THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG GỬI TIỀN TIẾT KIỆM TẠI NGÂN HÀNG

Ngân hàng
Rate this post

Dưới đây Thuctaptotnghiep chia sẻ cho các bạn về Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng chọn lọc từ các bài điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài báo cáo thực tập kế toán. Các bạn tham khảo các mẫu dưới đây để hoàn thành thật tốt bài làm của mình nha.

Lưu ý: Trong quá trình làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp, nếu các bạn gặp khó khăn về đề tài hay chưa có công ty thực tập các bạn có thể liên hệ với dịch vụ làm báo cáo thực tập trọn gói qua:

SĐT  / Zalo: https://zalo.me/0934536149


MỤC LỤC

THỰC TRẠNG – PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG GỬI TIỀN TIẾT KIỆM TẠI NGÂN HÀNG NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN BIDV- CHI NHÁNH BẮC SÀI GÒN

2.1. Những quy định chung về huy động tiền gởi tiết kiệm của Ngân Hàng TMCP đầu tư và phát triển BIDV- chi nhánh Bắc Sài Gòn

2.1.1. Những quy định chung

Trên cơ sở các quy định của pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, BIDV có ban hành một số văn bản quy định nguyên tắc chung của hoạt động huy động vốn như sau:

  • Quyết định 1122/QĐ-HĐQT-KHTH ngày 25/7/2011 về ban hành Quy định về mở và sử dụng tài khoản tiền gửi trong hệ thống Ngân Hàng TMCP đầu tư và phát triển BIDV;
  • Quyết định 1441/QĐ-HĐTV-KHTH ngày 30/8/2011 về sửa đổi, bổ sung Quyết định 1122/QĐ-HĐQT-KHTH ngày 25/7/2011 về ban hành Quy định về mở và sử dụng tài khoản tiền gửi trong hệ thống Ngân Hàng TMCP đầu tư và phát triển BIDV;
  • Quyết định 938/QĐ-NHNo-KHTH ngày 16/8/2011 về ban hành danh mục các sản phẩm tiền gửi trong hệ thống Ngân Hàng TMCP đầu tư và phát triển BIDV;
  • Quyết định 797/QĐ-HĐTV-KHNV ngày 17/10/2015 về ban hành Quy định về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống Ngân Hàng TMCP đầu tư và phát triển BIDV;
  • Quyết định số 1225/QĐ/HĐTV-NCPT ngày 16/7/2013 về ban hành Quy định ban hành mẫu đăng ký thông tin, mở và sử dụng dịch vụ trong hệ thống Ngân Hàng TMCP đầu tư và phát triển BIDV.
  • Các văn bản trên quy định chung về nguyên tắc hoạt động huy động vốn, các loại hình tiền gửi, đối tượng áp dụng, thủ tục, quyền và trách nhiệm của ngân hàng cũng như khách hàng.

Ngoài các văn bản quy định chung làm nền tảng cho hoạt động huy động vốn của BIDV, thì BIDV còn có các văn bản quy định đối với từng loại hình tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán có tính chất đặc thù riêng với quy định về thời hạn, phương thức tính lãi riêng của từng loại hình tiền gửi.

Các hình thức huy động vốn bằng nhận tiền gửi của BIDV đang cung cấp cho khách hàng rất đa dạng. Ngoài các hình thức tiền gửi truyền thống và theo quy định của Pháp luật như: Tiền gửi không kỳ hạn, Tiền gửi có kỳ hạn trả lãi sau, Tiền gửi có kỳ hạn trả lãi sau định kỳ, Tiền gửi có kỳ hạn lãi trước, Tiết kiệm không kỳ hạn, Kỳ phiếu trả lãi trước toàn bộ, Kỳ phiếu trả lãi sau toàn bộ, Chứng chỉ tiền gửi ngắn/dài hạn, Tín phiếu, BIDV còn triển khai nhiều loại hình tiền gửi mới, linh hoạt về cách tính lãi và thời hạn, thời gian nhập gốc lãi như: Tiền gửi có kỳ hạn lãi suất gia tăng theo thời gian, Đầu tư tự động, Tiền gửi linh hoạt, Tiết kiệm linh hoạt, Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn lãi suất tự điều chỉnh tăng theo lãi suất cơ bản của NHNN   , Tiền gửi  tiết kiệm có kỳ hạn rút gốc linh hoạt, …( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

Như đã phân tích ở các phần trên, hệ thống pháp luật về huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi chỉ quy định các loại hình tiền gửi truyền thống, có tính chất đặc trưng đơn giản, trong khi với sự phát triển của nền kinh tế, cũng như mức độ cạnh tranh ngày càng lớn giữa các NHTM, rất nhiều loại hình tiền gửi đã được ra đời với nhiều đặc trưng riêng biệt, tính chất phức tạp, đem lại lợi ích nhiều hơn cho khách hàng. BIDV có sản phẩm Đầu tư tự động thực chất là tài khoản NOW như đã nói ở phần trên, theo đó phương thức hoạt động là BIDV và khách hàng thỏa thuận một hạn mức cố định cho tài khoản thanh toán của khách hàng, khi số dư tài khoản vượt quá hạn mức trên, BIDV tự động trích phần số dư lớn hơn hạn mức sang tài khoản đầu tư và khách hàng được hưởng lãi suất đầu tư đối với khoản tiền dôi ra này. Hay loại hình Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn lãi suất tự điều chỉnh tăng theo lãi suất cơ bản của NHNN, theo đó khi NHNN có sự thay đổi về mức lãi suất trần cơ bản mà cao hơn mức lãi suất tại thời điểm khách hàng mở tiết kiệm, thì BIDV sẽ tính lãi suất của khoản tiền gửi đó theo mức lãi suất mới nhằm đảm bảo lợi ích cho khách hàng, tránh được tình trạng khách hàng tất toán sổ tiết kiệm và lại gửi tiết kiệm mới theo mức lãi suất mới. Những sản phẩm tiền gửi nêu trên đều được nghiên cứu và áp dụng nhằm thu hút khách hàng, đem lại lợi ích kinh tế cũng như tiện lợi tối đa cho khách hàng, tăng nguồn vốn cho BIDV.

Tuy nhiên, với thực tế về quy định của pháp luật về các loại hình tiền gửi không bao quát được hết những hình thức tiền gửi như trên. Đây là một bất cập rất lớn cho hoạt động huy động vốn của BIDV nói riêng và các NHTM nói chung.

2.1.2. Các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm tại chi nhánh:

2.1.2.1. Những sản phẩm Tiền gửi tiết kiệm giống các ngân hàng khác:

  • Hai sản phẩm Tiền gửi tiết kiệm truyền thống của tất cả các NHTM là: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng đồng nội tệ (VND) và ngoại tệ,
  • Tiết kiệm bậc thang (VietinBank, LienVietPostBank, SaigonBank, SHB,..)
  • Tiết kiệm gửi góp (VietinBank, EximBank, MaritimeBank, BacABank,…)

2.1.2.2.  Những sản phẩm Tiền gửi tiết kiệm đặc thù của chi nhánh:

  • – Tiết kiệm Học đường: Đây là hình thức gửi tiền tiết kiệm trung – dài hạn (kỳ hạn từ 02 đến 18 năm), trong đó khách hàng định kỳ gửi một số tiền nhất đinh trong một thời hạn nhất định để hưởng lãi và hướng tới mục tiêu tích lũy dài hạn cho nhu cầu học tập của khách hàng hoặc người thân trong tương lai – Số tiền tiết kiệm gửi góp, số kỳ gửi góp (số tháng) và số tiền gửi góp mỗi định kỳ cố định và được xác định ngay khi mở tài khoản.
  • Lãi suất áp dụng: lãi suất thả nổi cộng với lãi suất thưởng gia tăng theo năm.
  • Lãi suất thả nổi là lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng trả lãi cuối kỳ, được điều chỉnh phù hợp với lãi suất thị trường.
  • Lãi suất thưởng gia tăng theo năm được tính từ năm thứ 2, mỗi năm gia tăng 0,1%/năm (đối với VND) và 0,05%/năm (đối với USD), tính theo công thức:
  • Lãi suất thưởng năm thứ n = 0,1% x (n – 1)
  • – Tiết kiệm dự thưởng và dự thưởng: Đây là một sản phẩm tiết kiệm mới thu hút khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng cá nhân vào những khoản thời gian nhất định trong năm và có mức sinh lời cao nếu khách hàng trúng thưởng. Khách hàng sẽ nhận được số phiếu dự thưởng tiền gửi tiết kiệm tương ứng với bội số của mức tiền gửi tối thiểu do ngân hàng quy định.

2.2. Phân tích hoạt động huy động tiền gởi tiết kiệm tại Ngân Hàng TMCP đầu tư và phát triển BIDV- chi nhánh Bắc Sài Gòn

2.2.1 Quy mô nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn tiền gởi tiết kiệm   

2.2.1.1 Quy mô nguồn vốn huy động tiền gởi tiết kiệm  

Tiền gửi dân cư chiếm 1 phần quan trọng trọng công tác huy động vốn của NH, nhất là đối với Chi nhánh thì nguồn tiền huy động chủ yếu là từ tiền gửi của dân cư. Phân tích bảng số liệu dưới đây sẽ cho ta thấy rõ hơn điều này.

Năm 2018 vừa qua chi nhánh huy động được tổng cộng 3.320 tỷ đồng từ khu vực dân cư, trong đó lượng TGTK đạt 2.789 tỷ đồng, chiếm hơn 80% lượng TGTK huy động của chi nhánh. Qua đó cho thấy lượng TGTK của chi nhánh vẫn chỉ tập trung chủ yếu vào khu vực dân cư. Trong khi đó lượng tiền gửi thanh toán đạt 531 tỷ đồng. Tuy đạt tốc độ tăng trưởng đến 28,6% so với năm 2017 nhưng lượng TGTT trong dân cư vẫn còn rất thấp. Điều này được giải thích là do các giao dịch thanh toán cá nhân qua NH vẫn chưa nhiều, người dân vẫn còn chưa hiểu rõ và sử dụng các dịch vụ thanh toán của NH. Chi nhánh cần tập trung đẩy mạnh công tác quảng bá, tuyên truyền, phát tờ rơi… để khách hàng hiểu thêm về những ưu điểm của TGTT, qua đó nâng cao lượng tiền gửi huy động.

Trong 3 năm qua, nguồn vốn Tiền gửi tiết kiệm của chi nhánh có nhiều biến động về số tuyệt đối lẫn số tương đối. Tổng vốn TGTK huy động được tăng qua từng năm song tốc độ tăng trưởng không ổn định. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc dự đoán, lên kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng trong những năm tiếp theo.

Năm 2017, huy động TGTK đạt 2.537 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng là 8,4% tức tăng hơn 197 tỷ đồng. Tuy nhiên, con số này đã tăng mạnh vào năm 2018 với giá trị 9,9%, tức tăng hơn 252 tỷ đồng khi đạt 13.320 tỷ đồng. Đến năm 2018 – một năm có nhiều sự kiện quan trọng, nhiều đổi thay và xáo trộn trong hoạt động ngân hàng, TGTK của chi nhánh vẫn đạt được một kết quả khả quan.( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

Hiện nay NH đang huy động tiền gửi tiết kiệm dưới 2 hình thức: có kỳ hạn và không kỳ hạn.

  • Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: có nhiều hình thức
  • – Tiền gửi tiết kiệm nhận lãi cuối kỳ.
  • – Tiền gửi tiết kiệm nhận lãi hàng tháng.
  • – Tiền gửi tiết kiệm nhận lãi hàng quý.
  • Tổ chức huy động
  • NH tổ chức huy động tiền gửi tiết kiệm từ các cá nhân, với nhiều hình thức quảng cáo như trên truyền hình, radio, poster…
  • NH nhận tiền gửi tiết kiệm bằng tiền mặt như VNĐ, USD.
  • Huy động từ tài khoản của khách hàng chuyển qua gửi tiết kiệm.

Xem thêm: Đề cương hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng

2.2.1.2. Cơ cấu nguồn vốn huy động tiền gởi tiết kiệm

Biến động của tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền huy động

Bên cạnh việc huy động TGTK bằng VNĐ, NH cũng thực hiện huy động TGTK bằng ngoại tệ. Dựa vào bảng số liệu trên ta thấy: năm 2017, lượng ngoại tệ huy động được chiếm khoảng 27%/ tổng số TGTK huy động được. Năm 2018 lượng ngoại tệ huy động được đạt 837 tỷ đồng, chiếm đến 30% trong tổng vốn huy động, tăng đến 22,1% so với năm ngoái. Điều này có thể giải thích là do năm vừa qua tỷ giá ngoại tệ đã có sự biến động mạnh làm đồng VN mất giá so với đồng ngoại tệ, dẫn đến lượng tiền gửi bằng VNĐ chỉ tăng 5.4%, đạt 1.952 tỷ so với 1.852 tỷ năm 2017.

  1. Biến động của tiền gửi tiết kiệm theo thời gian gửi

Nguồn vốn huy động từ NH không phải bao giờ nó cũng đều đều với một mức nhất định mà nó cũng biến động theo chu kì. Thông thường, lượng TGTK thường tăng cao vào những tháng đầu năm, những tháng giữa năm lượng TGTK có dấu hiệu chững lại và tăng dần vào những tháng cuối năm. Qua bảng diễn biến nguồn TGTK theo thời gian tại BIDV Bắc Sài Gòn ta sẽ thấy rõ tính chất chu kì này hơn.

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn không những chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ mà còn tăng giảm thất thường, giảm mạnh nhất vào năm 2018 (giảm đến 45%, tương ứng với hơn 2tỷ đồng khi chỉ đạt 2.79  tỷ đồng)

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn biến động cùng chiều tốc độ tăng trưởng với tổng TGTK: tăng mạnh vào năm 2018, giảm vào năm 2017. Như vậy, biến động của TGTK chịu ảnh hưởng từ sự biến động của cả TGTK có kỳ hạn lẫn TGTK khác. Cụ thể, năm 2017, do TGTK khác với quy mô không nhỏ có tốc độ tăng trưởng âm đã làm tốc độ tăng trưởng của tổng vốn TGTK chậm lại. Đến năm 2018, khi mà tốc độ tăng trưởng của TGTK có kỳ hạn chậm lại, chính tốc độ tăng trưởng cao của TGTK khác đã một phần làm tăng tốc độ tăng trưởng của tổng vốn TGTK.( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

Theo bảng trên, tôi thấy tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu hướng tăng trong giai đoạn 2016 – 2018, từ 61,8% vào năm 2016 đến 71,5% vào năm 2018. Trong đó, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm chủ yếu. Như đã giới thiệu ở chương 1: sản phẩm tiền gửi tiết kiệm được thiết kế dành cho đối tượng khách hàng cá nhân có tiền tạm thời nhàn rỗi, được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời là chủ yếu, do đó khách hàng thường chọn hình thức TGTK có kỳ hạn để hưởng lãi suất cao hơn nhiều so với TGTK không kỳ hạn. Đó là lý do mà tỷ trọng của TGTK không kỳ hạn thường rất thấp, chiếm dưới 1% trên tổng vốn TGTK huy động. Mặc khác, để chủ động hơn trong việc sử dụng khoản tiền này, đảm bảo an toàn trong giai đoạn nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng còn nhiều bất ổn cùng với cuộc chạy đua lãi suất ngắn hạn diễn ra hết sức sôi nổi giữa các ngân hàng, các chương trình huy động TGTK dự thưởng ngắn hạn,… khiến khách hàng lựa chọn TGTK có kỳ hạn dưới 12 tháng nhiều hơn. Điều này mang lại một khó khăn trong sử dụng vốn trung và dài hạn của ngân hàng khi mà tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn thường cao hơn ngắn hạn (khoảng 10%). Việc phải “lấy ngắn nuôi dài” tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên việc TGTK có kỳ hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất là một thuận lợi cho ngân hàng khi đây là một nguồn vốn có tính ổn định cao, dễ dàng trong việc lên kế hoạch sử dụng hơn.

Bên cạnh đó, TGTK khác như tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm học đường, tiết kiệm bậc thang,… cũng chiếm một tỷ trọng không nhỏ chứng tỏ việc đa dạng hóa các sản phẩm TGTK nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường là một chính sách đúng đắn. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cũng như sức hút của các sản phẩm này lại có xu hướng giảm, từ chiếm 38% vào năm 2016 giảm xuống còn 28,4% vào năm 2018. Bên cạnh đó, việc sản phẩm tiết kiệm bậc thang chiếm trên 95% tổng vốn TGTK khác chứng tỏ các sản phẩm TGTK khác như tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm học đường, tiết kiệm dự thưởng,… chưa thu hút được sự quan tâm từ phía khách hàng. Đòi hỏi phía Ngân hàng phải nghiên cứu, tung ra các sản phẩm mới, cải tiến hoặc thay thế các sản phẩm có quy mô huy động thấp sau một thời gian dài.

2.2.2 Chi phí huy động vốn tiền gởi tiết kiệm.

Chỉ tiêu lãi suất huy động vốn tiền gửi tiết kiệm bình quân là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng đánh giá hiệu quả nghiệp vụ huy động vốn Tiền gửi tiết kiệm.( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

Để hiểu rõ hơn về sự biến động lãi suất huy động TGTK bình quân của chi nhánh, tôi tiến hành tìm hiểu về tình hình lãi suất huy động TGTK trong 3 năm từ năm 2016 đến năm 2018.

Cuối tháng 3/2016, NHNN Việt Nam công bố lãi suất cơ bản vẫn giữ ở mức 8%/năm nên lãi suất huy động từ đầu năm cho đến tận tháng 10 khá ổn định, khoảng 10 – 11%/năm khi mà quy định về lãi suất huy động trần ở mức 10,5%/năm bị dỡ bỏ ngày 14/04. Cuộc chạy đua lãi suất bắt đầu sau khi NHNN cho phép các NHTM được áp dụng lãi suất thả nổi vào đầu tháng 11, nâng lãi suất cơ bản lên 9%/năm, lãi suất huy động đã tăng vọt từ 11 – 11,5%/năm lên đến trên 17%/năm ở một số NHTM. Trước tình hình ngày càng khó kiểm soát, thông tư 30/2016/TT-NHNN ra đời, cho phép các NHTM được tự quyết định lãi suất huy động nội tệ phù hợp căn cứ vào tình hình cung cầu vốn song không được vượt quá 14%/năm. Đến ngày 16/12/2016, lãi suất huy động của ngân hàng ở mức 14%/năm (kỳ hạn 1 tháng, 12 tháng, 12 tháng trở lên) và 13,5% (kỳ hạn 6 tháng).

Năm 2017, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiệm vụ trong bối cảnh kinh tế phục hồi chậm, còn nhiều bất ổn. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11/2017/QH13 nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô với chính sách tiền tệ chặt chẽ. Trong 6 tháng đầu năm, cuộc đua lãi suất vẫn diễn ra một cách ngấm ngầm giữa các ngân hàng, có thời điểm lãi suất huy động của một số ngân hàng lên đến 19 – 20%/năm. Nhưng từ tháng 9, tình hình lãi suất có phần bớt căng thẳng hơn do NHNN áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, xử phạt nặng những ngân hàng huy động vượt quá 14%/năm và có tình trạng thỏa thuận lãi suất ngầm giữa người gửi tiền với ngân hàng. Riêng Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển BIDV chi nhánh tỉnh TTH luôn tuân thủ nghiêm chỉnh chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Thống đốc NHNN, lãi suất huy động trong năm hầu như không thay đổi, giữ ở mức cố định là 14%/năm.

Lãi suất huy động giảm được xem là một điểm sáng trong bức tranh màu xám của ngành Ngân hàng năm 2018 khi mà tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong 20 năm, nợ xấu tăng vọt, lợi nhuận sụt giảm, 9 ngân hàng yếu kém buộc phải tái cơ cấu,.. Việc NHNN liên tục ra những thông tư quy định mức lãi suất huy động trần đã ảnh hưởng rất lớn đến biến động lãi suất của ngân hàng trong năm nay với xu hướng giảm trong 6 tháng đầu năm và giữ ổn định ở mức 9%/năm trong 6 tháng còn lại. Bắt đầu là thông tư 05/2018/TT-NHNN có hiệu lực ngày, 13/03/2018 v/v áp dụng lãi suất tối đa đối với tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng trở lên là 13%. Đến ngày 11/04/2018, NHNN ra thông tư số 08/2018/TT-NHNN quy định giảm mức lãi suất này xuống còn 12% và xuống còn 11% theo thông tư số 17/2018/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 28/05/2018. Chưa dừng lại, NHNN tiếp tục ra thông tư số 19/2018/TT-NHNN vào ngày 08/06/2018 v/v giảm lãi suất áp dụng tối đa với tiền gửi không kỳ hạn là 2%/năm và có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 9%/năm. Ngân hàng đã giảm lãi suất huy động theo đúng lộ trình trên và kết thúc năm 2018 với lãi suất huy động của ngân hàng là 8%/năm (kỳ hạn 1 tháng, 6 tháng) và 9,5 %/năm (kỳ hạn từ 12 tháng trở lên) vào ngày 24/12/2018.

Tình hình lãi suất giai đoạn 2016 – 2018 một phần nào đã giải thích được sự biến động lãi suất huy động TGTK bình quân của ngân hàng: giảm trong 3 năm đầu, tăng trong năm 2017 và giảm trở lại vào năm 2018. Nhìn chung, chỉ tiêu này có xu hướng giảm khi tổng vốn TGTK tăng là một dấu hiệu tích cực, chứng tỏ khả năng quản lý chi phí của ngân hàng khá tốt.

2.2.3 Sự phù hợp giữa huy động và sử dụng vốn tiền gởi tiết kiệm

Tôi sử dụng chỉ tiêu Dư nợ bình quân / TGTK bình quân để xem xét sự phù hợp giữ nghiệp vụ huy động vốn TGTK và nghiệp vụ sử dụng vốn (Do số liệu Dư nợ và TGTK huy động được đều là những số liệu thời điểm vào 31/12 mỗi năm nên tôi tính toán và sử dụng số liệu bình quân).

Dựa vào bảng số liệu trên, tôi thấy tỷ lệ Dư nợ bình quân / TGTK bình quân của ngân hàng rất lớn. Tuy nhiên, Dư nợ là kết quả của việc sử dụng vốn từ tổng nguồn vốn huy động được, trong khi đó TGTK chỉ là một bộ phận trong tổng nguồn vốn cho nên việc tỷ lệ trên rất lớn là một điều hợp lý, chứng tỏ việc so sánh giữa Dư nợ với TGTK không có ý nghĩa về mặt con số và chỉ có thể cho biết một phần nào đó về mức độ hợp lý giữa nghiệp vụ huy động và sử dụng vốn.

Xem thêm: Lời mở đầu hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng

2.3. Đánh giá hoạt động huy động vốn tiền gởi tiết kiệm tại Ngân Hàng TMCP đầu  tư và phát triển BIDV- chi nhánh Bắc Sài Gòn

2.3.1. Những kết quả đạt được 

BIDV Bắc Sài Gòn là một trong những ngân hàng TMCP có lịch sử lâu đời. Với lợi thế như vậy đã góp phần rất lớn trong hoạt động kinh doanh của mình trong thời gian qua đặc biệt là trong lĩnh vực huy động tiền gửi tiết kiệm của dân cư.

Điều này sẽ nhận thấy rõ ràng hơn thông qua kết quả kinh doanh của NH trong thời gian qua. Công tác huy động vốn của NH được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của NH bởi vì NH kinh doanh dựa trên nguyên tắc vay để cho vay.( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

Chiến lược huy động nguồn vốn trong dân cư rất được NH coi trọng vì đây là một nguồn vốn tương đối lớn và ổn định cho NH. Theo thực tế hiện nay nguồn vốn nhàn rỗi từ trong dân còn rất nhiều mà NH chưa khai thác hết được, theo điều tra của Bộ kế hoạch đầu tư và tổng cục thống kê thì phần lớn người dân cất giữ tiền nhàn rỗi của mình bằng cách mua vàng, ngoại tệ cất trữ tại nhà hay họ đầu tư vào bất động sản, với tình hình như vậy thì một bộ phận vốn đã không sử dụng hiệu quả trong khi xã hội rất cần nguồn vốn này.

  Nguồn vốn huy động NH ngày càng tăng theo nhu cầu của xã hội và trong thời gian qua NH đã có kế hoạch sử dụng nguồn vốn rất tốt và mang lại nhiều hiệu quả lớn cho ngân hàng.

BIDV Bắc Sài Gòn hiện nay địa điểm rất thuận tiện, nằm ở trung tâm thành phố. Điều này rất thuận tiện cho người đến gửi tiền. Bên cạnh đó thì NH cũng đưa ra nhiều hình thức huy động vốn hết sức phong phú đa dạng để cho KH chọn lựa. Trong thời gian qua với sự ra đời của sản phẩm TGTK dự thưởng, tiết kiệm trả lãi trước, tiết kiệm trả lãi định kì… của BIDV Bắc Sài Gòn đã thu hút được một lượng lớn KH sử dụng các sản phẩm tiền gửi này. Với sự đa dạng về sản phẩm tiền gửi như vậy đã góp mang lại cho NH nhiều thuận lợi trong việc thu hút nguồn vốn từ công chúng, và đồng thời cũng tăng cường khả năng cạnh tranh của NH trong việc huy động nguồn tiền tiết kiệm so với các NH khác trên cùng địa bàn thành phố.

  Ngoài ra, với chủ trương mở cửa hội nhập kinh tế của đất nước, NH cũng đã từng bước hiện đại hoá công nghệ NH, tăng cường cung cấp các dịch vụ và các sản phẩm NH hiện đại đáp ứng yêu cầu của xã hội ngày càng cao. Vì vậy mà hai năm qua KH đến giao dịch với NH ngày càng tăng lên rất nhiều. Đặc biệt với khả năng làm việc làm đầy kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên NH đã tạo được ấn tượng rất tốt cho KH khi đến giao dịch. Với sự nổ lực trong hoạt động kinh doanh NH đã thu được một kết quả rất tốt trong năm qua.

2.3.2. Một số tồn tại và nguyên nhân 

  Mặc dù trong thời gian qua NH đã thực hiện tốt công tác huy động vốn của mình, nhưng vẫn không tránh khỏi những vấn đề còn hạn chế mà chưa khắc phục kịp thời. Để công tác huy động TGTK tại NH trong thời gian tới được hoàn thiện hơn thì NH cần có những biện pháp thích hợp để nhanh chóng khắc phục được những hạn chế mà NH đang gặp phải. Trước hết ta sẽ xem xét qua một số những vấn đề còn hạn chế trong công tác huy động TGTK tại BIDV Bắc Sài Gòn trong thời gian qua:( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

   Công tác quảng cáo tiếp thị về NH. Mặc dù NH đã đưa ra nhiều hình thức huy động TGTK đến với KH nhưng đã chưa chú ý đến công tác quảng cáo tiếp thị quảng cáo. Cho nên nhiều KH vẫn chưa biết đầy đủ về các sản phẩm tiền gửi hiện có tại NH, do đó họ thường sử dụng các hình thức gửi tiền truyền thống là chủ yếu. Chính điều này đã gây nên một sự chênh lệch lớn về lượng tiền gửi trong cơ cấu tiền gửi. Như chúng ta đã biết để cho một sản phẩm mới thì NH phải tốn thời gian cũng như chi phí, nhưng đến khi ra đời lại không được KH hưởng ứng thì điều này sẽ gây nên một sự lãng phí rất lớn cho NH, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh NH.

Chính sách thu hút KH: NH tăng cường chính sách ưu đãi cũng như có các dịch vụ chăm sóc KH sau khi họ đến giao dịch vơí NH. Hiện nay sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt giữa các NH trên địa bàn, ngoài sự cạnh tranh bằng công cụ lãi suất ra các NH sẽ dùng chính sách ưu đãi KH để giành KH về mình.

Thiết lập mối quan hệ với KH: chưa có sự chủ động giao dịch giữa NH với công chúng, NH thiếu một lực lượng chuyên đảm trách công việc tư vấn truyền thông về NH đến với công chúng, vì thế mà NH vẫn chưa khai thác một cách triệt để nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư.

Trong thời gian tới NH cần tiếp tục có những kế hoạch cụ thể để nhanh chóng giải quyết một số vấn đề hạn chế mà NH còn gặp phải trong công tác huy động vốn của mình. Qua đó góp phần hoàn thiện công tác này và đồng thời nâng cao khả năng thu hút nguồn tiền tiết kiệm tại NH đáp ứng nhu cầu vốn cho xã hội.

2.3.3. Thuận lợi và khó khăn của hoạt động huy động tiền gởi tiết kiệm tại chi nhánh…

Những thuận lợi:

  *Môi trường hoạt động kinh doanh:

  Việt Nam là một trong những quốc gia có môi trường kinh tế chính trị tương đối ổn định, vì vậy có thể nói Việt Nam có môi trường kinh doanh tương đối an toàn cho các thành phần kinh tế khi tham gia vào nền kinh tế. Đây là lợi thế giúp cho các nhà kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoaì yên tâm khi hoạt động tại Việt Nam.

Đặc biệt dưới sự lãnh đạo của chính quyền tỉnh đã tăng cường phối hơp với các cơ quan ban ngành có liên quan để quản lý các hoạt động kinh tế của tỉnh chống gian lận thương mại, trốn thuế, buôn lậu…chính điều đó đã tạo môi trường hoạt động và cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp hoạt động, từ đó tạo điều kiện cho NH trong việc thu hồi nợ, cho vay cũng như công tác huy động tiền gửi. Qua đó có thể khẳng định được rằng BIDV Bắc Sài Gòn là một trong những NH được hoạt động trong môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi về nhiều mặt. Vì thế nó đã góp phần rất lớn trong việc tạo niềm tin của KH vào hoạt động kinh doanh của NH.

*Về thông tin đại chúng: BIDV Bắc Sài Gòn nằm trên khu vực là đầu mối thông tin từ nhiều nơi và đây là một khu vực rất nhạy cảm về thông tin. Vì vậy đây cũng được xem là một lợi thế rất lớn cho NH trong công tác tuyên truyền quảng cáo thương hiệu của mình đến với công chúng đồng thời cũng nhanh chóng nắm bắt được thông tin từ KH để từ đó NH nhanh chóng có chính sách điều chỉnh hợp lý.

 *Uy tín của NH: trải qua một thời gian hoạt động danh tiếng của NH cũng được nhiều người biết đến. Uy tín của NH là một điều không thể tự nhiên mà có được mà nó phải trải qua một thời gian dài song hành cùng với sự phát triển của xã hội và của cả người dân trên địa bàn tỉnh. Đối với BIDV thì uy tín của NH ngày càng được khẳng định thông qua sự lớn mạnh của NH trước các đối thủ cạnh tranh trên cùng địa bàn tỉnh.

  *Lượng khách hàng đến với ngân hàng:

   Cho đến nay thì BIDV Bắc Sài Gòn đã có một lượng khách hàng truyền thống khá ổn định, ngoài ra thì NH còn tạo được nhiều mối quan hệ với một lượng khách hàng mới đầy hứa hẹn sẽ trở thành KH truyền thống của NH.( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

   Sự hiểu biết của KH về NH mình là một vấn đề quan trọng, điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp tục giao dịch lần sau với NH. BIDV Bắc Sài Gòn trong thời gian qua đã làm tương đối tốt công tác tư vấn cho KH của mình. Vì thế mà mang lại nhiều thuận lợi cho công tác huy động vốn của NH trong thời gian qua.

2.3.4 Những khó khăn mà NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Sài Gòn còn vướng mắc:

 Đối thủ cạnh tranh:

  Hoạt động kinh doanh của BIDV Bắc Sài Gòn được thực hiện trong một môi trường cạnh tranh hết sức gay gắt, với một địa bàn nhỏ như vậy mà có rất nhiều NHTM cùng tồn tại. Vì thế làm cho thị phần TGTK của NH bị ngày càng giảm đi vì phải san sẻ cho các NH khác. Ngoài với sự cạnh tranh gay gắt giữa các NH với nhau trên địa bàn đã tạo cho BIDV Bắc Sài Gòn không ít những khó khăn trong hoạt động huy động vốn kinh doanh của NH.

Hiện nay qua khảo sát cho thấy trên địa bàn tỉnh nguồn TGTK vẫn là nguồn vốn chủ yếu cho các NH họat động. Mỗi một NH với cách thức huy động riêng của mình để có được nguồn vốn này. Các NH cạnh tranh rất gay gắt với nhau trong hoạt động huy động vốn. Trước những áp lực như vậy đã tạo cho BIDV Bắc Sài Gòn trong thời gian qua gặp không ít khó khăn trong việc huy động TGTK.

Xem thêm: Cơ sở lý luận hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng


THỰC TRẠNG – PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG GỬI TIỀN TIẾT KIỆM TẠI NGÂN HÀNG

2.1.Giới thiệu về Ngân hàng Đông Á, chi nhánh Quận 6, PGD Bình Tây.

2.1.1.Lịch sử hình thành và quá trình phát triển

Được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/07/1992 với số vốn điều lệ 20 tỉ đồng (trong đó có 20% vốn của các pháp nhân) và 3 phòng nghiệp vụ chính là tín dụng, ngân quỹ và kinh doanh. Với tầm nhìn, mục tiêu, chiến lược hướng đến lĩnh vực bán lẻ, ngân hàng TMCP Đông Á đã khẳng định vị trí hàng đầu về việc phát triển ứng dụng công nghệ không ngừng của mình trong hệ thống Ngân hàng TMCP tại Việt Nam.

Thế mạnh công nghệ của Đông Á chính là việc sở hữu một hệ thống hạ tầng ứng dụng tốt, một đội ngũ kỹ thuật chuyên môn cao để đảm bảo hoạt động của hệ thống công nghệ và nhanh chóng cho ra đời các sản phẩm dịch vụ tiện ích có hàm lượng công nghệ cao, từ đó nâng cao khả năng phục vụ khách hàng, tạo lợi thế cạnh tranh và khác biệt cho Đông Á.

Trải qua gần 24 năm hoạt động, những thành tựu vượt bậc của Ngân hàng TMCP Đông Á được thể hiện qua những con số ấn tượng:

  • 000 tỷ đồng là số vốn điều lệ tính đến 31.12.2015
  • 258 tỷ đồng: tổng tài sản đến cuối năm 2015
  • 9 Khối 36 phòng ban trung tâm thuộc hội sở cùng 3 công ty thành viên và 223 chi nhánh, phòng giao dịch trên toàn quốc
  • 183 người: tổng số cán bộ, nhân viên
  • 112 lượt CBNV: được đào tạo kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ phát triển kinh doanh, vận hành và các nghiệp vụ liên quan
  • Trên 7,5 triệu khách hàng Cá nhân và Doanh nghiệp
  • 1,6 tỷ USD doanh số chi trả Kiều hối.( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

Mạng lưới hoạt động

  • 1 Hội sở, 1 Sở giao dịch, 150 chi nhánh và phòng giao dịch
  • 900 máy giao dịch tự động – ATM
  • 1500 điểm chấp nhận thanh toán bằng Thẻ – POS

2.1.2.Tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi

  • Tầm nhìn: Trở thành ngân hàng bán lẻ tốt nhất và hướng đến một Tập đoàn Tài chính Ngân hàng hàng đầu Việt Nam – Vươn ra quốc tế, được khách hàng mến yêu, tín nhiệm và giới thiệu.
  • Sứ mệnh: Bằng trách nhiệm, niềm đam mê và trí tuệ, chúng ta cùng nhau kiến tạo nên những điều kiện hợp tác hấp dẫn khách hàng, đối tác, cổ đông, cộng sự và cộng đồng.
  • Giá trị cốt lõi: Chúng tôi xác định giá trị cốt lõi của Ngân hàng TMCP Đông Á chính là Niềm tin – Trách nhiệm – Đoàn kết – Nhân văn – Tuân Thủ – Nghiêm Chính – Đồng hành – Sáng tạo.

2.2. Thực trạng huy động vốn tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Đông Á, chi nhánh Quận 6, PGD Bình Tây.

2.2.1. Thủ tục gửi tiết kiệm

2.2.1.1.Gửi lần đầu tiên

  • Người mở phải trực tiếp thực hiện giao dịch gửi tiền lần đầu tại Đông Á Bank, không chấp nhận trường hợp ủy quyền để mở thẻ tiết kiệm.
  • Mở tiết kiệm phải xuất trình các giấy tờ sau:

Đối với người mở tiết kiệm là cá nhân có quốc tịch Việt Nam phải xuất trình:

  • Chứng minh nhân dân (CMND)/ thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực.( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

Đối với người mở tiết kiệm là cá nhân có quốc tịch nước ngoài phải xuất trình:

  • Hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực (đối với trường hợp xuất nhập cảnh được miễn thị thực).
  • Hộ chiếu kèm thị thực còn thời hạn hiệu lực (đối với trường hợp xuất nhập cảnh có thị thực).
  • Đồng thời cung cấp thêm giấy tờ chứng minh khách hàng có nơi cư trú rõ ràng tại Việt Nam và tại nước ngoài.
  • Tại Việt Nam: Giấy tờ về nơi cư trú (thẻ thường trú, giấy xác nhận tạm trú) hoặc giấy phép lao động, văn bản của 01 tổ chức bất kỳ thành lập tại Việt Nam về địa chỉ cư trú của khách hàng
  • Tại nước ngoài: cung cấp một trong các loại giấy tờ sau giấy tờ do cơ quan nhà nước ở nước ngoài cấp (Thẻ cư trú, giấy phép lao động, giấy phép lái xe, giấy chứng nhận sở hữu nhà ở /xe /tài sản khác, thẻ bảo hiểm xã hội)

Đối với người mở tiết kiệm là người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật phải xuất trình các giấy tờ sau:

  • Giấy tờ theo tiết (a) hoặc tiết (b)
  • Các giấy tờ chứng minh tư cách của người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ

Đối với cá nhân từ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nhưng có tài sản riêng phải xuất trình các giấy tờ sau:

  • Giấy tờ theo tiết (a) hoặc tiết (b)
  • Giấy tờ chứng minh số tiền gửi tiết kiệm tại Đông Á Bank là tài sản riêng của mình. Ví dụ: giấy tờ thừa kế, tặng cho có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, xác nhận của cha ruột, cha nuôi hoặc mẹ ruột, mẹ nuôi đối với số tiền mở thẻ là tài sản riêng của con (xác nhận này có thể lập tại Đông Á Bank hoặc tại cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực) hoặc các giấy tờ hợp pháp khác chứng minh tài sản gửi vào Đông Á Bank là tài sản của mình.

Xem thêm: Kiến nghị – Giải pháp hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng

Người mở tiết kiệm đăng ký trực tiếp và lưu chữ ký theo quy định

  1. Đối với người mở tiết kiệm là chủ sở hữu, đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm lưu chữ ký của chính chủ sở hữu, đồng chủ sở hữu.
  2. Đối với người mở tiết kiệm là người đại diện theo pháp luật: lưu chữ lý mẫu của người đại diện theo pháp luật( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )
  3. Đối với người mở tiết kiệm là người không thể viết được dưới bất kỳ hình thức nào thì Đông Á Bank hướng dẫn ký dấu nhận biêt riêng để thay cho chữ ký mẫu

Khi có bất kỳ thay đổi nào so với thông tin đã đăng ký, người mở tiết kiệm phải trực tiếp đến Đông Á Bank để làm thủ tục thay đổi thông tin

Trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, người đại diện theo pháp luật đã đăng ký tại DongA Bank hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến DongA Bank để lập văn bản thông báo và thay đổi.

Người gửi tiền phải cung cấp và kê khai các thông tin nhận biết khách hàng trên các biểu mẫu DongA Bank yêu cầu, phù hợp theo Quy định phòng, chống rữa tiền.

DongA Bank thực hiện các thủ tục nhận tiền gửi tiết kiệm, mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm và cấp thẻ tiết kiệm cho người mở tài khoản lần đầu sau khi đã thực hiện các thủ tục nêu trên.

2.2.1.2.Thủ tục các lần gửi tiền tiếp theo

Thủ tục này áp dụng cho người mở tài khoản có nhu cầu gửi thêm tiền tiết kiệm vào thẻ tiết kiệm đã được mở tại DongA Bank.

Trường hợp gửi thêm tiền tiết kiệm, người gửi tiền được gửi tại bất kỳ Đơn vị của DongA Bank.

Người mở tài khoản có thể trực tiếp gửi tiền hoặc gửi thông qua người khác. Trường hợp này, người gửi phải làm các thủ tục sau:

  1. Ghi đầy đủ thông tin của chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu trên các chứng từ gửi tiền tiết kiệm theo quy định của DongA Bank.
  2. Ghi nhận gửi tiền theo ủy quyền và ký tên thay chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu trên các chứng từ gửi tiền tiết kiệm.
  3. Người ủy quyền phải tự chịu trách nhiệm về việc ủy quyền của mình, người được ủy quyền tự chịu trách nhiệm thực hiện giao dịch gửi tiền.
  4. Phải xuất trình giấy tờ theo Tiết (a) hoặc Tiết (b) điểm 1.1.2, văn bản ủy quyền hợp lệ, hợp pháp.
  5. Phải xuất trình thẻ tiết kiệm trong trường hợp thông qua người khác.

Khi trực tiếp gửi tiền mặt tại DongA Bank, người gửi tiền phải xuất trình thẻ tiết kiệm cho mọi trường hợp gửi thêm tiền, ngoại trừ trường hợp mất thẻ tiết kiệm. Trong trường hợp gửi tiền bằng hình thức khác thực hiện theo quy định của DongA Bank từng thời kỳ.( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

2.2.2.Tình hình huy động vốn tiền gửi tiết kiệm theo đối tượng.

Hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm theo đối tượng khách hàng luôn là một trong những hoạt động cơ bản và chủ yếu của DongaBank- PGD Bình Tây. Đối với nghiệp vụ huy động vốn, việc xác định các nguồn hình thành nên nguồn vốn một cách chính xác, đầy đủ là điều vô cùng quan trọng. Phân loại nguồn vốn huy động theo đối tượng giúp các ngân hàng thương mại chủ động đưa ra những kế hoạch thúc đẩy khách hàng cá nhân hay khách hàng doanh nghiệp để phục vụ cho công tác huy động vốn. Khi xác định rõ đối tượng huy động, ngân hàng sẽ điều tiết được lượng vốn, đưa ra chính sách huy động vốn phù hợp và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Thông qua việc áp dụng nhiều sản phẩm đa dạng kết hợp với mức lãi suất linh hoạt, hấp dẫn, tổng nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm đã không ngừng tăng lên do phòng giao dịch đã đẩy mạnh công tác quản lý được thể hiện cụ thể qua bảng 2.2 và biểu đồ 2.3 cho thấy tình hình huy động vốn tiền gửi tiết kiệm theo đối tượng tại Ngân hàng Đông Á, chi nhánh Quận 6, PGD Bình Tây trong giai đoạn 2017 đến 2019.

Hiện nay tại các ngân hàng thương mại, cơ cấu nguồn vốn phân theo đối tượng khá đa dạng và phong phú thường tập trung chủ yếu hai phân đoạn là cá nhân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động của DongaBank – PGD Bình Tây chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân, đây được xem là công cụ huy động vốn truyền thống của các ngân hàng thương mại, thường chiếm tỷ trọng lớn và khá ổn định trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Đối với nghiệp vụ huy động vốn, việc xác định nguồn hình thành nên nguồn vốn một cách chính xác, đầy đủ là điều vô cùng quan trọng. Việc phân loại nguồn vốn huy động theo đối tượng giúp cho ngân hàng có thể đề ra những kế hoạch cụ thể nhằm thúc đẩy sự phát triển khách hàng, phục vụ tốt trong công tác huy động vốn. Với cương vị là một ngân hàng có thương hiệu và uy tín trên thị trường, đặc biệt trong hoạt động huy động vốn, Ngân hàng Đông Á, chi nhánh Quận 6, PGD Bình Tây luôn đảm bảo phục vụ khách hàng với thái độ chuyên nghiệp và mức lãi suất hấp dẫn.

2.2.3.Tình hình huy động vốn tiền gửi tiết kiệm theo kỳ hạn.

2.2.3.1. Các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm liên quan:

Huy động vốn tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính đặc thù riêng vốn có của ngân hàng thương mại. Do nhu cầu và động thái gửi tiền của ngân hàng rất đa dạng và khác nhau nên để thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền, ngân hàng thương mại phải thiết kế và phát triển nhiều loại hình tiền gửi khác nhau. Để đáp ứng đa dạng nhất nhu cầu gửi tiền của các khách hàng, hiện nay DongaBank đã triển khai rất nhiều các sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn khác nhau:

Sản phẩm tiết kiệm không kỳ hạn:

Sản phẩm được áp dụng cho công dân Việt Nam được gửi tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam (VND) và công dân Việt Nam là người cư trú được gửi tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ (USD, EUR, AUD, CAD, CHF, GBP, JPY, SGD). Gửi tiền theo sản phẩm này, khách hàng có thể được hưởng các chính sách về:

Khách hàng chủ động nộp, rút tiền khi có nhu cầu. Khách hàng có thẻ tiết kiệm để cập nhật số dư và hưởng lãi suất không kỳ hạn theo số dư cuối mỗi ngày. Số tiền mở tối thiểu: 50.000 VND, 50 USD/EUR hoặc ngoại tệ khác tương đương.( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

2.2.3.2.Tình hình huy động vốn tiền gửi tiết kiệm theo kỳ hạn:

Sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn:

Lợi ích của sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn là khách hàng được tham gia nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn và được chủ động chọn loại hình lãi như lãnh lãi trả trước, lãnh lãi hàng tháng, hàng quý hoặc lãnh lãi cuối kỳ, rút trước hạn khi khách hàng có nhu cầu, khách hàng sẽ được hưởng lãi suất không kỳ hạn. Thêm vào đó, khách hàng có thể sử dụng thẻ tiết kiệm để cầm cố vay vốn, chứng minh năng lực tài chính của bản thân. Khi khách hàng tham gia sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn thì khách hàng có thể gửi tiền trong kỳ hạn từ 1 đến 36 tháng, số tiền gửi tối thiểu khách hàng phải gửi từ 50.000 VND hoặc đối với tiền ngoại tệ từ 50 USD/EUR/AUD trở lên với lãi suất hấp dẫn, cố định trong suốt kỳ hạn gửi.

Xem thêm: Lời kết luận hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng

2.3.Đánh giá hiệu quả thực trạng huy động vốn tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Đông Á, chi nhánh Quận 6, PGD Bình Tây.

2.3.1.Kết quả đạt được và nguyên nhân

Huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội từ các tổ chức và cá nhân là một trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại. Một ngân hàng mạnh, phát triển bền vững là một ngân hàng có nguồn vốn ổn định, phát triển và có hiệu quả. Trong đó, hoạt động huy động vốn tạo nên nguồn lực để ngân hàng cho vay và đầu tư. Phòng giao dịch Phú Thọ luôn tập trung quan tâm đến công tác, coi đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực và uy tín của Ngân hàng Đông Á – PGD Bình Tây để tạo điều kiện thuận lợi kinh doanh cho ngân hàng. Hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm nói chung và hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng Đông Á, chi nhánh Quận 6, PGD Bình Tây nói riêng đã đạt được những thành công nhất định, đảm bảo tốt công tác huy động vốn của phòng giao dịch. DongaBank đã trở thành cái tên quen thuộc và chiếm được uy tín của khách hàng trong việc gửi tiền tiết kiệm. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn, ngân hàng đã triển khai và thực hiện được nhiều sản phẩm, hình thức khuyến mãi, dự thưởng linh hoạt và phong phú. Do đó, ngân hàng đã thu hút được lượng vốn huy động đáng kể, lượng vốn có xu hướng tăng trưởng ổn định qua các năm. Với mức lãi suất hấp dẫn kết hợp với hình thức và kỳ hạn đa dạng và phong phú, ngân hàng đã chủ động tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nghiệp vụ tín dụng và đầu tư.

Bên cạnh đó, nhờ làm tốt công tác thu chi và thanh toán nhanh chóng, an toàn, chính xác đă góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển nguồn vốn huy động của phòng giao dịch ngày càng tăng cao. Mặt khác, đội ngũ cán bộ nhân viên ngày một lớn mạnh về số lượng lẫn chất lượng thể hiện qua sự đoàn kết thống nhất và niềm tin vào lãnh đạo. Tuy tuổi đời còn tương đối trẻ nhưng trình độ nghiệp vụ vững chắc, tác phong làm việc chuyên nghiệp, linh hoạt đã tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy quy mô và cơ cấu của nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm ngày càng tăng. Ngoài ra, trong điều kiện nền kinh tế ngày càng hội nhập như hiện nay, việc khách hàng sở hữu và lưu thông tiền tệ ngày càng phổ biến. Nắm bắt được cơ hội đó, ngân hàng đã đưa ra các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm cho phép khách hàng gửi bằng ngoại tệ khác như USD, EUR, AUD,… Từ đó, nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ của ngân hàng được tăng cao, đáp ứng nhu cầu tiết kiệm vừa sinh lời vừa an toàn trong tương lai.( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân:

Bên cạnh những kết quả đã đạt được tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hoạt động của ngân hàng thì cũng tồn tại rất nhiều hạn chế gây ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. DongaBank chi nhánh Quận 6 nói chung và PGD Bình Tây nói riêng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng tại quận 6. Trong quá trình mở cửa hội nhập, các ngân hàng nhà nước và các ngân hàng nước ngoài trong nước chính là đối thủ cạnh tranh không cân sức về cả nhân lực, tài lực và kinh nghiệm. Nếu so về các ngân hàng nhà nước, các đối thủ quan tâm như Vietcombank, Viettinbank, Argibank,… còn đối với các ngân hàng nước ngoài như ngân hàng Shinhan Bank, Standan Charter,… là các đối thủ chính đối với DongaBank. Mặc khác thu nhập của người dân khu vực quận 6 vẫn chưa cao, nên việc giao dịch với ngân hàng chưa được quan tâm đúng mức.

Năm nay, hoạt động kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh cũng như quận 6 còn gặp nhiều khó khăn do đất nước phải đối mặt với đại dịch Corona nên các ngành kinh tế đều bị trì chệ đã tác động rất lớn đến việc gửi tiết kiệm và cho vay của ngân hàng. Điều đó, làm cho người dân e ngại việc đến ngân hàng để giao dịch, từ đó làm giảm sút lợi nhuận của ngân hàng. Việc triển khai giới thiệu sản phẩm dịch vụ gửi tiền còn tốn nhiều thời gian, nhân sự, tài chính,… Sản phẩm của ngân hàng chưa thực sự phát huy tác dụng khi không tạo được sự nổi trội để tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Trong những năm qua, công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại bị mất cân đối về kỳ hạn. Khi ngân hàng huy động những nguồn vốn ngắn hạn vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tín dụng, đầu tư trung và dài hạn làm ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản.

Do nguồn vốn huy động trung và dài hạn không đủ để tài trợ, đáp ứng cho các hoạt động tín dụng trung và dài hạn dẫn tới việc các ngân hàng buộc phải chuyển một phần vốn ngắn hạn sang để đáp ứng cho nhu cầu dài hạn. Khi tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn quá thấp sẽ làm mất cân đối trong tổng nguồn vốn huy động, từ đó dẫn tới sự mất cân đối kỳ hạn vốn của ngân hàng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều ngân hàng hiện nay không thể đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì các doanh nghiệp này vay vốn trung và dài hạn chủ yếu để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Để thu hút được nhiều khách hàng giao dịch, ngân hàng cần đưa ra mức lãi suất hấp dẫn, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ,… để khách hàng thấy được những mặt có lợi của ngân hàng để đến ngân hàng giao dịch. Đối với nguồn vốn từ tiền gửi tiết kiệm cá nhân thì tốc độ tăng trưởng tăng nhanh qua các năm và luôn chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn huy động của ngân hàng. ( Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng )

Do đó, phòng giao dịch cần đưa ra những giải pháp cụ thể để thu hút nguồn vốn dồi dào này. Đầu tiên là đa dạng hóa các hình thức gửi tiền tiết kiệm phù hợp với từng độ tuổi, sở thích, nhu cầu của khách hàng. Thứ hai, đơn giản hóa các thủ tục trong công tác huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm, tránh việc sử dụng nhiều chứng từ, thủ tục rườm rà, tốn nhiều chi phí lẫn công sức của đội ngũ cán bộ nhân viên mà khách hàng vẫn không hài lòng. Sự linh hoạt về kỳ hạn cũng giúp ngân hàng tạo ra sự hấp dẫn dành cho khách hàng. Việc áp dụng các hình thức gửi tiền tiết kiệm với nhiều kỳ hạn khác nhau làm tăng nguồn vốn trung và dài hạn của ngân hàng đồng thời làm tạo điều kiện đa dạng hóa các hình thức sử dụng vốn của ngân hàng.

DOWNLOAD

Xem thêm: ==> Dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập 

Xem thêm: Kho 999+ báo cáo thực tập quản trị nguồn nhân lực

Lời kết: Trên đây Thuctaptotnghiep đã chọn lọc cho các bạn Thực trạng – Phân tích hoạt động gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng từ những bài đạt điểm cao, được đánh giá tốt trong quá trình làm bài. Hy vọng với bài viết này có thể giúp cho các bạn có thêm tài liệu tham khảo để hoàn thành thật tốt bài luận của mình. Ngoài ra, trong quá trình làm bài các bạn gặp khó khăn trong vấn đề thiếu tài liệu hoặc không có thời gian viết bài luận cần thuê người viết, các bạn liên hệ qua zalo: 0934.536.149 để được hỗ trợ làm tốt bài luận của mình nhé.

Chúc các bạn hoàn thành thật tốt bài báo cáo thực tập của mình!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.