi thành lập đến nay. Mạng lưới hoạt động của Đông Á hiện đã có mặt tại 40 tỉnh, thành trong cả nước gồm Hội sở chính, 01 Sở Giao dịch, 27 chi nhánh và 79 phòng giao dịch, 848 máy giao  dịch tự động – ATM, 800 điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ – POS.

Các công ty thành viên bao gồm: Công ty kiều hối Đông Á(1 hội sở và 7 chi nhánh) công ty chứng khoán Đông Á có 2 sàn giao dịch tại TP.HCM, Hà Nội và một công ty trực thuộc là công ty TNHH Quản Lý Quỹ Đầu tư chứng khoán Đông Á.

Hệ thống quản lý chất lượng hoạt động theo quy chuẩn hóa theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000.

Công nghệ: Từ năm 2003, Đông Á Bank đã khơi động dự án hiện đại hóa công nghệ và chính thức đưa và áp dụng phần mềm quản lý mới (Core-Banking) trên toàn hệ thống từ tháng 6/2006. Phần mềm này do tập đoàn I-Flex cung cấp. Với việc thành công trong đầu tư công nghệ và hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng. Đông Á Bank đã cung cấp nhiều dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu của mọi khách hang cá nhân và doanh nghiệp. Đặc biệt, Đông Á Bank có khả năng mở rộng phục vụ trực tuyến trên toàn hệ thống chi nhánh, qua ngân hang tự động và ngân hang điện tử mọi lúc mọi nơi.

2.1.2. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đông Á

 2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn :

Như chúng ta đã biết bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động kinh doanh đều phải co vốn. Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt ( hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ ), vì vậy nó cũng cần có vốn để thực hiện việc hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp khác nguồn vốn chính chủ yếu của một ngân hàng là vốn huy động.Vì vậy công tác huy động vốn được xác định là nhiệm vụ tiên quyết trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Muốn mở rộng hoạt động tín dụng đòi hỏi ngân hàng phải mở rộng hoạt động huy động vốn. Vấn đề đặt ra đối với mỗi ngân hàng là phải làm sao huy đông được nguồn vốn đa dạng với giá rẻ nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh của ngân hàng.

Hiểu rõ được điều đó, mặc dù trong những năm qua tình hình kinh tế có nhiều biến động và sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng ngày càng gay gắt nhưng được sự chỉ đạo của ban tổng giám đốc, ban giám đốc và sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ nhân viên trong công tác huy động vốn ngân hàng đã đạt được những kết quả đáng kể.

 Tính đến 31/12/2007, tổng vốn huy động của DongA Bank đạt 21.699 tỷ đồng và tăng 115% so với cuối năm 2006. Trong đó:

* Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác là 6.070 tỷ.

* Tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân cư là 14.373 tỷ đồng, tăng 55% so với cuối năm 2006 và chiếm tỷ trọng 66% trong tổng nguồn vốn huy động.)

2.1.2.2. Hoạt động tín dụng :

Tính đến 31/12/2007, tổng dư nợ tín dụng của DongA Bank là 18.010 tỷ đồng và tăng 122% so với năm 2006.

Trong đó:

  • Cho vay các tổ chức tín dụng là 201 tỷ đồng.
  • Cho vay các tổ chức và dân cư là 17.808 tỷ đồng, tăng 123% so với cuối năm 2006 và chiếm tỷ trọng 65% trong tổng nguồn vốn.

Trong năm 2007, DongA Bank đã đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi đối tượng khách hang khác nhau. Đối với khách hang cá nhân: DongA Bank đã đáp ứng các nhu cầu của khách hang với các sản phẩm

  • – Cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán và cho vay tiền ứng trước trong việc bán chứng khoán thong qua việc DongA Bank lien kết với các công ty chứng khoán
  • – Cho vay kinh doanh bất động sản
  • – Cho vay mua hang trả góp tại siêu thị điện máy Nguyễn Kim
  • – Cho vay mua xe máy tại công ty PNJ, mua xe máy tại công ty Phát Tiến, công ty Tín Phong.
  • – Cho vay tiêu dung đối với khách hang là cán bộ công nhân viên…
  • Đối với khách hang Doanh nghiệp: DongA Bank đặc biệt chú trọng khách hang doanh nghiệp vừ và nhỏ. DongA Bank đã và đang tiếp tục hợp tác với các tổ chức tài chính nổi tiếng quốc tế để tài chợ cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Đó là các chương trình:
  • – Chương trình của World Bank – Rural Development Fund (gọi tắt là Quỹ RDF): cho vay ngắn, trung và dài hạn trong lĩnh vực phát triển nông thôn
  • – Chương trình của Japanese Bank for international Cooperation (gọi tắt là JBIC): cho vay chủ yếu trung và dài hạn, tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư đổi mới công nghệ và cơ sở hạ tầng.
  • – Chương trình của Asian Development Bank (gọi tắt là ADB): cho vay mua nhà đối với người có thu nhập thấp.

2.2. Thực trạng chất lư­ợng tín dụng trung dài hạn tại ngân hang DongA:

2.2.1. Phân tích cơ cấu cho vay trung dài hạn tại ngân hang DongA:

2.2.1.1. Dư nợ tín dụng :

Bảng 3 :Dư nợ tín dụng các năm 2003 – 2005

                                                                                   Đơn vị : Nghìn Tỷ đồng

Chỉ Tiêu

 

2006 2007
Dnợ

Tỷ trọng

Dnợ

Tỷ trọng

Tổng dư nợ 7.971   17.808  
Dư nợ ngắn hạn 6.602 82.8% 13.517 75.9%
Dư nợ TDH 1.369 17.2% 4.291 24.1%

( Nguồn:Bảng kê tình hình sử dụng vốn và báo cáo kết quả kinh doanh )

Cùng với sự tăng trư­ởng của doanh số cho vay, dư­ nợ tín dụng nới chung đã có được những bư­ớc phát triển.Trong vòng 2 năm 2006 – 2007 tổng dư nợ tăng 9837 tỷ đồng ( từ 7971 tỷ lên 17808 tỷ), tỷ trọng d­ư nợ phân theo thời hạn lại có sự thay đổi theo chiều hư­ớng tăng tỷ trọng cả dư­ nợ trung dài hạn và tỷ trọng nợ ngắn hạn. Năm 2007 tỷ trọng dư nợ TDH có xu hướng tăng mạnh hơn so với tỷ trọng dư nợ ngắn hạn. Điều này cho thấy xu hướng của DongA Bank đang nghiêng dần về hướng cho vay trung và dài hạn phù hợp với xu thế phát triển của các ngân hang thương mại hiện nay.

Cụ thể năm 2006 dư­ nợ ngắn hạn đạt 6602 tỷ chiếm 82,8% trong tổng dư­ nợ,đến năm 2007 d­ư nợ ngắn hạn tăng thêm 6915 tỷ chiếm 75.9%. Và dư nợ trung dài hạn năm 2007 đạt 4291 tỷ chiếm 24.1% tổng dư nợ (tăng 2922 tỷ so với năm 2006).

Cả dư nợ ngắn hạn và trung hạn của DongA Bank đều tăng nhưng tỉ lệ tăng tăng nợ trung và dài hạn năm 2007 có xu hướng tăng mạnh hơn so với tỉ lệ tăng của nợ ngắn hạn.

2.2.1.2. Tình hình cho vay trung dài hạn theo đối tượng khách hang và theo loại hình doanh nghiệp :

Bảng 4:Tình hình dư nợ theo đối tượng khách hang và theo loại hình doanh nghiệp                                                                

Đơn vị :nghin  tỷ đồng

Chỉ tiêu 2006 2007 2007/2006
ST %
1.Tổ chức kinh tế 4.965 10.541 5.576 112.3
2. Tổ chức dân cư 3.006 7.267 4.261 141.7
Tổng dư nợ 7.971  

17.808

 

9.837 123.4

( Nguồn:Bảng kê tình hình sử dụng vốn và báo cáo kết quả kinh doanh )

Thực hiện chính sách đa năng tổng hợp trong kinh doanh, không ngừng mở rộng hoạt động cho vay, đặc biệt là hình thức cho vay trung và dài hạn. Ngân hang đã mở rộng đối tượng phục vụ của mình gồm cả tổ chức kinh tế và tổ chức dân cư. Mặc dù vậy dư nợ từ các tổ chức dân cư có xu hướng tăng mạnh hơn so với các tổ chức kinh tế.

Trong thời gian gần đây NHNN đang đốc thúc quyết liệt các ngân hang giảm tỷ lện tổng dư nợ trên vốn huy động thị trường (từ dân cư và tổ chức kinh tế) xuống còn 80%, nhưng không ít ngân hàng đang duy trì tỷ lệ này trên 100%. Và để giảm tỷ lệ này một cách tốt nhất và nhanh nhất ngân hang Dong A đã tăng huy động từ dân cư và doanh nghiệp.

2.2.1.3. Dư nợ theo ngành

Theo báo cáo hợp nhất nhất năm 2007 có một số nét nổi bật: Dư nợ của các ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, chế biến, thủy sản  xây dựng…. có xu hướng giảm mạnh cụ thể như sau nông nghiệp và lâm nghiệp (từ 214  giảm xuống 51 tỷ), thủy sản (150 tỷ xuống 105 tỷ), công nghiệp chế biến giảm mạnh nhất từ (1089 tỷ xuống 6 tỷ), xây dựng (564 tỷ xuống 354 tỷ), thương nghiệp: sửa chữa xe có động cơ , mô tô, xe máy, đồ dung cá nhân và gia định cũng thuộc nhóm giảm mạnh nhất (3495 tỷ xuống 27 tỷ) vận tải kho bãi từ (59 tỷ xuống 424 triệu)…. Trong khi đó các ngành như tài chính, quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng hoạt động văn hóa thể thao, y tế và hoạt động cứu trợ xã hội đều có xu hướng tăng mạnh cụ thể hoạt động tài chính tăng mạnh nhất (205 tỷ lên 9498 tỷ) – điều này cũng dể hiểu do sự bùng nổ và phát triển của thị trường chứng khoán, tốc độ phát triển cao của Viet Nam cùng với đó là sự gia nhập của Việt Nam vào tổ chức thương mại thế giới WTO… quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng: Đảng, đoàn thể, bảo đảm xã hội bắt buộc cũng tăng mạnh từ (108 tỷ lên 4825 tỷ), hoạt động y tế hoạt động cứu trợ xã hội (từ 11 tỷ lên 170 tỷ), hoạt động khách sạn và nhà hang cũng tăng mạnh (104 tỷ lên 475 tỷ)…

      Dự nợ theo ngành tại DongA cho ta thấy một phần sự phát triển của xã hội hiện nay dần có sự chuyển dịch dần sang các ngành dịch vụ, y tế và quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng….

2.2.2. Đánh giá chung về chất lượng cho vay trung và dài hạn tại ngân hàng và biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng

2.2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân

Hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng có sự phát triển manh mẽ cả về quy mô cũng như chất lượng.Cùng với sự phát triển của toàn ngân hàng, hoạt động tín dung trung và dài hạn đã đạt được bước tiến mới góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

Thứ nhất, công tác huy động vốn đã đạt được kết quả đáng khích lệ/Quy mô vốn huy động không ngừng tăng lên với tốc độ cao qua các năm và mặc dù vốn huy động ngắn hạn và trung dài hạn là chủ yếu nhưng với quy mô lớn và ổn định tương đối cao đã tạo cho ngân hàng có một lượng vốn dồi dào để cho vay trung và dài hạn.

Thứ hai, để đạt được mục tiêu hiệu quả kinh tế, an toàn vốn đồng thời thực hiện chủ trương đổi mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhà nước trong đầu tư tín dụng trung và dài hạn ngân hang DongA luôn ưu tiên đối với những dự án đầu tư theo chiều sâu vào những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực có tiềm năng, tránh đầu tư tràn lan kém hiệu quả.

Thứ ba, các khoản cho vay trung dài hạn của ngân hang có mức độ an toàn khá cao, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn trong tổng dư nợ khá thấp

Đạt được những kết quả trên là do :

* Ngân hàng luôn giữ vững, củng cố và phát triển quan hệ tín dụng – thanh toán với các khách hàng truyền thống trên cơ sở thẩm định và tư vấn đối với các dự án, phương án kinh doanh có tính khả thi cao, có khả năng thanh toán để thực hiện đầu tư có hiệu quả.

* Luôn chú trọng hoàn thiện các thủ tục, điều kiện, thể lệ, quy trình quản lý tín dụng để nhằm vừa đảm bảo lựa chọn chính xác những khách hàng tốt tránh rủi ro cho ngân hàng, đồng thời vẫn tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng, tráng phiền hà, tiết kiệm thời gian và công sức cho khách hàng.

*Đạt được kết quả trên còn phải kể đến nỗ lực của toàn thể cán bộ nhân viên trong ngân hàng, một mặt chấp hành nghiêm chỉnh quy chế cho vay, mặt khác luôn chủ động sáng tạo trong việc tìm kiếm, phân loại, lựa chọn để tìm ra những khách hàng thực sự có năng lực, có uy tín.Bên cạnh đó thái độ làm việc tinh thần trách nhiệm của cán bộ nhân viên trong cơ quan cũng thường xuyên được chỉnh đốn, nhắc nhở, quán triệt phương châm coi khách hàng là “thượng đế”.Mọi vướng mắc giữa ngân hàng và khách hàng đều được giải quyết nhanh chóng trên nguyên tắc kết hợp hài hoà lợi ích của cả hai bên. Chính nhờ những cố gắng đó mà ngân hàng ngày càng tạo dung được uy tín một cách vững chắc, thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với mình.

2.2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân :

* Những hạn chế :

Thứ nhất, nguồn vốn cho vay trung dài hạn của ngân hang DongA còn chưa thật sự cân đối,chủ yếu là hình thức huy động ngắn hạn và trung hạn còn dài hạn rất ít. Điều này rõ ràng là không có lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng cho vay trung và dài hạn. Nguồn vốn huy động trung hạn và một phần vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng nguồn vốn cho vay trung và dài hạn của ngân hàng.Vì vậy, nếu có những biến động bất thường khiến cho khách hàng ồ ật rút tiền ra cho dù chưa đến hạn thì ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán.

Thứ hai, trong quan hệ với khách hàng mặc dù đã có nhiều cố gắng song ngân hang DongA vẫn chưa thực sự thể hiện được vai trò “người bạn của doanh nghiệp”. Sự giúp đỡ của ngân hàng đối với doanh nghiệp mới chỉ đơn thuần qua các hoạt động như điều chỉnh, gia hạn nợ, cho vay thêm vốn chứ chưa thực hiện được vai trò tư vấn, định hướng giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn gặp phải trong quá trình kinh doanh.

* Nguyên nhân :

–  Nhân tố thuộc về phía Ngân hàng:

Nguồn thông tin,đặc biệt thông tin dự báo dài hạn vĩ mô về định hướng phát triển kinh tế theo nghành, vùng còn thiếu, chưa kịp thời, thiếu cơ sở khi xây dựng các kế hoạch, giải pháp mang tính trung và dài hạn.

  – Những nhân tố khách quan:

Tình trạng yếu kém của các doanh nghiệp trong nước cả về nguồn vốn, lao động, công nghệ và năng lực quản lý, sản phẩm kém sức cạnh tranh; quá trình cổ phần hoá diễn ra chậm, các cơ chế chính sách chưa thể hoàn thiện trong thời gian ngắn. Cơ cấu sản xuất trong từng nghành, từng lĩnh vực chưa chuyển biến kịp thời theo sự biến động nhanh của nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.

Kinh tế thế giới diễn biến không thuận lợi và phức tạp; những khó khăn có thể kéo dài và ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tăng trưởng kinh tế của nước ta.

Môi trường pháp lý cho hoạt đông của ngân hành mặc dù đã được tháo gỡ nhưng nhiều khâu thiếu đồng bộ chưa nhất quán, làm cho nhận thức trong việc chấp hành chế độ, luật pháp cũng chưa thật rõ ràng chuẩn mực nhất là trong vấn đề thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp, cho vay đối với khách hàng có quan hệ với nhiều tổ chức tín dụng. Sức ép cạnh tranh dặc biệt từ các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân nàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh là rất lớn. Diễn biến lãi suất phức tạp khó lường trước được và không thuận lợi cho hoạt động của nhân hàng.

DOWNLOAD

Xem thêm: ==> Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập 

Lời kết: Trên đây Thuctaptotnghiep đã chọn lọc cho các bạn Thực trạng nâng cao tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng từ những bài đạt điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài. Hy vọng với bài viết này có thể giúp cho các bạn có thêm tài liệu tham khảo để hoàn thành thật tốt bài luận của mình. Ngoài ra, trong quá trình làm bài các bạn gặp khó khăn trong vấn đề thiếu tài liệu hoặc không có thời gian viết bài luận cần thuê người viết, các bạn liên hệ qua zalo: 0934.536.149 để được hỗ trợ làm tốt bài luận của mình nhé.

Chúc các bạn hoàn thành thật tốt bài báo cáo thực tập của mình!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *